1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN HOA 9

38 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 590,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định hướng này đã được pháp chế hóa trong luật giáo dục: “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng l

Trang 1

ĐỀ TÀI

“ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THCS ”

I Đặt vấn đề:

Đổi mới nền giáo dục là nền tảng của sự phát triển toàn diện đất nước Sự đổi mới nội dung giảng dạy của sách giáo khoa đi đôi với việc đổi mới phương

pháp giảng dạy theo “Hướng tích cực”, là vấn đề trọng tâm đòi hỏi nhà trường

phải tạo ra được những con người lao động có kiến thức khoa học, biết tự chủ,

năng động sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển “Công nghiệp hoá

và hiện đại hoá đất nước”.

Ở thời đại ngày nay giáo dục đứng trước một thực trạng là thời gian học có hạn nhưng kiến thức nhận loại phát triển rất nhanh, từ đó một vấn đề hết sức quan trọng là: Làm thế nào để học sinh có thể tiếp nhận đầy đủ khối lượng tri thức ngày càng tăng của nhân loại trong khi qũy thời gian dành cho dạy và học không thay đổi Để giải quyết vấn đề này thì nền giáo dục phải có biến đổi sâu sắc cả mục đích, nội dung và phương pháp dạy học Trong đó quan trọng hơn là đồi mới phương pháp dạy và học Định hướng công cuộc đổi mới phương pháp

dạy học hiện nay là chuyển từ cách dạy “ thầy truyền thụ, trò tiếp thu” sang việc “ thầy tổ chức các hoạt động dạy học để trò dành lấy kiến thức, tự xây dựng kiến thức cho mình, bồi dưỡng năng lực tự học”.

Định hướng này đã được pháp chế hóa trong luật giáo dục: “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiển, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.

Thực trạng hiện nay ở các trường nói chung thì đa số giáo viên còn nặng về thuyết trình, chỉ chú trọng vào hoàn thành bài giảng, phương pháp dạy học theo

kiểu “ truyền thụ một chiều” mà chưa chú ý đến việc phát huy nội lực của

người học, học sinh chỉ có một nhiệm vụ là tiếp thu một cách thụ động kiến thức

do người thầy truyền cho

Là một giáo viên Hóa học ở trường THCS cụ thể là trường PTDT NT Tây Giang qua nhiều năm công tác giảng dạy bộ môn, bản thân tôi nhận thấy trong quá trình học tập học sinh tỏ ra rất hứng thú và nhớ rất lâu những kiến thức khi chính các em là người khám phá Còn như bắt các em phải ghi nhớ kiến thức một cách thụ động như trên thì gây nên tâm lí ỷ lại, kiến thức dồn nén không được vận dụng dẫn đến tình trạng lười học, chán nản, lực học ngày càng đi xuống

Trang 2

Hơn nữa, Hoá học là một môn học khó đối với học sinh, bộ môn tổng hợp đầy đủ các kiến thức tự nhiên xã hội, thế giới xung quanh, rất là trừu tượng Bên cạnh đó một số em học sinh còn cho rằng đây là một môn học phụ nên các em chưa có ý thức để học tập tốt bộ môn Do đặc trưng của môn học và những quan niệm sai lầm về bộ môn cùng với sự cố gắng chưa cao của giáo viên trực tiếp giảng dạy môn hoá học, dẫn đến kết quả học tập của học sinh về môn Hoá học ở các trường còn thấp Nhưng nếu tạo cho học sinh hứng thú khi học bài trên lớp thì việc học môn hóa học lại trở nên nhẹ nhàng bằng cách cho học sinh nắm chắc các kiến thức cơ bản, sát với thực tế đời sống, sản xuất, đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của nhu cầu lao động sản xuất và tiếp tục học lên cao của học sinh Vì vậy người giáo viên đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong chất lượng giảng dạy nói chung, trong giảng dạy bộ môn Hóa học nói riêng Từ kết quả này lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp thôi thúc tôi phải làm thế nào để nâng cao chất lượng học tập bộ môn Hóa học ở trường THCS

Từ thực tế giảng dạy bộ môn hóa học trong những năm gần đây tôi mạnh dạn trao đổi với đồng chí, đồng nghiệp một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất

lượng học tập bộ môn hóa học trong trường THCS Sáng kiến kinh nghiệm có

tên: “Phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng học tập môn hóa học của học sinh trong trường THCS”

Đáp ứng phong trào thi đua yêu nước ngành giáo dục và Đào tạo Quảng Nam Đáp ứng phong trào thi đua dạy tốt và học tốt của giáo viên và học sinh trong giai đoạn mới Việc đổi mới phương pháp giảng dạy của các bộ môn nói chung và bộ môn hóa học nói riêng là một việc làm rất cần thiết và cấp bách Muốn giảng dạy theo phương pháp tích cực giáo viên cần phải giảng dạy như thế nào? giúp học sinh học tập ra sao? Đây là một vấn đề cần được quan tâm trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần vào công tác giáo dục nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, và qua thực tiễn công tác giảng dạy, dự giờ, kiểm tra kiến thức học sinh ở trường TPDT nội trú Tây Giang, tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề ra biện pháp để nâng cao chất lượng học tập bộ môn Hoá học của học sinh trường THCS nói chung và ở trường PTDT nội trú Tây Giang nói riêng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của người giáo viên Đó là lý do tại sao tôi chọn đề tài này

* Đề tài nhằm giúp giáo viên áp dụng phương pháp dạy học tích cực và giúp học sinh tiến hành các hoạt động học tập có hiệu quả, chất lượng cao hơn

- Giới hạn nghiên cứu của đề tài.

Đề tài giới hạn trong năm học 2012 – 2013 ở khối 9 trường PTDT NT Tây Giang Quảng Nam

II/ Cơ sở lí luận:

Trang 3

Trong năm học 2012- 2013 là năm học tiếp tục thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông Trong quá trình giảng dạy, đa số giáo viên đã tổ chức cho học sinh hoạt động khá tích cực, tăng cường hợp tác theo nhóm, sử dụng thí nghiệm, sử dụng phòng học bộ môn Đặc biệt trong năm học này nhiều giáo viên đã ứng dụng khá tốt công nghệ thông tin vào trong giảng dạy Vì vậy học sinh học tập khá tích cực, chủ động tự tìm kiếm kiến thức, đa số các em nắm được kiến thức

cơ bản

Xuất phát từ mục đích của nhà trường là đào tạo thế hệ trẻ trở thành con người lao động mới có giác nghộ xã hội chủ nghĩa, có văn hoá, có kỹ thuật và có sức khoẻ Những người phát triển toàn diện để xây dựng xã hội mới Để thực hiện đường lối và nhiệm vụ cách mạng, con người mà nhà trường đào tạo ra là con người có đủ điều kiện có khả năng phục vụ đắc lực cho công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội trong giai đoạn hiện nay Bởi vậy nội dung giáo dục phải toàn diện coi trọng tất cả các môn học Không thể bỏ qua môn học nào, kể cả môn học ít giờ như môn Hoá học

Đối với các môn học ở bậc Trung học cơ sở giúp cho học sinh có kiến thức

cơ bản để làm nền tảng cho bậc học tiếp theo Bên cạnh đó, đối với môn Hoá học

là hoàn toàn mới lạ đối với các em, sự tiếp xúc môn học này làm cho các em ít nhiều điều bở ngỡ, một số ít các em có năng khiếu còn tìm tòi, thích thú đối với môn học mới lạ này còn đa số các em đều cảm thấy xa lạ và ngán ngại, nếu không có biện pháp thích hợp các em rất dễ chán nản, bỏ học Các em xem môn học này là một trong những môn học khó khăn nhất giống như các môn học tiếng nước ngoài Vì thực tế đối với các em, khi học môn học này cần phải thuộc lòng các ký hiệu hoá học, tên gọi, hoá trị Các em còn lúng túng, mù mờ trong việc dự đoán các sản phẩm tạo thành trong một phương trình phản ứng hoá học.Một thực tế khác, phân phối chương trình đối với môn Hoá học lớp 8 và 9 mỗi tuần chỉ có 2 tiết dạy, thời lượng cho tiết dạy như thế là chưa phù hợp với

khối lượng kiến thức cần phải “tải” cho các em, vì đây là lớp “vở lòng” đối với

môn Hoá Mặt khác, do phiền phức ở khâu chuẩn bị, dụng cụ, hoá chất, phòng thí nghiệm chưa đạt tiêu chuẩn an toàn, đầy đủ nên việc không thường xuyên thực hành thí nghiệm (thời lượng không đủ) khi giảng dạy làm cho các em chán nản và các em còn thiếu tính tư duy, suy luận lôgic

Tuy nhiên, hầu hết việc giảng dạy trong trường THCS nói chung và trường PTDT NT Tây Giang nói riêng từ trước đến nay còn gặp một số khó khăn về cơ

sở vật chất, thiết bị dạy học, năng lực nhận thức của học sinh dẫn đến chất lượng học tập bộ môn Hóa học là một vấn đề đáng lo ngại

Trang 4

Về phía học sinh: Các em mới làm quen bộ môn Hóa học bắt đầu từ lớp 8,

nên nhiều học sinh còn bở ngỡ, lúng túng trước những kiến thức mới lạ, chưa tìm tòi để phát hiện kiến thức dẫn đến khả năng tiếp thu bài học còn hạn chế, đặc biệt

là kỉ năng thực hành Hơn nữa, nội dung các bài học Hóa học có liên quan chặt chẽ với nhau nếu học sinh không tiếp thu và nắm được bài học ngay từ bài đầu tiên thì việc tiếp thu các bài học sau sẽ rất khó khăn Đặc biệt hơn nữa các em đều là đối tượng học sinh dân tộc thiểu số người Cơtu khả năng nhận thức, suy luận còn rất hạn chế

Về phía giáo viên: Việc thay đổi chương trìn sách giáo khoa, phương tiện

dạy học đã làm cho giáo viên gặp không ít khó khăn trong khi dạy Những năm gần đây vẫn còn một số giáo viên vẫn tôn thờ với phương pháp truyền thống dạy học theo phương pháp thuyết trình, ít sử dụng phương tiện, thí nghiệm, ít ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy nên phần lớn học sinh thụ động trong việc tiếp nhận kiến thức Một số tiết chưa phát huy hết khả năng hoạt động tích cực, chủ động của học sinh.Vì vậy chất lượng dạy học còn nhiều hạn chế

III Cơ sở thực tiễn.

III.1 Thực trạng:

Trước tình hình chung hiện nay, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống ngày càng được phát triển và mở rộng Do đó việc cải thiện các trang thiết bị, dụng cụ máy móc Việc đưa công nghệ tiên tiến vào mọi lĩnh vực nhằm phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh quốc phòng là rất cần thiết

Để đạt được mục tiêu đó thì mỗi quốc gia cần phải định hướng đào tạo nhân tài từ trong trường học theo các chuyên ngành khác nhau Chuyên ngành hoá học

là một trong những chuyên ngành có nhiều ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống

Nó phục vụ cho nhiều chuyên ngành khác phát triển Vì vậy một việc rất cần thiết là ngay từ cấp cơ sở giáo viên phải nghiên cứu khám phá để nâng cao phương pháp trong một giờ dạy Tạo cho các em có hứng thú say mê và yêu thích bộ môn học này

Trường PTDT nội trú Tây Giang được thành lập từ năm 2005, nhìn chung trong thời gian qua về chất lượng giáo dục đã chuyễn biến tích cực, chất lựợng học tập của các em đã không ngừng tiến bộ

Tuy nhiên về nhận thức của các em về một số bộ môn còn nhiều thờ ơ, trong đó có bộ môn Hoá học Các em chỉ chú trọng vào các môn chính như Toán, Văn, Anh Các em cho rằng bộ môn Hoá học là bộ môn phụ nên không chú trọng đầu tư học tập, nên đa phần các em không thích bộ môn này và hơn nữa bộ môn hoá học rất rộng các em khó tư duy nắm bắt nên chất lượng học tập còn thấp

Trang 5

Trước khi chưa sử dụng các phương pháp dạy học nói trên kết quả kiểm tra bài 45 phút ( Bài số1 lớp khối 9 Trường PTDT NT Tây Giang) đạt được kết quả khá thấp Cụ thể:

ở trường PTDT nội trú Tây Giang khi chưa áp dụng đề tài này vào giảng dạy)

Vậy làm thế nào để học sinh có hứng thú, tích cực học tập, đồng thời phát triển được khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh để nâng cao chất lượng học tạp của học sinh đối với bộ môn Hóa học THCS Xuất phát từ thực trạng đó mà tôi

chọn đề tài “Phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng học

tập môn Hóa học của học sinh trong trường THCS” nhằm nâng cao chất

lượng học tập của học sinh trong giờ dạy môn Hoá học

Nguyên nhân:

Nguyên nhân dẫn đến thực tiễn đó là do một số nguyên nhân cơ bản sau:

- Các em chưa tìm thấy hứng thú trong quá trình học tập bộ môn Hoá học

Số em xem đó như một môn phụ

Số em yêu thích môn học

Trang 6

- Giáo viên chưa tạo được những tiết học lôi cuốn học sinh Nên dẫn đến chất lượng thấp.

III.2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá được thực trạng của học sinh ở trường PTDT nội trú, thông qua đó

đề ra biện pháp có hiệu quả giúp cho các em có một phương pháp học tập đúng nhằm nâng cao hiệu quả trong việc học bộ môn Hoá học

III.3 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu về thực trạng và đề ra biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong giờ dạy môn Hoá học ở trường PTDT nội trú Tây Giang

III.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu một số vấn đề, cơ sở lý luận về phương pháp học tập của học sinh trong giờ dạy môn Hoá học, tiến hành điều tra thực trạng học tập của học sinh, phân tích nguyên nhân, tìm ra những biện pháp liên quan nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong giờ dạy môn Hoá học

III.5 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trên cơ sở những kiến thức về bộ môn, giáo dục học và thực tiễn

b Phương pháp quan sát

Nhìn nhận lại thực trạng của công tác dạy học cho học sinh của trường PTDT Nội Trú Tây Giang trong năm học Đưa ra một số biện pháp về việc thực hiện công tác giáo dục cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay

III.6 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09 năm 2012 đến tháng 5 năm

2013

IV/ Nội dung nghiên cứu:

IV.1 Cơ sở:

1.1 Cơ sở của việc dạy học tích cực bộ môn hóa học :

- Dạy và học tích cực bộ môn hóa học dựa trên quan điểm lấy học sinh làm

trung tâm của quá trình dạy học

- Để dạy tích cực cần : Đổi mới mục tiêu dạy học ở ngay từng bài học, giáo

viên tích cực thiết kế, tổ chức, khuyến khích tạo điều kiện để đa số học sinh tích cực hoạt động tìm tòi, khám phá, xây dựng và vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng

Trang 7

Do đó cần đổi mới các hình thức tổ chức dạy học đa dạng, phù hợp, sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại như là nguồn kiến thức, sử dụng tổng hợp

và linh hoạt các phương pháp dạy học chung và đặc thù bộ môn theo hướng phát huy tính độc lập tích cực của đa số học sinh

1.2 Đổi mới dạy học bộ môn hóa học theo hướng tích cực

+ Đổi mới hoạt động dạy của giáo viên:

Dạy Hóa học không phải là quá trình truyền thụ kiến thức “ rót” kiến thức

vào học sinh mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế tổ chức điều khiển các hoạt động của học sinh theo các mục tiêu cụ thể như:

- Thiết kế hoạt động của học sinh theo những mục tiêu cụ thể của mỗi bài học hóa học mà học sinh cần đạt được

- Tổ chức các hoạt động trên lớp để học sinh hoạt động theo cá nhân hoặc theo nhóm như: Nêu vấn đề cần tìm hiểu, tổ chức các hoạt động tìm tòi, phát hiện kiến thức và hình thành kĩ năng về hóa học …………

- Định hướng điều chỉnh các hoạt động của học sinh: Chính xác hoá các khái niệm hóa học, các kết luận về các hiện tượng bản chất hóa học mà học sinh

tự tìm tòi được thông qua các hoạt động trên lớp

- Thiết kế việc sử dụng các phương tiện trực quan, hiện tượng thực tế, thí nghiệm hóa học, mô hình mẫu vật như là nguồn để học sinh khai thác, tìm kiếm, phát hiện những kiến thức kĩ năng về hóa học

- Tạo điều kiện cho học sinh được vận dụng hơn nữa những hiểu biết của mình để giải quyết một số vấn đề có liên quan tới hóa học trong đời sống sản xuất

* Một giáo viên muốn thực hiện được đổi mới phương pháp dạy học hóa học tốt cần phải:

- Nắm được tinh thần cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học hóa học

- Thiết kế được giáo án theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học

- Tổ chức hoạt động dạy và học trên lớp để dạy và học tích cực

+ Đổi mới hoạt động học tập của học sinh:

Dạy học hóa học không phải là quá trình tiếp nhận một cách thụ động những tri thức hóa học mà chủ yếu là quá trình học sinh tự nhận thức, tự khám phá, tìm tòi các tri thức hóa học một cách chủ động, tích cực là quá trình tự phát hiện và giải quyết các vấn đề Học sinh cần tiến hành các hoạt động sau :

- Tự phát hiện hoặc nắm bắt vấn đề do giáo viên nêu ra

Trang 8

- Hoạt động để tìm tòi, giải quyết các vấn đề đặt ra như: quan sát, làm thí nghiệm, phán đoán, suy luận, tham gia thảo luận theo nhóm, rút ra kết luận.

+ Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học:

- Khi đổi mới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp học cũng cần phải đa dạng phong phú hơn cho phù hợp với việc tìm tòi cá nhân, hoạt động theo nhóm và toàn lớp

- Sử dụng một cách tổng hợp và linh hoạt các phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn hóa học với thiết kế tổ chức hoạt động dạy học

+ Đổi mới đánh giá trong dạy và học:

- Bám sát mục tiêu cần đánh giá

- Chú ý nội dung: Kiểm tra thực hành, kĩ năng nghiên cứu, kĩ năng tư duy

- Dùng các phương pháp khác nhau: Giáo viên đánh giá, học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau

- Dùng nhiều loại hình: Bài tập trắc nghiệm khách quan, bài tập tự luận, bài tập định tính và định lượng,bài tập thực nghiệm ……

IV.2 Giải pháp tiến hành.

Để đạt được ước vọng “Phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng học tập môn hóa học của HS trong trường THCS ” bản thân tôi

phải tiến hành những biện pháp sau:

2.1 Thiết kế được giáo án hợp lí, phù hợp theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học.

2.1.1 Trước hết bản thân tôi phải nắm vững cấu trúc chương trình sách

giáo khoa của từng lớp học, từng cấp học và cả chương trình của bộ môn, trong khi giảng bài, tôi giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học, xây dựng kiến thức mới hoặc khi giảng xong kiến thức mới, tôi có thể xác định cho các em hướng để các em học lên các lớp trên

Ví dụ: Dạy định nghĩa về axít ở lớp 9, tôi cho học sinh nhắc lại định nghĩa

axít ở lớp 8, từ đó hướng dẫn cho học sinh xây dựng định nghĩa axít ở lớp 9 Đến đây tôi xác định cho học sinh định nghĩa về axít, không dừng lại ở đây mà có điều kiện học lên lớp trên định nghĩa về axít còn được mở rộng hơn nữa hoặc định nghĩa về Bazơ, Muối cũng tương tự

Ngoài ra việc nắm vững cấu trúc chương trình còn giúp tôi mở rộng được nhiều kiến thức trong giờ dạy cho học sinh, nhất là đối với học sinh khá, giỏi và giúp tôi có đầy đủ điều kiện để giảng dạy học sinh trong toàn cấp học

Trang 9

2.1.2 Xác định đúng dạng bài để dạy đúng phương pháp đặc trưng của bộ

môn và đúng với phương pháp của từng loại bài dạy, đối với môn hoá học có các dạng bài sau:

- Dạng bài lý thuyết

- Dạng bài thực hành

- Dạng bài luyện tập

- Dạng bài ôn tập tổng kết

- Dạng bài kiểm tra học sinh

2.1.3 Đọc kĩ bài dạy để hiểu đúng ý của người viết sách giáo khoa, về kiến

thức cơ bản và cách trình bày kiến thức của tác giả, nắm được mối quan hệ giữa các kiến thức từ đó khắc sâu được kiến thức trọng tâm cho học sinh và làm cho học sinh thấy rõ con đường đi đến kiến thức rồi hướng dẫn cho các em phát hiện

ra kiến thức

Ví dụ: Dạy bài “Oxi ở lớp 8” kiến thức trọng tâm của bài là phần tính chất

hoá học của oxi, tôi đã làm cho học sinh thấy rõ con đường đi đến kiến thức là bằng thí nghiệm thực tế, để các em nắm được các tính chất hoá học của oxi và để hướng dẫn cho các em phát hiện ra kiến thức qua từng thí nghiệm, tôi cho học sinh thấy rõ các chất đem tác dụng cùng với việc các em quan sát thí nghiệm và vận dụng vốn kiến thức có sẵn để có thể dự đoán sản phẩm tạo thành sau phản ứng và dẫn đến kết luận, cụ thể:

Tính chất oxi tác dụng với sắt, tôi cho học sinh biết các chất đem tác dụng

là oxi và sắt, học sinh quan sát thí nghiệm thấy có hạt nóng đỏ bắn ra, các em sẽ

đự đoán sản phẩm là Fe3O4 (màu nâu), từ đó các em rút ra phương trình:

3Fe + 2O2 →t0 Fe3O4Ngoài việc hiểu đúng ý nghĩa của người viết sách còn giúp tôi vận dụng thêm kiến thức của tài liệu tham khảo để mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh Đồng thời tránh được tình trạng dạy sai kiến thức cho học sinh

Ví dụ: Dạy bài nước (tiết 55 - Hoá 8) Cho 1 mẫu kim loại Na nhỏ bằng hạt

đậu xanh vào cốc nước

Nhận xét: Natri phản ứng với nước nóng chảy thành giọt tròn có màu trắng chuyển động nhanh trên mặt nước, mẫu Na tan dần cho đến hết, có khí bay ra phản ứng toả nhiều nhiệt Dung dịch tạo thành cho quỳ tím vào thấy chuyển sang màu xanh, cho phenolphtalein vào chuyển sang màu đỏ Làm bay hơi dung dịch thu được ta sẽ được một chất rắn trắng Các em dự đoán khí đó là khí gì và chất rắn trắng? viết phương trình hoá học

Trang 10

2Na + 2H2O→ 2NaOH + H2↑

( HS tự xác định khí bay ra trong thí nghiệm là H2, chất rắn trắng thu được sau phản ứng là NaOH)

Giáo viên giới thiệu về hợp chất NaOH và dẫn dắt học sinh định nghĩa về bazơ thông qua hiện tượng mà ta quan sát ở trên Vậy dung dịch bazơ làm đổi màu quỳ tím thành xanh và phenolphtalein không màu thành đỏ

Tóm lại, thông qua các thí nghiệm học sinh phải tự suy luận ra sản phẩm tạo thành và viết được các phương trình phản ứng minh hoạ Đồng thời qua đó các em hình thành nên kiến thức mới

2.1.4 Biến kiến thức của sách giáo khoa, tài liệu tham khảo thành kiến thức

khi truyền thụ cho học sinh, từ đó tôi đã gây cho học sinh một niềm tin vững chắc về kiến thức ở giáo viên, các em thấy thầy cô là thiêng liêng cao cả và giữa giáo viên và học sinh phải có một khoảng cách nhất định về kiến thức nhưng rồi lại được quy tụ tại một điểm

2.1.5 Tiến hành phân loại học sinh thành 4 đối tượng (Giỏi, khá, trung

bình, yếu) và tìm hiểu về từng đối tượng học sinh để trong khi giảng dạy tôi bao quát đủ các đối tượng học sinh khá giỏi, học sinh yếu kém từ đó có kế hoạch dạy học với từng đối tượng học sinh

2.1.6 Tiến hành soạn bài để tôi xác định hướng trọng tâm của bài dạy và

sắp xếp các kiến thức của bài thành một hệ thống kiến thức lôgíc, chặt chẽ theo

kiểu dạy học nêu vấn đề và bằng phương pháp thầy thiết kế, trò thi công “Hệ thống câu hỏi phải lôgíc” theo hệ thống kiến thức của bài và ngắn gọn, rõ ràng,

phù hợp với 4 đối tượng học sinh để huy động nhiều học sinh làm việc trên lớp

để các em thấy chương trình mà sách giáo khoa đưa ra không có gì là quá tải rất phù hợp)

* Tóm lại: Đối với tôi soạn bài là một hình thức giảng thử để phân bố thời

gian cho phù hợp với từng phần kiến thức của bài và để bỏ bớt các ngôn ngữ thừa, các câu hỏi vụng, giúp học sinh hiểu bài một cách chắt lọc, nhẹ nhàng.Tuy nhiên để tiết học có chiều sâu về mặt kiến thức thì trong mỗi bài dạy giáo viên phải tìm được điểm nhấn của mỗi bài Từ đó các em khắc sâu được kiến thức và hiểu sâu hơn

Ví dụ: Khi dạy bài benzen (Tiết 49 - lớp 9)

Giáo viên cho học sinh giải thích cấu tạo của vòng bengen

Trang 11

hoặc hoặc

Sỡ dĩ benzen có thể viết được 1 trong 3 công thức trên là do benzen có cấu tạo đặc biệt Gồm ba liên kết đôi xen kẻ 3 liên kết đơn tạo thành vòng sáu cạnh đều Đây chính là nguyên nhân làm cho các liên kết trong vòng benzen bền hơn các liên kết trong etilen và axetilen Vì vậy benzen không làm mất màu dung dịch Br2 khác với etilen và axetilen Qua đây các em có thể nắm sâu hơn về bản chất của cấu tạo vòng benzen và từ đó giải thích tại sao benzen lại có những tính chất như vậy

Ví dụ : Khi dạy bài : Tính chất hoá học của axit ( Tiết 5 - Lớp 9)

Trong khi làm thí nghiệm giữa axit HCl và bazơ NaOH của các nhóm Cho quỳ tím vào sản phẩm thu được ta thấy có những trường hợp sau:

* Quỳ tím vẫn màu tím

* Quỳ tím chuyển sang màu xanh

* Quỳ tím chuyển sang màu đỏ

Giải thích kết quả của các nhóm như thế nào? Giáo viên cho các em thảo luận nhóm Điều đó được giải thích là nếu axit và bazơ tham gia hết ( trường hợp

1 ), bazơ dư ( trường hợp 2 ), axit dư ( trường hợp 3 ) Như vậy các em đã giải thích được những hiện tượng quan sát được của thí nghiệm Nên khi làm phần bài tập có liên quan đến thiếu thừa các em nhập cuộc rất dễ dàng

Ví dụ 1: Đem 19,6g H2SO4 tác dụng với 12g NaOH Cho quỳ tím vào sản

phẩm thu được ? Theo em màu của giấy quỳ thay đổi như thế nào? Giải thích?

Giải: H2SO4 + 2NaOH  Na2SO4 + 2H2O

Số mol H2SO4 tham gia phản ứng là:

n H2SO4 = 19.6:98 = 0.2 (mol)

Số mol NaOH tham gia phản ứng là :

n NaOH = 12:40 = 0.3 (mol)

Trang 12

Ta có tỉ lệ : 0.2/1 > 0.3/2 Điều đó chứng tỏ H2SO4 dư Nên ta cho giấy quỳ tím vào sản phẩm thu được, giấy quỳ sẽ chuyển sang màu đỏ ( như vậy ví dụ này rơi vào trường hợp 3 )

Ví dụ 2: Cho 500ml KOH 1M tác dụng với 200ml HCl 2M Cho quỳ tím

vào sản phẩm thu được? Theo em màu của giấy quỳ thay đổi như thế nào? Giải thích?

Giải: HCl + KOH → KCl + H2O

Số mol KOH tham gia phản ứng là:

Ví dụ 3: Đem 2 (l) H2SO4 0.3M tác dụng với 48g NaOH Cho quỳ tím vào

sản phẩm thu được? Theo em màu của giấy quỳ thay đổi như thế nào? Giải thích?

Giải: H2SO4 + 2NaOH  Na2SO4 + 2H2O

Số mol H2SO4 tham gia phản ứng là:

Trang 13

Chính vì thế một lần nữa tôi muốn khẳng định việc tạo ra những điểm nhấn trong mỗi bài dạy là rất quan trọng, tạo ra ấn tượng với các em trong quá trình học và khắc sâu kiến thức cơ bản.

2.2 Định hướng cho học sinh hình thành, xây dựng kiến thức mới:

- Giảng bài mới ( dạng bài lý thuyết kiểu thực hành) tôi cho học sinh nắm

cụ thể các dụng cụ hoá chất cần cho một thí nghiệm, cách làm thí nghiệm giúp các em tự làm thí nghiệm để nghiên cứu quan sát, hướng dẫn cho học sinh dùng các dấu hiệu để nhận biết một phản ứng hoá học xảy ra (dấu hiệu toả nhiệt hay hơi, kết tủa…) Từ đó phát hiện ra hiện tượng của thí nghiệm rồi dùng kiến thức tổng hợp để giải thích các hiện tượng và suy ra kết luận

Ví dụ: Dạy bài tính chất hoá học của Nhôm (Al + O2)

- Dụng cụ và hoá chất

- Tiến hành thí nghiệm

- Hiện tượng và giải thích

- Kết luận: 4Al + 3O2 →t0 2Al2O3

* Chú ý cần tạo điều kiện để học sinh tự làm thí nghiệm, nghiên cứu hoặc các em được quan sát cụ thể, sờ tận tay để học sinh phát hiện ra hiện tượng thí nghiệm, chống đối học vẹt, chống quan điểm cho rằng vật chất do thượng đế tạo

ra, từ đấy gây cho học sinh một niềm tin vào khoa học, giáo dục học sinh chính xác khoa học, tác phong nghiên cứu khoa học, rèn luyện kỹ năng thao tác thí nghiệm, hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa hợp lý

Ví dụ: Khi dạy bài “Axít axetic” lớp 9, tôi đã cho các em tiến hành thí

nghiệm của dung dịch axít axetic lần lượt vào các ống nghiệm đựng các chất sau: quỳ tím, dung dịch NaOH có phênolphtalein, CuO, Zn, Na2CO3

Qua các thí nghiệm xảy ra, các em tự rút ra nhận xét Axít axetic là một axít hữu cơ có tính chất của một axít Tuy nhiên axít axetic là một axít yếu

Phương trình hoá học:

CH3COOH + NaOH → CH3COONa + H2O

2CH3COOH + CuO → (CH3COO)2Cu + H2O

2CH3COOH + Zn → (CH3COO)2Zn + H2

2CH3COOH + Na2CO3 → 2CH3COONa + H2O + CO2

Các em lại quan sát thí nghiệm phản ứng của rượu etylic và axít axetic Để khám ra tính chất đặc biệt giữa axít axetic với các axít vô cơ mà ta đã học

Trang 14

H 2 SO 4 đặc t 0

CH3COOH + C2H5OH CH3COOC2H5 + H2O

Hoặc trong khi dạy bài thực hành Tôi đã chia các em trong lớp theo đơn vị nhóm (trong mỗi nhóm như vậy tôi có cho các em cử ra những em nhóm trưởng

và thư ký), cho các nhóm đồng thời cùng tiến hành các thí nghiệm theo yêu cầu của sách giáo khoa

Sau khi các em đã hoàn thành tốt các thí nghiệm, thư ký ghi hiện tượng quan sát được, nhận xét và viết phương trình hoá học minh hoạ các thí nghiệm của nhóm mình Giáo viên chỉ duy nhất làm một nhiệm vụ là đưa các kết quả của các nhóm lên bảng để cho các nhóm khác nhận xét để rút ra kết quả chính xác nhất

Ví dụ : Bài thực hành: Tính chất hóa học của Nhôm và Sắt ( tiết 29–lớp 9)

Sau khi phát dụng cụ hoá chất cho học sinh, giáo viên cần nhắc lại cách tiến hành thí nghiệm của từng thí nghiệm và một số điểm trong nội quy phòng thí nghiệm, đặc biệt là quy tắc đảm bảo an toàn

Thí nghiệm 1: Tác dụng của Nhôm với oxi

Thí nghiệm 2: Tác dụng của Sắt với Lưu huỳnh

Thí nghiệm 3: Nhận biết mỗi kim loại Al, Fe đựng trong hai lọ không dán nhãn

Các nhóm tiến hành và ghi chép hiện tượng quan sát được, nhận xét và ghi kết quả thu được của nhóm theo mẫu sau :

TT HT quan sát Nhận xét HT Giải thích HT Viết PTHH TN: 1

TN: 2

TN: 3

( HT : Viết tắt của từ hiện tượng )

Sau đó các nhóm nhận xét lẫn nhau và đưa ra kết quả đúng nhất ( GV nhận xét và cho điểm từng nhóm) Bước cuối cùng sau khi làm xong thí nghiệm các nhóm phải tự dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ, thu hồi những hoá chất còn dư và xử lý theo nội quy đặt ra của phòng thí nghiệm

2.3 Tạo môi trường thân thiện trong khâu lên lớp giảng bài:

- Vào lớp tôi tạo cho các em không khí thoải mái, để các em không cảm thấy nặng nề, gây sức ép, mà ngược lại giúp cho các em có tinh thần chuẩn bị tốt

để bước vào tiết học mới

- Kiểm tra bài cũ: Yêu cầu cần phải kiểm tra được kiến thức trọng tâm của

bài cũ, giúp cho học sinh nhớ lại, và khắc sâu thêm một lần nữa Câu hỏi hoặc

Trang 15

bài tập kiểm tra bài củ phải rỏ ràng phù hợp với từng đối tượng học sinh ( Giỏi, khá, trung bình, yếu)

- Giải quyết bài mới: Khi giảng dạy bài mới, giáo viên không thông báo

những kiến thức sẳn có cho học sinh, mà chủ yếu tổ chức cho các em tích cực hoạt động chiếm lĩnh kiến thức mới

- Trong quá trình giảng dạy giáo viên yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức củ

để xây dựng nội dung bài học mới

- Kết hợp thêm một số phương pháp như: Thảo luận nhóm, nêu và giải quyết vấn đề, câu hỏi và bài tập để hình thành kiến thức mới

- Tổ chức cho học sinh thí nghiệm, quan sát tranh ảnh, sơ đồ…để rút ra nhân xét

Ví dụ: Dạy bài 25 “ Tính chất của phi kim ” Lớp 9 tiết 30 ta có thể nhắc lại

kiến thức bài cũ như sau

Câu 1: Nêu tính chất hóa học của kim loại ?

Câu 2: Nêu tính chất hóa học của oxi mà các em đã học lớp 8 Viết phương trình hóa học minh họa cho các tính chất đó ?

Như vậy qua hai câu hỏi trên giúp các em hình thành được tính chất hóa học của phi kim

* Tác dụng với kim loại tạo thành muối hoặc oxit

* Nhiều phi kim tác dụng với oxi tạo thành oxi axit

- Hoặc giáo viên có thể đưa ra câu hỏi trong phần kiểm tra bài cũ Khi dạy bài “Tính chất chung của phi kim” như sau :

Em hãy hoàn thành các phương trình hóa học sau Và cho biết hóa trị của

Fe trong các sản phẩm

1 2Fe + 3Cl2  →t0 2FeCl3 (Fe hoá trị III)

2 3Fe + 2O2  →t0 Fe3O4 (Fe hoá tri II, III)

3 Fe + S  →t0 FeS (Fe hoá trị II)

* Như vậy khi dạy đến phần “ Mức độ hoạt đông hóa học của phi kim, giáo viên dựa trên ba phương trình đã được làm trong phần kiểm tra bài củ

Từ đó giáo viên cho các em khái quát được mức độ hoạt đông hóa học của phi kim Cl2, O2, S như sau Cl2 > O2 > S Như vậy việc cũng cố kiến thức cũ rất

Trang 16

quan trong Nó vừa giúp cho các em hình thành kiến thức mới, vừa tạo cho các

em cơ hội để khắc sâu kiến thức thêm một lần nữa

2.4 Sử dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề để dạy học hóa học tích cực.

Trong hóa học, nét đặc trưng chủ yếu của dạy học nêu và giải quyết vấn đề

là sự lĩnh hội các tri thức diễn ra thông qua nêu và giải quyết vấn đề

- Các bước chính là: Nêu vấn đề, giải quyết vấn đề và kết luận

- Khi vận dụng dạy học nêu vấn đề trong dạy học hóa học cần chú ý lựa chọn các mức độ cho phù hợp với trình độ nhận thức học sinh và nội dung cụ thể của mỗi bài học

Thí dụ 1: Khi nghiên cứu tính chất hóa học của Nhôm tác dụng với NaOH Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

Nêu vấn đề: nhôm có đầy đủ tính

chất của kim loại nói chung, ngoài ra

nhôm có tính chất gì đặc biệt?

Hãy nghiên cứu thí nghiệm nhôm

tác dụng với dung dịch NaOH

- Gợi ý: Phản ứng này có gì mâu

thuẫn với những điều đã học

- Giải quyết mâu thuẫn: Điều này

không sai và không mâu thuẫn Đó là

do hợp chất của nhôm có tính chất

đặc biệt, ta sẽ học ở lớp trên

- Nhóm học sinh: thả dây nhôm vào ống nghiệm dựng dung dịch NaOH, có ống vuốt dẫn khí ra ngoài

- Quan sát hiện tượng khí thoát ra

- Châm lửa đốt, khí cháy, ngọn lửa xanh Khí tạo thành là hiđrô

- Học sinh nêu vấn đề: Phản ứng nhôm với dung dịch NaOH có mâu thuẫn với tính chất của kim loại đã học không? hay thí nghiệm sai

Thí dụ 2: Khi nghiên cứu tính chất của H2SO4 đặc nóng với Đồng thì vấn

đề xuất hiện là: trái với tính chất Kim loại đứng sau H trong dãy hoạt động hóa học đã tác dụng với axít Điều này đúng hay sai?

Ta hãy xem điều kiện của phản ứng và sản phẩm của phản ứng H2SO4 tác dụng với Cu như thế nào?

- Học sinh phát biểu: H2SO4 đặc nóng

- Cu: là kim loại hoạt động yếu ( đứng sau H )

- Sản phẩm: khí không màu, mùi hắc khó ngửi, làm đổi màu giấy quì ( tẩm ướt ) thành đỏ Dung dịch có màu xanh ( CuSO4 )

Trang 17

Vậy điều này không mâu thuẫn với tính chất của axít nói chung và dung dịch H2SO4 loãng Đó là tính chất đặc biệt của H2SO4 đặc nóng.

Thí dụ 3 : Khi nghiên cứu tính chất hóa học của Clo Sau khi học sinh tìm

hiểu Clo tác dụng với kim loại, với hiđrô, đó là những tính chất của phi kim

- Giáo viên đặc vấn đề: Clo còn có những tính chất đặc biệt nào khác không? làm thế nào để chúng ta biết được điều đó?

- Ở đây xuất hiện kiến thức đã biết và kiến thức mới, tính chất chung của phi kim và tính chất riêng của Clo

- Để giải quyết vấn đề này giáo viên cho học sinh thảo luận và chọn giải pháp là tiến hành thí nghiệm nghiên cứu ( hoặc xem phim thí nghiệm) Vấn đề đặt ra là: Clo có phản ứng với nước không?

Học sinh đưa ra 2 giả thiết khác nhau: Clo có phản ứng với nước và Clo không phản ứng với nước

Hãy dùng thí nghiệm để kiểm tra các dự đoán này

- Giáo viên tiến hành thí nghiệm ( hoặc chiếu phim thí ngjiệm): Clo phản ứng với nước, thử tính tẩy màu của nước Clo Học sinh quan sát hiện tượng và đọc thông tin sách giáo khoa để giải thích Nước Clo có tính tẩy màu và nước Clo có màu và mùi của khí Clo

- Vấn đề đặt ra tiếp theo là: Clo có phản ứng với dung dịch kiềm không? Các em hãy dự đoán

* Học sinh có thể đề ra 2 giả thiết khác nhau:

+ Không phản ứng vì không có trong tính chất của phi kim

+ Có phản ứng vì Clo cho phản ứng với nước tạo thành dung dịch axít, mà dung dịch axít lại phản ứng với kiềm

* Vậy phương án nào đúng? Chúng ta hãy kiểm tra bằng thực nghiệm, tương tự như trên giáo viên tiến hành thí nghiệm Clo phản ứng với dung dịch kiềm ( có phênolphtalêin ) hoặc chiếu phim thí nghiệm cho học sinh quan sát

* Học sinh quan sát hiện tượng, tự giải thích và viết phương trình hóa học Sau cùng học sinh nhận xét: Clo có tính chất hóa học đặc biệt là tác dụng với nước và dung dịch NaOH

* Thật vậy đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực giúp giáo viên giảng dạy đạt hiệu quả, đồng thời sẽ giúp học sinh tích cực hoạt động chiếm lĩnh kiến thức, biết vận dụng tốt nhằm đạt chất lượng trong học tập Bên cạnh đó

để phối hợp tốt giữa giáo viên và học sinh, phương pháp vấn đáp tìm tòi, cùng

Trang 18

với phương pháp làm việc theo cặp nhóm là những phương pháp dạy học tích cực.

* Vấn đáp tìm tòi là gì?

- Phương pháp vấn đáp tìm tòi là phương pháp trao đổi giữa giáo viên và

học sinh trong đó giáo viên nêu ra câu hỏi “ dẫn dắt” gắn bó lôgic với nhau để

học sinh suy lí, phán đoán, quan sát, tự đi đến kết luận và qua đó lĩnh hội kiến thức

Thật vậy để dạy tốt và học tốt, giáo viên không những sử dụng các phương pháp theo hướng tích cực mà cần phải biết xây dựng các câu hỏi, hệ thống câu hỏi cho phù hợp với nhận thức của học sinh

- Trong các bài dạy giáo viên cần phải có hệ thống câu hỏi vấn đáp trong đó gồm câu hỏi chính và câu hỏi phụ

* Câu hỏi theo mức độ nhận thức:

Mức độ biết: Nhớ lại hiện tượng, sự kiện áp dụng cho học sinh trung bình

yếu

Ví dụ 1: + Hãy kể tên ba chất oxit mà em biết?

+ Nhắc lại qui tắc về hoá trị đối với hợp chất gồm hai nguyên tố hóa học

Mức độ hiểu: So sánh các sự vật, hiện tượng hoặc hiểu hệ thống hoá, khái

quát kiến thức Áp dụng cho đối tượng học sinh trung bình khá

Ví dụ 2: + Hãy nhận xét thành phần của ba oxít mà em vừa kể ra Hãy nêu

định nghĩa của oxít?

- Trong hai phản ứng :

Zn + 2HCl → ZnCl2 + H2

Fe + H2SO4 → FeSO4 + H2Nguyên tử của đơn chất Zn hoặc sắt đã thay thế nguyên tử nào của axít? Hai phản ứng trên được gọi là phản ứng thế Vậy phản ứng thế là phản ứng hóa học như thế nào?

Mức độ vận dụng kiến thức: Giải thích nguyên nhân sự vật hiện tượng

hoặc áp dụng kiến thức để cải tiến hoặc cải tạo thực tiễn ở mức độ phù hợp Thường áp dụng cho học sinh khá giỏi

Ví dụ 3: Giải thích tại sao khi nhốt một con dế mèn ( hay châu chấu ) vào

một lọ nhỏ rồi đậy nút kín, sau thời gian con vật sẽ chết

Trang 19

- Tại sao người ta phải bơm sục không khí vào các bể nuôi cá cảnh hoặc các chậu, bể chứa cá sống ở các cửa hàng bán cá.

* Đối với các câu hỏi chính và câu hỏi phụ giáo viên cần phải chú ý về nội dung

Ví dụ 4:

- Câu hỏi chính: Nước có thành phần và tính chất như thế nào?

- Câu hỏi phụ gợi mở:

+ Hãy cho biết kết luận rút ra được từ thí nghiệm phân hủy nước bằng dòng điện?

+ Viết phương trình hóa học biểu diễn sự phân hủy nước bằng dòng điện?+ Tỉ lệ thể tích giữa khí hiđrô và khí oxi thu được trong thí nghiệm

Qua đó học sinh sẽ trả lời từng bước rồi đi đến kết luận chung của nội dung cần trả lời

2.5 Sử dụng thí nghiệm hóa học để dạy học tích cực:

Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm, từ các thí nghiệm thực hành để giúp học sinh hiểu bài, vì vậy cần thiết tôi chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ hoá chất

để làm thí nghiệm, bố trí thí nghiệm không cồng kềnh, mang tính chất thẩm mỹ khoa học thao tác thí nghiệm của giáo viên phải thành thạo, nhẹ nhàng, khéo léo, giáo viên phải làm thử trước để tránh các trường hợp do hoá chất bảo quản không tốt hoặc do bố trí thí nghiệm mà dẫn đến thí nghiệm không thành công, giáo viên phải chuẩn bị để giải thích cho học sinh các tình huống bất trắc xẩy ra khi làm thí nghiệm

2.5.1 Khi sử dụng thí nghiệm hóa học để dạy học tích cực là phương pháp

đặc thù của các bộ môn khoa học thực nghiệm trong đó có hóa học

Sử dụng thí nghiệm để dạy học tích cực ở THCS được thực hiện theo những cách sau đây:

- Thí nghiệm để nêu vấn đề, thí nghiệm để giải quyết vấn đề dùng để nghiên cứu, đối chứng, kiểm tra lại hay dự đoán

- Thí nghiệm chứng minh cho một vấn đề đã được khẳng định

- Thí nghiệm thực hành dùng để củng cố lí thuyết và rèn kĩ năng thực hành

- Thí nghiệm trong bài tập thực nghiệm dùng để giải các bài tập bằng các thực nghiệm hóa học

2.5.2 Sử dụng thí nghiệm để dạy học tích cực có những mức độ khác nhau,

nhưng cần chú ý vận dụng cho phù hợp

Ngày đăng: 08/02/2015, 14:00

Xem thêm

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w