Cổ Loa là kinh đô của nhà nước phong kiến Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỉ III TCN và của nhà nước dưới thời Ngô Quyền thế kỷ X sau Công nguyên.. CẤU TRÚC THÀNH Thà
Trang 3GIỚI THIỆU CHUNG
Cổ Loa là một di tích lịch sử nổi tiếng ở huyện Đông Anh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 17 km về hướng Tây Bắc.
Cổ Loa là kinh đô của nhà nước phong kiến Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỉ III TCN và của nhà nước dưới thời Ngô Quyền thế kỷ X sau Công nguyên.
Từ Hà Nội, qua cầu Chương Dương, theo quốc lộ 1A cũ đến cây số 10 là cầu Đuống Qua cầu là thị trấn Yên Viên, rẽ trái vào quốc lộ 3, đi 5km đến ngã rẽ vào Cổ Loa Khoảng cách quốc lộ 3 đến Cổ Loa là 2km
Trang 5CẤU TRÚC THÀNH
Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng, trong
đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền Chu
vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới 2 km² Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ Lũy cao trung bình từ 4 5 m, có chỗ cao đến 8 12 m Chân lũy rộng 20
m-30 m, mặt lũy rộng 6 m-12 m Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối
Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình từ 10m đến 30m, có chỗ còn rộng hơn Các vòng hào đều thông với nhau và thông với sông Hoàng Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định, khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ
Trang 6Thành
ngoại cũng
không có hình
dáng rõ ràng,
dài hơn 8.000m,
cao trung bình
3 m-4 m (có chỗ
tới hơn 8 m).
Thành nội hình
chữ nhật, cao
trung bình 5 m so
với mặt đất, mặt
thành rộng từ
6 m-12 m, chân
rộng từ 20
m-30 m, chu vi
1.650 m và có
một cửa nhìn vào
tòa kiến trúc Ngự
triều di quy
Thành trung là
một vòng thành không có khuôn hình cân xứng, dài 6.500 m, nơi cao nhất là 10 m, mặt thành rộng trung bình 10 m, có năm cửa ở các hướng đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông
ăn thông với sông Hồng
Trang 8ĐỀN THỤC AN DƯƠNG VƯƠNG
Đền thờ An Dương Vương (còn gọi là
đền Thượng) ở trên một quả đồi tương
truyền là cung thất của nhà vua, đất rộng
19.138,6m2 Tại vị trí lối lên cửa giữa
của đền đặt đôi rồng đá, mang phong
cách nghệ thuật thời Lê mạt Trong đền
còn lưu giữ được 5 tấm bia đá và 53 hiện
vật có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học
đặc sắc
Kiến trúc đền gồm: tiền tế - 3 gian, 2
chái, hệ khung kết cấu gỗ, mái lợp ngói
mũi hài Trên hệ mái đắp các đầu đao
cong, tượng nghê chầu Các bộ vì chính
được làm theo kiểu giá chiêng, sơn son
thếp vàng, chạm họa tiết “rồng vờn
mây”; trung đường đấu mái liền với hậu
cung, tạo thành dạng thức kiến trúc kiểu
“chuôi vồ”, bên trong đặt tượng An
Dương Vương, bằng đồng, nặng khoảng
200kg
2
m2
m2
m
Trang 9ĐỀN THỤC AN DƯƠNG VƯƠNG
Ngay trước đền thờ là một hồ
nước hình bán nguyệt, giữa là
giếng Ngọc – gắn liền với truyền
thuyết về mối tình Mỵ Châu -
Trọng Thủy
Mặt trước đền
Trang 10ĐỀN THỤC AN DƯƠNG VƯƠNG
Bàn thờ An Dương Vương Tượng vua An Dương Vương
Bàn thờ thần Kim
Quy với Nỏ thần Bàn thờ Hoàng Hậu
Trang 11AM MỴ CHÂU
Am Mỵ Châu (am Bà Chúa hay
đền thờ Mỵ Châu): toạ lạc trên
khu vực rộng 925,4m2 Mặt bằng
kiến trúc được bố cục theo dạng
“tiền Nhất, hậu Đinh”, gồm các
tòa tiền tế, trung đường và hậu
cung
Trong căn phòng nhỏ phía sau có
tượng công chúa Mỵ Châu – một
khối đá tự nhiên hình người
không đầu Truyền thuyết kể rằng
xác Mỵ Châu sau khi bị vua cha
chặt đầu đã hóa thành đá và trôi
về bãi Đường Cấm, phía Đông
thành Cổ Loa Dân trong thành
thương cảm đem võng ra cáng
bức tượng đá không đầu về đến
gốc đa thì đứt võng Người dân
bèn lập am thờ Mỵ Châu ngay tại
Trang 12ĐÌNH LÀNG CỔ LOA
Đình Cổ Loa (Ngự Triều Di
Quy): có bố cục mặt bằng nền
hình chữ “Đinh”, gồm đại đình và
hậu cung Đại đình gồm 5 gian, 2
chái, kết cấu khung gỗ, mái lợp
ngói mũi hài, với 4 góc đao cong
vút Các bộ vì nóc được kết cấu
theo kiểu “giá chiêng, chồng
rường”, với 6 hàng chân cột Hậu
cung nối liền với đại đình qua bộ
cửa bức bàn phía dưới và đấu mái
ở phía trên
Theo truyền thuyết thì đó là nền
cũ của điện ngự triều, nơi bá quan
triều hội ngày xưa nên trong đình
còn tấm hoành phi "Ngự triều di
quy”
Trang 14VỀ QUÂN SỰ
độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước
và chống ngoại xâm Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh Nhờ ba vòng hào thông nhau dễ dàng, thủy binh có thể phối hợp cùng bộ binh để vận động trên bộ cũng như trên nước khi tác chiến.
Trang 15VỀ XÃ HỘI
vua, quan, binh lính, thành Cổ Loa là một chứng cứ
về sự phân hóa của xã hội thời ấy Thời kỳ này, vua quan không những đã tách khỏi dân chúng mà còn
phải được bảo vệ chặt chẽ, sống gần như cô lập hẳn với cuộc sống bình thường Xã hội đã có giai cấp rõ ràng và xa hội có sự phân hóa giàu nghèo rõ ràng hơn thời Vua Hùng.
Trang 16VỀ VĂN HÓA
dấu tích, Cổ Loa trở thành một di sản văn hóa, một
bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt Cổ Đá kè chân thành,
gốm rải rìa thành, hào nước quanh co, ụ lũy phức tạp, hỏa hồi chắc chắn và nhất là địa hình hiểm trở ngoằn ngoèo, tất cả những điều làm chứng nghệ thuật và văn hóa thời An Dương Vương Hàng năm, vào ngày 6
tháng giêng âm lịch, cư dân Cổ Loa tổ chức một lễ
trang trọng để tưởng nhớ đến những người xưa đã có công xây thành, và nhất là để ghi ơn An Dương
Vương.
Trang 18KẾT LUẬN
thuộc vào loại độc đáo nhất và cổ xưa nhất trong lich sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ.
công cuộc dựng nước và giữ nước.
kì Văn Lang – Âu Lạc, thành Cổ Loa góp phần gửi cho chúng
ta về một bài học quý báu trong công cuộc dựng nước và giữ nước: Luôn phải đề cao cảnh giác truớc những âm mưu thâm độc của ngoại bang Lúc chúng ta sơ hở, mất ý chí cảnh giác vì tin giặc là lúc chúng ta mất nước