1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

luận văn của Nhã Thuyên

14 355 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 46,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều năm trở lại đây, thậm chí sự nổi tiếng về hoạt động xuất bản của họ dường như đã lấn át vị trí thơ ca trong sự nghiệp cá nhân của các nhà thơ, hình ảnh về Mở Miệng chỉ còn nổi bật

Trang 1

cuộc nổi dậy của rác thải[1]

Nhã Thuyên♦ ♦ 23.10.2012

1/

Tôi còn nhớ rõ cảm giác của mình, một nỗi buồn lạ lẫm thời sinh viên, khi lần đầu tiếp xúc với những bài thơ “dơ bẩn” của các thành viên Mở Miệng một người bạn của tôi in ra

từ mạng internet mang tới, thời điểm các diễn đàn văn chương mạng đang là một nguồn hấp dẫn mới, tôi nghĩ: phải chăng không có cách nổi loạn nào khác ngoài sự phá phách thơ ca? Sau đó, từ việc đọc và quan sát việc làm của họ, tôi thu nhận thêm những ý nghĩ mới và tôi tự cười chính cảm xúc nghiêm trọng ban đầu của mình Cho đến giờ, với tôi,

Mở Miệng là những người bạn: tôi được nhận những tập thơ họ mới xuất bản, chia sẻ những tin tức về họ, tôi đã đọc các ấn phẩm thơ của Mở Miệng từ tập thơ photo đầu tiên tới tập mới nhất, ngoài một đôi tập không thể tìm được nữa sau các đợt thẩm tra của công an văn hóa Tôi quan tâm tới sự thay đổi của các thành viên: từ 6 thành viên ban đầu, vốn là một nhóm bạn văn chương trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Sài Gòn khóa 1997-2001 gồm Lý Đợi, Bùi Chát, Khúc Duy, Nguyễn Quán, Hoàng Long, Trần

Văn Hiến (in chung tập Vòng tròn sáu mặt năm 2002), rồi Hoàng Long và Trần Văn

Hiến rời khỏi nhóm ngày sau đó vì những khác biệt trong quan niệm văn chương, bốn tác giả còn lại cho ra đời tập Mở Miệng (tháng 6.2002), rồi một thời gian sau, Nguyễn Quán

rời nhóm, đi tu, Khúc Duy sau tập thơ riêng Hầm bà lần (2004) cũng “mất tích” khỏi

văn đàn Trong vòng hơn mười năm qua, Mở Miệng, với hai thành viên còn lại là Lý Đợi

và Bùi Chát, bên cạnh việc ra các tác phẩm thơ riêng đã kiên trì theo đuổi các hoạt động

tự xuất bản với việc sáng lập Nhà xuất bản Giấy Vụn, một điểm nổi bật của phong trào xuất bản samizdat chống kiểm duyệt và đấu tranh cho tự do xuất bản, tự do ngôn luận ở Việt Nam đương đại Nhiều năm trở lại đây, thậm chí sự nổi tiếng về hoạt động xuất bản của họ dường như đã lấn át vị trí thơ ca trong sự nghiệp cá nhân của các nhà thơ, hình ảnh về Mở Miệng chỉ còn nổi bật như một nhóm thơ bất đồng chính kiến với đặc sản thơ tục, thơ rác, thơ phản kháng, nhất là sau sự kiện Bùi Chát được vinh danh bằng giải thưởng xuất bản và thường xuyên chịu sự theo dõi, bắt bớ, thẩm vấn của cơ quan an ninh.[2] Với tôi, sự kiên trì với hoạt động tự xuất bản này luôn đáng kính trọng, và đó thực sự là một biểu hiện của cuộc sống mang thi tính, không vừa với những trật tự Tuy nhiên, bởi sự thiên vị của tôi với các vấn đề thơ ca (chứ không phải sự lảng tránh những vấn đề khác), tôi không có tham vọng nhận diện đầy đủ, khách quan, tỉ mỉ về nhóm thơ nổi tiếng này, dù có thể là không công bằng nếu tôi nhìn các vấn đề thơ ca tách biệt khỏi các thực hành xuất bản và thậm chí, tách khỏi cuộc sống ngoài lề của họ Mở Miệng, tôi muốn coi là một nút thắt để mở ra những câu hỏi khác của thi ca Vậy, với tôi, Mở Miệng

là ai ở vị trí các nhà thơ? Các thực hành thơ của Mở Miệng, nổi bật là cuộc tấn công vào chất liệu với các tên gọi thơ Rác, thơ Dơ, thơ Nghĩa Địa, từng châm ngòi cho những tranh luận nhiều chiều, chủ yếu trên các diễn đàn văn hóa nghệ thuật liên mạng đặt tại hải ngoại, có tiềm năng cách tân và cách mạng như thế nào? Chúng đóng góp gì vào sự thay đổi nhận thức về thơ ca và với sự phát triển của thơ Việt đương đại? Thông qua việc phân tích tuyên ngôn và các thực hành thơ của Mở Miệng, tôi hi vọng những câu hỏi này

sẽ được sáng tỏ ít nhiều Bản sắc của các nhà thơ Mở Miệng sẽ được nhận diện từ chính ngôn ngữ thơ ca của họ, đặt trong một văn cảnh rộng hơn các văn bản thơ, bao gồm cả bối cảnh xã hội, văn hóa, chính trị và cả các diễn ngôn phê bình về thơ, hơn là từ những hành vi xã hội có tính chất tham dự vào bối cảnh Ở góc nhìn nào đó, thơ ca định vị mối quan hệ của nó với thời đại bằng kinh nghiệm riêng biệt của ngôn ngữ, và sự tra vấn thân phận của ngôn ngữ trong thời đại, ngược lại, sẽ định vị bản sắc cá nhân của nhà thơ

Trang 2

Sự chú ý tới các tra vấn về ngôn ngữ đặt ra từ các thực hành thơ của Mở Miệng, thú thật

là một sự dè chừng của tôi trước tiềm năng xây dựng một thứ huyền thoại về các hiện tượng thơ bất đồng chính kiến ở Việt Nam, thường bị quy giảm thành thơ phản kháng chính trị, điều (được cho là) hấp dẫn dư luận bên ngoài và được chú ý khai thác nhiều hơn, trong khi những tra vấn về các vấn đề mĩ học của thơ ca có thể bị giảm thiểu hoặc

có vị trí yếu hơn Chính bởi thế, tôi cho rằng đã xảy ra điều đáng tiếc với thơ ca Việt Nam: các tranh luận về thơ đương đại, nỗ lực của các nhà thơ, các nhà phê bình trong nhiều năm trước đã trở thành những dấu tích trong “cái ao” văn chương Việt Nam đương đại Dường như sẽ là một thiệt thòi cho các nền thơ ca được biết tới chỉ với những biến động của bối cảnh chính trị, bởi khi chính trị đã vượt ra khỏi những vấn đề địa phương thì sự bình đẳng của thơ ca một quốc gia trong nỗ lực chia sẻ với vận động của văn chương và thời đại ở phạm vi toàn cầu sẽ không thể có được nếu nó chỉ được chú ý như một thứ hương vị ngoại lai

2/

Trước khi đi vào phần chính của tiểu luận, tôi muốn phác lại đôi nét thông tin về các bài viết, các tranh luận xoay quanh tuyên ngôn và các sáng tác thơ của Mở Miệng nhiều năm trước để lý giải tại sao họ lại từng là điểm nóng trên thi đàn Đây là một phác họa hấp dẫn của biên tập viên Đinh Tuấn Anh về chân dung nhóm thơ đã từng gây náo loạn văn

đàn những năm đầu tiên của thiên niên kỉ này, trong chuyên đề Thơ trẻ Sài Gòn năm

2004 của báo điện tử văn chương Tiếng Việt chính thống trong nước Evan[3]:

“Có một nhóm sáng tác trẻ tự xuất bản những tác phẩm của họ dưới dạng photocopy, và coi đó như văn bản chính thức Họ rảo bước qua những đường phố Sài Gòn, những quán café, quán thịt chó, ngày và đêm, ánh đèn, xe cộ, bụi và tiếng ồn Họ làm thơ Rồi cả truyện, tiểu thuyết, tiểu luận, trình diễn, sắp đặt, nghệ thuật ý niệm (conceptual art), nghệ thuật thị giác (visual art)… và họ tuyên ngôn Tự xếp mình, đúng hơn là tự xem mình nằm trong các trào lưu tiền phong, chẳng hạn như hậu hiện đại, họ đẩy thơ vào

“ngõ cụt”, chiếu bí người đọc bằng ý thức đổi mới ngôn ngữ Họ sẵn sàng thách thức những người làm thơ khác về tính chuyên nghiệp, tính học thuật trong thơ; nhất là, như

họ nói thẳng thắn, với lớp nhà thơ bảo thủ, không chịu rời bỏ những sở trường của mình

Và tất nhiên, họ chấp nhận bị thách thức.”

Nhiều người sẽ còn nhắc nhỏm rằng một phần chính vì chuyên đề này mà Đinh Tuấn Anh, và cùng với anh là Trần Tiễn Cao Đăng “được” thôi nhiệm kì làm việc tại Evan vào năm 2005, và toàn bộ dữ liệu của Evan về thơ giai đoạn 2004-2005 bị gỡ sạch Năm

2005, Đinh Tuấn Anh, trong vai trò là trợ lý cho giám đốc Viện Goethe Hà Nội tiếp tục đề xuất chương trình đọc thơ của Mở Miệng tại Viện Goethe Hà Nội (được ấn định vào lúc 18h30 thứ 6 ngày 17/6/2005) và chương trình bị hủy theo thư yêu cầu của Bộ văn hóa

Mở Miệng trở thành một điểm công kích của truyền thông dòng chính với những bài báo

mà các nhà thơ Mở Miệng xem là “không đáng trả lời”[4] Cho đến nay các báo chí trong nước vẫn từ chối các bài viết về Mở Miệng, hay thậm chí việc điểm danh cũng không dễ

được chấp nhận Việc xuất bản sách chính thức cũng vậy, trong cuốn sáchThơ đến từ đâu (nhà xuất bản Lao Động, 2009) của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, đang sống tại

Canada, gồm loạt bài phỏng vấn các nhà thơ trong nước và hải ngoại đăng tải nhiều kì trên Talawas trước đó, phần phỏng vấn Lý Đợi bị gạt bỏ, và tên Bùi Chát thậm chí bị viết tắt, không nói tới những biên tập cắt xén khác đã khơi mào cho những tranh luận đến giờ vẫn chưa có hồi kết trên các diễn đàn mạng trong/ngoài Việt Nam Những sự kiện như vậy cho thấy, chính truyền thông chính thống dán nhãn thân phận “ngoài lề” cho họ,

và sau đó, Mở Miệng đã bị đối xử như một taboo, thậm chí với cả giới hàn lâm trong các viện và các trường đại học

Trang 3

Những cổ vũ nhiệt thành bằng việc dịch, giới thiệu sang tiếng Anh của Đinh Linh, sự xuất

hiện với tư cách cá nhân trong các tập thơ Việt xuất bản ở hải ngoại như 26 nhà thơ Việt Nam đương đại (Tân Thư xuất bản, Hoa Kỳ, 2001), Tuyển tập Tân Hình

Thức (CLB Tân Hình Thức, 2006, Khế Iêm chủ trương), các bài báo giới thiệu Mở Miệng

chủ yếu như một nhóm thơ phản kháng[5] cho thấy sự tham dự năng động của các tác giả này cũng như sự hấp dẫn của hiện tượng Mở Miệng ở bên ngoài Việt Nam Ở trong nước, Inrasara, một nhà thơ, nhà phê bình trong Hội nhà văn có tham vọng nhận diện thơ Việt đương đại ở tất cả các khu vực, không kể chính thống/phi chính thống đã từng

cố gắng lập lại biên bản về không gian sôi động của thơ ca giai đoạn đó với bài

viết Khủng hoảng thơ trẻ Sài Gòn, xuất bản trên Tiền Vệ (2005) và được đưa vào

cuốn Song thoại với cái mới (2008), “không bị biên tập một chữ” theo lời tác giả –

dường như là bài viết duy nhất được xuất bản chính thống cho đến nay Xin được trích dẫn một đoạn:

“Đeo vào bộ mặt cực đoan đến quá khích, nhóm Mở Miệng cùng với sản phẩm của thơ của họ như “làn gió thối thổi vào không khí thơ” phẳng lặng hôm nay Bản thân nó là một khủng hoảng Nó đột ngột xuất hiện và gây sốc, cố tình lôi kéo sự chú ý của chúng

ta về khủng hoảng chung của thơ Việt, một khủng hoảng cần được nhìn nhận như một

tín hiệu tốt lành.”[6]

Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Hiếu (một bút danh khác là An Vân) đã tiếp cận Mở Miệng, những kẻ “viết văn với cây búa của Nietzsche”, như một nguồn nguyên liệu tươi mới cho việc khám phá bản chất khiêu khích của văn chương, đề xuất nhiều vấn đề có tính lý thuyết và cách thức tiếp cận thơ ca đương đại.[7] Sự chào đón nồng nhiệt của nhà phê bình Đoàn Cầm Thi[8], thái độ ủng hộ rõ rệt của các nhà thơ và bạn bè Nam – Bắc, trong/ngoài nước như Nguyễn Quốc Chánh, Đinh Linh, Đỗ Kh., Đặng Thân, Nguyễn Đăng Thường, Trần Wũ Khang, Như Huy[9], Liêu Thái v.v đã góp phần kích thích văn đàn và đồng thời, tạo nên một thứ “huyền thoại” về Mở Miệng, những nhà thơ du thủ du thực ở Sài Gòn, những từ ngữ công dân hẻm 47, La Hán Phòng, xuất bản photo, thơ dơ, thơ rác, thơ phản kháng, cuộc cách mạng thơ, làn gió thối của thơ ca… trở nên nổi tiếng Phản ứng ngược lại, tiêu biểu là các bài viết của Phan Nhiên Hạo[10], một cảnh giác với không khí ngợi ca đang có nguy cơ lấn át văn đàn đã tiếp tục “hâm nóng chảo thơ” (từ dùng của Lý Đợi) Có thể nói, sự cực đoan của Mở Miệng trong phát ngôn và sáng tác đã

là một cú hích cho những trao đổi, đặt vào thời điểm cộng đồng văn chương trong – ngoài Việt Nam đang có nhu cầu đổi mới mạnh mẽ Vượt ra ngoài ý nghĩa văn chương, những trao đổi này tiết lộ một khí hậu đời sống và nghệ thuật rộng hơn ở Việt Nam đương đại Một mặt, trong quan hệ với truyền thông chính thống, sự xuất hiện và hoạt động của Mở Miệng cho thấy sự ngột ngạt của kiểm duyệt văn hóa, sự gay gắt mỗi lúc một tăng của mối xung đột chính thống và phi chính thống Mặt khác, qua các bài viết của những người “cùng hội cùng thuyền đâu xa”, cùng xuất hiện trên các diễn đàn phi chính thống, dù ở hải ngoại hay trong nước, Mở Miệng có thể coi là một điểm nút để nhìn lại thơ Việt, trong đó nổi bật lên các vấn đề: sự cách tân, thơ và chính trị, tiềm năng phản kháng của thơ, thanh và tục trong thơ, hậu hiện đại… Tính chất tự do và rộng mở của không gian mạng thu hút nhiều ý kiến đa chiều, dù là các tranh luận nghiêm túc hay

sự tán dương quá khích, tạo thành một vùng thông tin giàu có mà những nhà văn học sử

và những nhà nghiên cứu văn hóa có thể coi như một nguồn dữ liệu quan trọng

3/

Mặc dù chúng ta biết rằng mỗi nhà thơ quan trọng đều mang tiềm năng giải trung tâm các quan niệm thơ, các sáng tác của họ không bao giờ chỉ đơn thuần là sự góp thêm vào những bài thơ mà luôn mang nỗ lực đưa ra những ý niệm về hành vi làm thơ, nỗ lực phá

Trang 4

hủy và đề nghị, nhưng không phải lúc nào nó cũng trở thành một tuyên ngôn hay một yếu tố có tính gây hấn – và thật nghịch lý, từ “cách mạng” xuất phát từ một lĩnh vực dường như không dính đến thơ ca lại thường được dành để chỉ các hành vi thơ Bài

viết Thơ và chúng tôi không làm thơ của Lý Đợi, Talawas 16.04.2004 & 17.04.2010,

thường được coi như tuyên ngôn của nhóm Mở Miệng, bắt đầu bằng một phản ứng trước việc các nhà phê bình ở Việt Nam dường như không nhìn ra được chuyển động thật sự của thơ trẻ Việt, cụ thể là không nhìn ra sự khác biệt của thơ trẻ ở Sài Gòn Phản ứng về

sự nghiêng lệch quyền lực định danh và định vị đi cùng nhu cầu và nỗ lực phơi mở cái vắng mặt, cái còn ẩn giấu, cái chưa được nhận diện trong thơ Việt, nhu cầu cất lên tiếng nói tự bên trong của một hiện hữu đang bị trấn áp Sau khi đưa ra bài thơ với thủ pháp giễu nhại của Bùi Chát, họ nhắc tới Dada như một nguồn cảm hứng:

“Chúng tôi (những cây viết trẻ ở Sài Gòn) gọi kiểu này là thủ pháp pastiche – phỏng nhại, cài-đặt-lắp ráp Giống như thủ pháp collage - cắt dán mà Dada đã làm với tranh cắt-xé-dán và tranh giấy tổng hợp Hay cũng có thể gọi là sự cưỡng chế Bài thơ của Thanh Tùng đã bị Bùi Chát cưỡng chế (Như cái cách của chủ nghĩa Hậu hiện đại cưỡng dâm cái cách của chủ nghĩa Hiện đại) Vậy thì sự sáng tạo ở đâu? Sự sáng tạo ở ngay cái ngưỡng hành động của cái cưỡng chế và cái bị cưỡng chế.”

“Thơ nhiều khi chỉ là chuyện gây hấn, một chút hài hước, một cú sốc nhận thức, thậm chí là một trò đùa vui nơi bàn nhậu, chẳng kém phần nhảm nhí […] Chúng tôi không làm cái gì quá cao cấp, quá dung tục hay lập dị, bởi chúng tôi vẫn nghĩ rằng bên dòng thẩm mỹ chính thống đại trà, đã/đang tồn tại một thứ thơ khác – thơ của chúng tôi/thẩm

mỹ của chúng tôi, thẩm mỹ của những người mải mê làm thơ, chứ không phải của những nhà phê bình hay đạo đức, luân lý hay xã hội học.”

Không bàn đến mức độ thẩm thấu các lý thuyết phương Tây như thế nào, ở đây, tôi muốn nhấn mạnh đến thái độ tuyên chiến quyết liệt với ý thức thẩm mĩ cũ, như phẩm chất của những người tự nhận lãnh sứ mệnh tiên phong, biểu hiện rõ nhất bằng sự gây hấn về quan niệm thơ, điểm cốt lõi làm nên giá trị bản tuyên ngôn của Mở Miệng, một tuyên ngôn dường như mang tính ứng khẩu hơn là được chuẩn bị kĩ lưỡng: “Chúng tôi không làm thơ” Phát ngôn này có thể được nhìn trong ý nghĩa rộng: một cuộc đối

thoại/đối đầu của hiện tại với quá khứ, của cái mới mẻ, tiền phong với sự già cỗi, bảo thủ Chúng ta biết rằng những lối thơ – phản thơ xuất hiện trong những thời điểm khủng hoảng không phải hiếm hoi, để chống lại những hình dung về thơ của cộng đồng đọc phổ biến đã được cố định hóa ở những đặc điểm nào đó (như vần điệu, nhạc tính, ngôn từ thi hóa)

Đề xuất của Mở Miệng về việc thực hành thơ mang tính ý niệm hay cái gọi là nghệ thuật

ý niệm không nên được xem là một sản phẩm bắt chước cái ngoại nhập thời thượng hay một sự đột biến không có mối dây dưa với “truyền thống”, mà nhiều hơn là một nhu cầu

từ bên trong Trong tuyên ngôn này, khi dùng cụm từ “thực hành thơ”, ý hướng phản thơ

để tồn tại như một Cái Khác của Mở Miệng biểu hiện ở cả hai phương diện: phản thơ ở

chất liệu,“không ngại bất cứ đề tài nào, ngay cả những thứ mà thẩm mỹ thơ Việt còn xa

lạ hoặc xem là dung tục” và phản thơ bằng hành vi “không làm thơ”, đề xuất một ứng xử khác của chủ thể với chất liệu của họ, với thơ, xác quyết thuộc về “mạch ngầm”, “thơ chúng tôi không đi qua cửa biên tập của nhà xuất bản.” Phản thơ, đồng thời cũng là một thái độ phản kháng kép: không phản kháng trong mối quan hệ với truyền thống mà họ coi là ý thức thẩm mỹ cũ, các nhà thơ Mở Miệng phản kháng cả xu hướng làm thơ

vớichữ hay với nghĩa nhằm tra vấn những chiều kích mới trong các đơn vị cấu thành ngôn ngữ, đề xuất việc làm thơ như một hành vi Toàn bộ con người nhà thơ, bằng các

thao tác, bằng môi cảnh… vẫn làm ra bài thơ, nhưng bài thơ ấy không tồn tại độc lập mà

là một mắt xích trong chuỗi tương tác vô tận

Trang 5

Kẻ ngồi lề nhận ra tình thế ngồi lề của mình, nhận ra cái khác của mình, đồng thời nhận ra sự tồn tại của mình khơng được thừa nhận hay đang bị đè nén Khơng muốn mình thuộc về bĩng tối, họ đặt câu hỏi về cách mạng và kẻ lãnh nhận cách mạng thơ, họ đặt câu hỏi về chính từ “khơng chính thống” được dán nhãn cho họ, như dán nhãn một

loại thực phẩm lạ cần cảnh giác Đồng thời với tuyên ngơn, sự xác quyết về Cái Khácnày

sẽ được thực thi bằng những quan niệm thơ mà Mở Miệng triệt để thực hành: thơ Rác, thơ Dơ, thơ Nghĩa Địa, những thực hành được gợi cảm hứng từ các trào lưu nghệ thuật rác và dơ trên thế giới Nĩ khơng phải cái đột biến, mà là sự thức tỉnh Phát ngơn khẳng định sự hiện diện của Mở Miệng cho người đọc phản tư về tình trạng đơng cứng của quan niệm thơ ca, ý thức về sự thiếu hụt của thơ Việt khi đặt vào một khơng gian rộng lớn thời tồn cầu hĩa Trong sự tạo nghĩa lại quan niệm về thơ và làm thơ, chữ “khơng” chính là khoảng chơi tự do của ngơn từ lẫn ý thức Chính vì thế, cũng như việc thêm các tiền tố “post” vào các chủ nghĩa, cuộc giải trung tâm quan niệm thơ, nhu cầu định nghĩa lại luơn khơng cĩ hồi kết Những gì đang đặt nền tảng cho các thiết chế, cả sáng tạo lẫn

phê bình, sự quy chiếu cái này là thơ cái kia khơng phải là thơ vào một hình ảnh thơ siêu

hình, trừu tượng nào đĩ chính là những gì cần phá dỡ, để mở ra những khả năng khác của việc đọc và viết, tạo cho đời sống thơ đương đại và chính những cá nhân tham dự khả năng khơng an ổn Mỗi một kẻ làm thơ trong cảm thức hậu hiện đại, những kẻ sống với cảm giác về nỗi bế tắc, sự dối trá của sáng tạo, đều phải thức tỉnh về hành vi làm thơ mang tính chất cá nhân đĩ: làm thơ, nghĩa là tạo ra những khả thể, hay những ý niệm

về thơ Sự truy nguyên một quan niệm thơ và làm thơ về thơ là bất khả và vơ nghĩa, chủ thể làm thơ luơn phải rượt bắt những quan niệm luơn trượt đi, một cuộc rượt bắt, theo nghĩa nào đĩ, đã xĩa đi ranh giới của Chơi và Thực, của Làm và Khơng Làm, của nghiêm túc và nhảm nhí, và dường như là cuộc rượt bắt khơng tránh khỏi

4/

tơi ngịch thơ

jã chàng ngịch cát

con lít ngịch những thứ khác

Thơ Rác, thơ Dơ, là những khái niệm được đề xuất bởi Bùi Chát – bắt đầu với tập Xáo chộn chong ngày(2003), một tập thơ quan trọng cho thấy sự chuyển đổi và ý thức

lật đổ quan niệm cũ của Bùi Chát với slogan “thơ jác từ jưởi” Ý hướng này tiếp tục được anh phát triển với thuật ngữ thơ Nghĩa Địa, được trình bày rõ ràng trong phần

Hỏa/Mù/Mờ thay cho lời giới thiệu tập thơ Xin lỗi, chịu hổng nổi (2007) Tơi xin trích lại

tồn bộ:

Hỏa/mù/mờ

Sau gần hai năm ngưng hẳn các hoạt động liên quan đến văn chương, xuất bản vì lí do sức khỏe Đầu tháng 8, tơi bắt tay vào thực hiện “Cĩ jì dùng jì cĩ nấy dùng nấy”: dự án

về xuất bản thơ vỉa hè, một 1 tập thơ chung 47 tác giả & nhiều tác phẩm cá nhân khác

Vì nhu cầu của dự án, tơi lục lại bản thảo cũ & tìm thấy: Xin lỗi, chịu hổng nổi

Xin lỗi, chịu hổng nổi vốn dĩ là tập 1 của Xác ướp trở lại, tập thơ nghĩa địa 333 bài

được hồn tất 2004, tơi cũng thực sự khơng hiểu vì sao đến giờ vẫn chưa được (tơi) xuất

bản Tập thơ nghĩa địa này lại là phần rất quan trọng trong Made in Vietnam, một tác

phẩm ý niệm (conceptual art) đã gây tranh cãi

Cơng việc của tơi chỉ đơn giản là tách một bộ phận của một phần trong một dự án đã hồn tất, để tạo thành 1 bộ phận của 1 phần trong 1 dự án khác đang thực hiện, khi tham gia “Cĩ jì dùng jì cĩ nấy dùng nấy” – phần 2 với tư cách tác giả Thao tác này cũng hệt như thao tác lấy 1 bài thơ đã hồn chỉnh của người khác làm thành bài thơ (cĩ thể sẽ) khơng hồn chỉnh của mình

Trang 6

Mục đích để tập thơ được trở về đúng vị trí & vai trị cả nĩ: hàng nghĩa địa.

Tại sao tơi phải làm như vậy ư? Dĩ nhiên cĩ rất nhiều giải pháp cho một câu hỏi đại loại như thế, và điều quan trọng trước tiên vẫn là: khơng tổ chức hoặc cá nhơn nào bắt buộc hay dụ dỗ/mua chuộc tơi cả Chỉ vì muốn thực hiện triệt để cái chủ trương của tơi nhiều năm qua: Khơng cố gắng tạo ra bất cứ điều gì mới mẻ, nếu được: nên sử dụng lại những cái đã/sẵn cĩ

(Thế chẳng phải đỡ tốn cơng sao?)

Cuối cùng tập thơ là một bộ phận khơng thể tách rời của thơ rác & nghệ thuật rác, vấn

đề tiêu điểm gây chia rẽ dư luận nhất của Mở Miệng nhiều năm qua Việc thực hành thơ nghĩa địa – thơ rác một cách ý thức và triệt để, theo thiển ý của tơi đã đưa các nghệ sĩ

Mở Miệng & những người cùng ý hướng trở thành những tác giả (cĩ lẽ) mang màu sắc truyền thống nhất trong lịch sử văn hĩa/chương Việt Nam

Lịch sử một nền văn hĩa/chương rác.”

Nhìn ở cấp độ ý niệm về thơ, dễ dàng đồng thuận rằng Bùi Chát và các nhà thơ Mở Miệng đã tiếp nhận nghệ thuật phương Tây, với Dada, Pop Art đồng thời dùng các

phương cách được tiếp nhận này như một thái độ, một dạng phản ứng với quá khứ với một thái độ hủy diệt và lật đổ trong sự nhạo báng: quá khứ văn chương trở thành một bãi rác vơ tận mà họ được quyền nhặt nhạnh để sử dụng lại Việc dùng ngơn từ vốn được cho là tục tĩu cũng chia sẻ ý hướng làm việc với các chất liệu dơ bẩn, quá khích, gây sốc trong nghệ thuật đương đại

Phần nhiều những bài thơ ở Xáo chộn chong ngày như các tiếu lâm dân gian, kể

chuyện về những vật nhỏ nhoi, cái tưởng như vơ nghĩa, cái chỉ tồn tại trong đời sống thơng tục, một thế giới ngầm, chuyện cái chổi, những người đàn bà đang là chuột dưới cống, quần lĩt, cái bát, chuyện mấy cái lơng, rắm rít, sự giao cấu, và tất nhiên, nhiều chuyện vốn bị cho là tục tĩu khác (và những kiểu chơi chữ như vậy thật khĩ dịch sang

một ngơn ngữ khác) Sau đĩ, Bùi Chát dành hẳn một tập theo “ý niệm” chửi bới lộn Cái lồn bỏ đi và những bài thơ chửi rủa [bới, lộn], khai thác cường độ mãnh liệt của

ngơn ngữ bình dân, tiếu lâm Chủ nghĩa đa phương ngơn ngữ (plurilingualism) ở Bùi Chát được thực hiện triệt để với sự biến thái về ngơn ngữ theo kiểu dùng phương ngữ Bắc Bộ, nhưng khơng phải ngơn ngữ của đơ thị và ngơn ngữ chính thức hĩa với quy tắc chính tả được chấp nhận mà là ngơn ngữ của vùng nơng thơn (mà Thái Bình – quê gốc của Bùi Chát là một vùng điển hình của thứ ngơn ngữ “sai lạc” với ngơn ngữ quy chuẩn), ngơn ngữ thế tục của những kẻ dưới đáy, vốn chỉ cịn trong truyện tiếu lâm dân gian, một thứ taboo với ngơn ngữ văn chương đương thời, khác với kiểu “phu chữ” nơi phịng văn để

tìm độ bĩng chữ, những chữ lạ, từ độc của những nhà thơ dịng chữ [11] phía Bắc như

Lê Đạt, Dương Tường Khi đưa những cái tục vào trong thơ của mình, Bùi Chát khơng

thách thức, khơng văng tục để thách thức, mà viết và sử dụng từ ngữ như những vật liệu

bình đẳng, nơi thơ ca khơng phải chỉ là thế giới của thứ ngơn ngữ cao sang, tinh tuyển, nơi con người − những kẻ tưởng mình cĩ quyền năng sử dụng ngơn ngữ, nếu đối xử với chúng như cơng cụ vơ tri cĩ thể bị ngơn ngữ làm phản, lật mặt bất thần Sự lệch chuẩn

− cái mà các nhà thơ thường cố cơng đi tìm − nằm ở tự bản thân đời sống mà nhà thơ phát hiện ra và biến nĩ thành một quy tắc thơ, từ đĩ khai mở những khía cạnh mới của hành vi làm thơ trong tương tác với ngơn ngữ và hiện thực đời sống thơng tục

vơ địch

một con cặc tầm thường, nĩ giữ theo cách cha ơng dạy

bảo vệ, nâng niu – khơng gì sai sĩt

nĩ gồng mình chịu trận dù muốn một phát

huy xứng đáng cho cặc tính mình

thề trinh tiết đến cùng, tuy gái gú theo

Trang 7

bởi phẩm hạnh mỗi ngày nó soi gương, quấn vải

quanh háng [thật] nhiều lần nhằm sở hữu… tương lai được chuẩn bị

từng cái lồn bỏ đi như những dòng sông nhỏ

nó đâu biết [bọn] cha ông ngỏm từ khi nó lọt lòng

nửa đời không ai đụng, nó không chạm ai

vẫn còn… nguyên si & đen đúa

để yên ủi mỗi khi về già nó lén lút chuyển

con cặc ra sau rồi đâm vào đít

[thut thit]

phụ chú: tựa bài thơ có thể đọc là vô địt… theo cách phát âm của một số vùng Bắc Bộ Trong xu hướng triệt tiêu cảm xúc, khai thác bề mặt, sử dụng và khai thác cái tục tĩu, mức độ thành công của các tác giả Mở Miệng không như nhau Khúc Duy, khi văng tục

hầm bà lần với tập Hầm bà lần (2003), một tập thơ chủ trương “tiếp tục tĩu”, đã chỉ bày

ra một cơn trút xả vô nghĩa, chán chường Bùi Chát nói tục như người kể chuyện dân gian, như Ba Giai, Tú Xuất, Thủ Thiệm, như một cách thức khuyến mại thơ cho những lỗ tai đã ngấy cái thanh, Lý Đợi khai thác nhiều nguồn chất liệu thông tục cho thơ từ báo chí, một cách diễn giải lại các văn bản báo chí, và các văn bản xã hội khác, đưa thơ tiến gần đến các khẩu hiệu và sự nhại lại các khẩu hiệu Họ đã tạo thành một cái chợ đồ Tàu

đồ Ta, đồ chính hãng, đồ nhập lậu thập cẩm Sự đóng góp trước hết của Mở Miệng trong việc thực hành thơ dơ là sức mạnh của quá trình giải điển phạm quan niệm thẩm mĩ về một thứ ngôn ngữ thơ “văn chương, “cao quý” đã trở thành một lực cản của sáng tạo ở Việt Nam, đưa ra một ứng xử mới với ngôn ngữ và chất liệu thơ Sự đóng góp của họ không nằm ở việc dùng những từ “tục tĩu” mà ở tinh thần carnival hay chất thơ quảng trường, đưa thơ gần với hành vi một sinh hoạt văn hóa – tập tục dân gian Lập luận rằng việc dùng một cách công khai và vô tội [vạ] các từ chỉ bộ phận sinh dục, hành vi tính giao bằng từ ngữ nguyên thủy của nó như lồn, cặc, đụ, địt… là nỗ lực trả lại sự bình đẳng của từ ngữ ít nhất đã có một sức hấp dẫn mạnh mẽ ở tính chất lật đổ của nó

Thực tế, ở Việt Nam, việc sử dụng ngôn từ tục tĩu nhằm thác hiệu ứng có tính chất chính trị của ngôn ngữ dường như còn là một thái độ thơ Dòng văn tục − thường bị loại trừ, bị chèn ép nhưng luôn tồn tại một mạch chảy trong đời sống văn chương các dân tộc − có thể truy nguyên từ các hình thức hề chèo dân gian, truyện tiếu lâm… Trong suốt ba mươi năm chiến tranh ở Việt Nam, dòng chủ lưu là văn thơ cách mạng đã bị “ý thức hệ” thành một hệ thống ngôn ngữ công thức, xa rời đời sống Để đòi lại quyền lên tiếng của thơ ca, nhiều nhà thơ đương đại sử dụng cái tục để chống lại sự cấm đoán việc dùng nó, đồng thời cũng là một cách tấn công vào những taboo khác, để bày tỏ nỗi căm uất và bức bối

về chính trị, hay nhu cầu giải phóng những áp chế về tình dục Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh coi cái tục là “những biến chứng của ám ảnh chính trị trên thân xác”, là cách “nhổ vào ngôn ngữ tuyên huấn giả trá” bởi ông cho rằng: “Ở đâu con người còn bị tước đoạt quyền tự do ngôn luận, quyền bày tỏ chính kiến, thì ở đó phương tiện nào trở nên hữu dụng nhất để làm văn chương phản kháng đều có lý để được chọn lựa, bởi đây là một vùng phi lý thuyết.”[12] Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc trong một tiểu luận đã phát ngôn rằng: “Sống trong một xã hội như xã hội Việt Nam, chỉ có thánh may ra mới không biết chửi tục.”[13]

Ý thức gây hấn bằng chất liệu và từ ngữ “dơ bẩn” của Mở Miệng chỉ là một trong những biểu hiện đa dạng của những phản tư về ngôn ngữ trong thơ đương đại, nhưng nó gây

ồn ào, một phần bởi những thực hành này dường như vượt ra ngoài những đường biên của ngôn ngữ khi động đến chuẩn thẩm mĩ của con người, nó không chỉ gây sốc thị giác,

mà còn gây sốc nhận thức, nó sử dụng những thứ là của chung xã hội, nhưng cũng vấp phải những cấm kỵ của xã hội Bất cứ khi nào chạm đến những cấm kị thì câu hỏi về sự

Trang 8

tự do của nghệ thuật lại được đặt ra Cĩ giới hạn nào cho sự tự do này khơng? Điều này nằm trong bản thân nhận thức của mỗi người, cái nhận thức luơn bị giới hạn trong những taboo được thêu dệt, khơng phải là cái ngồi ta, mà nằm sẵn trong ta Khi thơ dơ địi vượt quá ngưỡng thẩm mĩ quen thuộc của con người, chúng đã gây nên một nỗi nghi ngại về thái độ buơng xả hồn tồn của ngơn ngữ, sự “thiếu quy tắc” của chính bản thân nhà thơ, ngay cả ở lớp độc giả tiền vệ Trong việc sử dụng cái tục như một phương tiện, một thao tác xử lý văn bản, ở khía cạnh nào đĩ, các nhà thơ Mở Miệng đã nỗ lực giải

quyết vấn đề được nĩi, và sự lặp lại, sự rậm rạp của ngơn ngữ tục đến nỗi bịt kín những

lối đi khác, việc “cái khơng thơ” sốn ngơi, đội vương miện khiến sự sáng tạo thành một lực cản mới Gương mặt và cơ thể dơ bẩn của thơ ca sẽ đưa thơ đến đâu? Nhìn rộng ra,

sự tranh luận về Thanh − Tục sẽ cịn kéo dài bất tận trong lịch sử văn chương Ý thức về văn minh hình thành nên cấm kị Và khi cấm kị thành sức mạnh cưỡng áp thì sự giải bĩ

nĩ là một nhu cầu của sáng tạo Nhưng cái tục khơng phải là chốn cư ngụ duy nhất của thơ ca, và trong lý tưởng về sự ứng xử bình đẳng với chất liệu và các từ ngữ, thơ ca luơn

tự hiểu rằng nĩ phải tìm được một năng lượng sống, và năng lượng này, như những nguồn sống dân gian, sẽ giữ gìn sự sống của nĩ

Song hành với thơ Dơ, thơ Rác cũng là một đặc sản của Mở Miệng với thủ pháp giễu nhại Thao tác này gây tranh luận khi các tác giả khơng chỉ nhại chính mình, (như Bùi

Chát thực hiện chế lại, nhại lại các bài thơ của mình ở tập Xáo chộn chong ngày,

bằng cách làm méo mĩ câu chữ, đảo ngược quy tắc chính tả, dùng phương ngữ Bắc bộ

và các vùng miền khác, nhằm hủy hoại cảm xúc, chủ thể thơ bị soi vào một tấm gương lồi, phình đại, méo mĩ) mà ứng dụng chế biến thơ từ những nguyên vật liệu cĩ sẵn là các bài thơ nổi tiếng và được phổ biến rộng rãi, cũng như việc Duchamp lấy bức tranh

Mona Lisa hay cách Andy Warhol sử dụng hình ảnh của Monroe Một ví dụ trong tập Xin lỗi, chịu hổng nổi, Bùi Chát dùng bài thơ Chọn lựa của Văn Cao thành bài thơ diễn giải

về bài thơ này Chọn lựa của Văn Cao:

Chọn lựa của Văn Cao

Giữa sự sống và sự chết

Ơng chọn sự sống

Để bảo vệ sự sống

Ơng chọn sự chết

Thế là hết [the end]

Nguyên liệu: Chọn của Văn Cao

Bài thơ của Văn Cao, thường được đọc như một bi kịch của lựa chọn, một khát vọng hướng thượng, một thứ mĩ học sự sống, đã nảy ra cái hài ngay trong sự nghiêm trang của nĩ Thêm vào mấy chữ “thế là hết” (the end) như một bình luận của người xem khi kết thúc một vở kịch vừa hài hước vừa bi thảm, Bùi Chát chế nhạo lý tưởng hướng

thượng mang nặng tính chất ý thức hệ, đang trở thành một thứ “tử ngữ” nghiêm trọng

mà thơ ca cĩ lẽ cần đào sâu chơn chặt Bằng cách đĩ, tiếp tục lối kể chuyện tiếu lâm dân gian, hoặc học các thao tác của thơ tuyên truyền, thơ bờ tường, thơ Bút Tre, thơ khẩu hiệu, Bùi Chát lơi tuột những lý tưởng cao vời, những suy tư sâu xa xuống các vấn đề thực hữu, trong thứ ngơn ngữ khơng siêu hình, khơng triết lý mà mang niềm vui, tiếng cười, sự giải tỏa, cùng lúc, đem lại sự phản tỉnh, những giật mình thú vị, tất nhiên, người

đọc nĩ phải chia sẻ một khơng gian văn hĩa Việt Nam Ở đây, sự chơi tự do với ngơn ngữ

và nguyên liệu bằng các thao tác thêm từ, cắt câu, ghép, râu ơng nọ cắm cằm bà kia tạo nên những bài thơ nổi tiếng mới của Bùi Chát, khơng phải để xĩa bỏ bài cũ, mà là để cùng tồn tại song song, và ngơn ngữ thơ do đĩ, cĩ thể gia tăng ý nghĩa Đĩ là lí do khiến cho, mặc dù thao tác hết sức đơn giản và cĩ thể nhanh chĩng áp dụng với các bài thơ khác, thậm chí các nhà thơ và các khơng – nhà thơ khác cĩ thể làm ra vơ vàn, thừa thãi,

Trang 9

nhảm nhí chỉ cần với trình độ đọc hiểu căn bản về ngôn ngữ, nhưng, như hành vi thêm râu của Duchamp, nó là một dấu mốc của việc tái định nghĩa cái đã có, nhất là những cái

đã và đang có nguy cơ biến thành chân lý, thành thiết chế, như thiết chế của niềm tin tuổi trẻ về lý tưởng, sự lựa chọn, về thơ ca, về quá khứ, về Hồ Chí Minh,…

Thao tác nhại của Lý Đợi lại được tiến hành chủ yếu trên nguồn nguyên liệu rác là các bài thơ bài thơ Đông Âu có nội dung chính trị và bình luận xã hội mạnh mẽ qua các bản dịch của các nhà thơ, dịch giả Việt Nam như Hoàng Ngọc Biên, Diễm Châu…, các bản tin thời sự báo chí, các văn bản xã hội, Kinh Thánh để bày tỏ sự tương tác thơ một cách trực diện, nhằm giễu nhại các đối tượng chính trị Những thông tin thời sự được lưu giữ trong

văn bản thơ đã chứng tỏ chúng không phải là những thứ tiêu dùng và tiêu tùng, mà

chúng tiết lộ các đặc điểm của thể chế, của hệ thống chính trị, của văn hóa, của sự phát

triển hay tàn lụi của bối cảnh xã hội, văn hóa ở Việt Nam Ví dụ, bài thơ Hiện thực xã hội chủ nghĩa của Lý Đợi có nguồn từ bài Hiện thực xã hội chủ nghĩa của Ryszard Krynicki do

Hoàng Ngọc Biên dịch, đăng trên Tiền Vệ:

Hồn ma là chim bồ câu hòa bình

Xác người là đĩa mồi nhậu

Với chai rượu trắng nhỏ, vỏ chai màu đỏ

Lá cờ màu trắng – cắm ngay giữa mỏ

Đun qua xỏ lại

Ngồi xuống đứng lên

Bên thằng bán kem

buổi chiều êm đềm

dọc tường vôi vàng

trong hẻm 47

vài tên nghe lén

mặt như đầu rắn

những không thể cắn

thế mới cay đắng

v.v

Bài Mới khai quật được bản sắc văn hóa Việt Nam là ví dụ của một thứ dân gian đương

đại, lấy nguồn từ talaCu ngày 7.12.2005, kể chuyện một ông nông dân ở Thanh Hóa đã tìm thấy bản sắc văn hóa Việt Nam trong khi đang đào ao nuôi cá Ông Cù kể: “Chúng tôi đào sâu năm mét thì gặp phải vật lạ Khi tôi và anh em lôi được nó lên thì tôi nghi ngay đây là bản sắc văn hóa Việt Nam vì tôi thấy nó rất là kì dị….”

Tuy nhiên, khi tác giả kết luận:

“Bản sắc văn hóa Việt Nam

Nó giống như một cái xác chết thối

Giống như một cái gối cũ

Như một vết thương bưng mủ

Được lôi lên từ vũng bùn

Đầy mùi xú ế…”

thì bài thơ bộc lộ sự dễ dàng và ít tiếng cười

Bởi vì không có nhiều sự phân biệt về nội dung hay thi liệu của văn bản gốc và văn bản thơ của các nhà thơ, và hành vi truy nguyên gốc các bài thơ cũng là bất khả và vô nghĩa, như việc tìm lại những mẩu báo ngày, tôi nghĩ khi chuyển sang một ngôn ngữ khác, khi

bị bứng khỏi môi cảnh là đời sống ở Việt Nam, những bài thơ của Lý Đợi có thể sẽ mất đi tiếng cười và ý nghĩa giễu nhại Những bài thơ của Lý Đợi, được đọc lên bằng giọng trực tiếp của tác giả, theo âm Điện Bàn, Quảng Nam quê hương của anh mà tôi từng được

Trang 10

nghe, trong căn phòng tại Sài Gòn dường như tự nhiên, sống động và gây cảm xúc hơn nhiều

Về phẩm chất của giễu nhại như một thủ pháp và một ý hướng chính trị, nhiều ý kiến cho rằng Mở Miệng không đem lại cái gì mới khi thao tác tái sử dụng nguyên liệu cũ cho mục đích mới, coi kiệt tác nghệ thuật quá khứ như một thứ nguyên liệu của Duchamp và

xu hướng nghệ thuật ready-made đã trở thành một thứcliché trong sáng tạo Nhưng thơ

nghĩa địa đã chết chưa? Liệu Dada đã chết? Tôi cho rằng, các trào lưu nghệ thuật sau khi kết thúc ở một bối cảnh này có thể tái sinh ở một bối cảnh khác, dung hợp những yếu tố mới Tính tương tác với bối cảnh và khả năng liên văn bản của thơ dường như phải được hiểu rộng hơn, trong đó tính văn bản bao trùm cả các hiện tượng chính trị, văn hóa, xã hội Cách hiểu rộng về khái niệm văn bản và tính văn bản sẽ giải thích được những câu hỏi về việc ý nghĩa hay giá trị các văn bản thơ của Mở Miệng, hay phần “sáng tạo” so với các văn bản trước đó như thế nào Khi bản thân văn bản đã bao hàm tính liên văn bản, thì giá trị của nó không được xác định như một công trình hoàn tất về ngôn ngữ − trong

đó, từ ngữ mang sứ mệnh về giá trị − mà nó như một phản ứng văn hóa triển hạn bất tận trong những ngữ cảnh cụ thể, trong không gian, trong các động thái đọc khác nhau Tất nhiên, hiểm họa bắt chước luôn tiềm tàng trong mọi nỗ lự sáng tạo của thời hậu hiện đại Nhất là trong không gian internet, sự bắt chước thủ pháp, bắt chước cái mới dễ dàng

và cũng dễ đánh lận con đen hơn, thời gian sống của một – thủ – pháp – mới trở nên ngắn ngủi đến đáng sợ Giữa cái cách tân và cái na ná cách tân chỉ còn là một lằn ranh

mơ hồ

Ý tưởng về thơ rác của Mở Miệng có thể được chia sẻ bởi nhiều người khác Nhà thơ Nguyễn Đăng Thường, trước đó, đã [tự] đăng kí bản quyền việc chế tạo ra thể không-thơ tiếng Việt, trong đó, anh dùng phủ định từ như một thao tác để chế biến các bài thơ đã

tồn tại thành các bài thơ mới Phan Bá Thọ cho in Đống rác vô tận Nguyễn Quốc

Chánh, chính trong một trả lời phỏng vấn Lý Đợi, đã nói:

“Thơ tôi chắc chắn thuộc truyền thống rác Vì Việt Nam là một cái sọt của cả đông và tây Hơn một ngàn năm chống chọi, chung chạ với các đế quốc Tàu, Tây, Nhật, Mỹ, Nga nên Việt Nam có cái số phận văn hoá bi đát kỳ lạ, nghĩa là vừa đĩ thõa vừa chính chuyên

y chang cuộc đời cô Kiều… Những cuộc cãi vã giữa cũ và mới, giữa truyền thống và cách tân chẳng qua chỉ là những cuộc nội (chiến, mông, thất, trợ, bài) giữa hai cọng rác đông

và tây Trong cái môi trường văn hoá giả cầy như vầy, giải pháp của tôi là: xài và vứt thật nhanh những cọng rác vừa lượm, cả đông (tà) lẫn tây (độc).”[14]

Trong các thực hành nghệ thuật đương đại ở Việt Nam, nhiều nghệ sĩ cũng dùng chất liệu Rác và Dơ để tra vấn về cái gọi là thẩm mĩ Một triển lãm nghệ thuật gây tranh luận gần

đây với tên gọi Xà bần, trong dự ánKhoan cắt bê tông, tập hợp một số họa sĩ, nghệ sĩ

quanh xưởng vẽ của Ngô Lực với ý hướng về một không gian tương tác “không giám tuyển, không tuyên ngôn”, trưng bày những thứ rác rưởi đối trọng với xu hướng thực hành nghệ thuật “từ bên trên”, với không gian đậm chất trí thức xa lạ của các trung tâm văn hóa, các gallery sang trọng, một nỗ lực giải trung tâm trong hành vi và không gian nghệ thuật cũng cùng ý hướng này Hiệu ứng thẩm mĩ của họ: không đem đến cảm giác

về cái đẹp, cái thẩm mĩ, và cũng có nghĩa, họ muốn giải trung tâm khái niệm “thẩm mĩ” đang ngự trị và thành định kiến với người xem Việt Nam Điều này, ít nhất là dấu hiệu của một sự vận động không chịu chấp nhận những áp chế từ bên trên, dù là sự áp chế của quyền lực tri thức Nhưng câu hỏi về ý nghĩa [thẩm mĩ] và cái đẹp về mặt thị giác, cũng như cá tính của nghệ sĩ, sự ám ảnh của chủ đề, mối quan hệ của tính chính trị và nghệ thuật của thơ rác, nghệ thuật rác vẫn được đặt ra và điều này liên quan nhiều hơn tới tài năng và độ kĩ lưỡng trong thao tác nghề nghiệp của các nghệ sĩ

Ngày đăng: 06/02/2015, 20:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w