Perl được phân phối theo giấy phép công khai GNU, nghĩa là thế này, “bạn có thể phân phát chương trình nhị phân Perl chỉ nếu bạn làm cho chương trình gốc có sẵn cho mọi người dùng không
Trang 1Học Perl
Người dịch: Ngô Trung Việt
Hà Nội 5/1999
Trang 3i
Mục lục
1 Giới thiệu 1
Lịch sử Perl 1
Mục đích của Perl 3
Tính sẵn có 3
Hỗ trợ 5
Các khái niệm cơ bản 6
Dạo qua Perl 9
Chương trình “Xin chào mọi người” 10
Hỏi câu hỏi và nhớ kết quả 11
Bổ sung chọn lựa 12
Đoán từ bí mật 13
Nhiều từ bí mật 14
Cho mỗi người một từ bí mật khác nhau 16
Giải quyết dạng thức cái vào thay đổi 19
Làm cho công bằng với mọi người 21
Làm cho nó mô đun hơn một chút 24
Chuyển danh sách từ bí mật vào tệp riêng biệt 28
Đảm bảo một lượng an toàn giản dị 33
Cảnh báo ai đó khi mọi việc đi sai 34
Nhiều tệp từ bí mật trong danh mục hiện tại 36
Nhưng chúng ta biết họ là ai! 38
Liệt kê các từ bí mật 40
Trang 4ii
Làm cho danh sách từ cũ đó đáng lưu ý hơn 44
Duy trì cơ sở dữ liệu đoán đúng cuối cùng 45
Chương trình cuối cùng 48
Bài tập 51
2 Dữ liệu vô hướng 53
Dữ liệu vô hướng là gì? 53
Số 54
Tất cả các số đã có cùng dạng thức bên trong 54
Hằng kí hiệu động 54
Hằng kí hiệu nguyên 55
Xâu 56
Xâu dấu nháy đơn 56
Xâu dấu nháy kép 57
Toán tử 59
Toán tử số 59
Toán tử xâu 61
Thứ tự ưu tiên và luật kết hợp của toán tử 63
Chuyển đổi giữa số và xâu 66
Các toán tử trên biến vô hướng 68
Toán tử gán hai ngôi 69
Tự tăng và tự giảm 71
Toán tử chop() 72
Xen lẫn vô hướng vào trong xâu 73
<STDIN> xem như một vô hướng 75
Đưa ra bằng print() 76
Giá trị undef 77
Bài tập 78
3 Dữ liệu mảng và danh sách 79
Trang 5iii
Mảng là gì? 79
Biểu diễn hằng kí hiệu 80
Biến 81
Toán tử 82
Phép gán 82
Truy nhập phần tử 85
Các toán tử push() và pop() 88
Các toán tử shift() và unshift() 89
Toán tử reverse() 89
Toán tử sort() 90
Toán tử chop() 90
Hoàn cảnh vô hướng và mảng 91
<STDIN> như một mảng 92
Xen lẫn biến mảng 92
Bài tập 94
4 Cấu trúc điều khiển 97
Khối câu lệnh 97
Câu lệnh if/unless 98
Câu lệnh while/until 101
Câu lệnh for 103
Câu lệnh foreach 104
Bài tập 106
5 Mảng kết hợp 109
Mảng kết hợp là gì? 109
Biến mảng kết hợp 110
Biểu diễn hằng kí hiệu cho mảng kết hợp 111
Các toán tử mảng kết hợp 112
Trang 6iv
Toán tử keys() 112
Toán tử values() 113
Toán tử each() 114
Toán tử delete 114
Bài tập 115
6 Vào / ra cơ bản 117
Vào từ STDIN 117
Đưa vào từ toán tử hình thoi 119
Đưa ra STDOUT 120
Dùng print cho đưa ra thông thường 120
Dùng printf cho cái ra có dạng thức 121
Bài tập 122
7 Biểu thức chính qui 123
Khái niệm về biểu thức chính qui 123
Cách dùng đơn giản về biểu thức chính qui 124
Khuôn mẫu 126
Khuôn mẫu một kí tự 127
Khuôn mẫu nhóm 129
Dấu ngoặc tròn như bộ nhớ 132
Thay phiên 134
Khuôn mẫu neo 134
Thứ tự ưu tiên 136
Thêm về toán tử đối sánh 137
Chọn một mục tiêu khác (toán tử =~) 137
Bỏ qua chữ hoa thường 138
Dùng một định biên khác 139
Trang 7v
Dùng xen lẫn biến 140
Biến chỉ đọc đặc biệt 141
Thay thế 142
Các toán tử split() và join() 144
Toán tử split() 144
Toán tử join() 146
Bài tập 146
8 Hàm 149
Hàm hệ thống và hàm người dùng 149
Xác định một hàm người dùng 149
Gọi một hàm người dùng 151
Giá trị cho lại 152
Đối 153
Biến cục bộ trong hàm 156
Bài tập 159
9 Các cấu trúc điều khiển khác 161
Toán tử last 161
Toán tử next 163
Toán tử redo 164
Khối có nhãn 165
Bộ thay đổi biểu thức 167
&&, || và ?: xem như các cấu trúc điều khiển 169
Bài tập 171
10 Tước hiệu tệp và kiểm thử tệp 173
Tước hiệu tệp là gì? 173
Trang 8vi
Mở và đóng một tước hiệu tệp 174
Một chút tiêu khiển: die() 175
Dùng tước hiệu tệp 177
Kiểm tra tệp -x 178
Các toán tử stat() và lstat() 183
Dùng _Filehandle 184
Bài tập 185
11 Dạng thức 187
Dạng thức là gì? 187
Định nghĩa một dạng thức 188
Gọi một dạng thức 191
Nói thêm về nơi giữ tệp 193
Trường văn bản 194
Trường số 194
Trường nhiều dòng 196
Trường được lấp đầy 196
Dạng thức đầu trang 200
Thay đổi mặc định cho dạng thức 201
Dùng select() để thay đổi tước hiệu tệp 201
Thay đổi tên dạng thức 203
Đổi tên dạng thức đầu trang 204
Đổi chiều dài trang 205
Thay đổi vị trí trên trang 206
Bài tập 207
12 Truy nhập danh mục 209
Chuyển vòng quanh cây danh mục 209
Globbing 210
Trang 9vii
Tước hiệu danh mục 213
Mở và đóng tước hiệu danh mục 214
Đọc một tước hiệu danh mục 215
Bài tập 216
13 Thao tác tệp và danh mục 217
Loại bỏ tệp 217
Đổi tên tệp 219
Tạo ra tên thay phiên cho một tệp (móc nối) 220
Về móc nối cứng và mềm 220
Tạo ra các móc nối cứng và mềm bằng Perl 222
Tạo ra và xoá danh mục 224
Thay đổi phép sử dụng 225
Thay đổi quyền sở hữu 226
Thay đổi nhãn thời gian 227
Bài tập 229
14 Quản lí tiến trình 230
Dùng system() và exec() 230
Dùng dấu nháy đơn ngược 235
Dùng các tiến trình như tước hiệu tệp 236
Dùng fork 238
Tóm tắt về các phép toán tiến trình 241
Gửi và nhận tín hiệu 243
Bài tập 246
15 Biến đổi dữ liệu khác 249
Tìm một xâu con 249
Trích và thay thế một xâu con 251
Trang 10viii
Dạng thức dữ liệu bằng sprintf() 254
Sắp xếp nâng cao 254
Chuyển tự 260
Bài tập 263
16 Truy nhập cơ sở dữ liệu hệ thống 265
Lấy mật hiệu và thông tin nhóm 265
Gói và mở dữ liệu nhị phân 270
Lấy thông tin mạng 273
Lấy các thông tin khác 275
Bài tập 276
17 Thao tác cơ sở dữ liệu người dùng 277
Cơ sở dữ liệu DBM và mảng DBM 277
Mở và đóng mảng DBM 278
Dùng mảng DBM 280
Cơ sở dữ liệu truy nhập ngẫu nhiên chiều dài cố định 281
Cơ sở dữ liệu (văn bản) chiều dài thay đổi 284
Bài tập 287
18 Chuyển đổi các ngôn ngữ khác sang Perl 289
Chuyển chương trình awk sang Perl 289
Chuyển đổi chương trình sed sang Perl 291
Chuyển đổi chương trình Shell sang Perl 292
Bài tập 293
Phụ lục A Trả lời các bài tập 295
Trang 11ix
Chương 2, Dữ liệu vô hướng 295
Chương 3, Mảng và dữ liệu danh sách 297
Chương 4, Cấu trúc điều khiển 299
Chương 5, Mảng kết hợp 302
Chương 6, Vào/ra cơ sở 305
Chương 7, Biểu thức chính qui 307
Chương 8, Hàm 311
Chương 9, Các cấu trúc điều khiển khác 314
Chương 10, Tước hiệu tệp và kiểm thử tệp 315
Chương 11, Dạng thức 317
Chương 12, Truy nhập danh mục 319
Chương 13, Thao tác tệp và danh mục 320
Chương 14, Quản lí tiến trình 323
Chương 15, Biến đổi dữ liệu khác 326
Chương 16, Truy nhập cơ sở dữ liệu hệ thống 329
Chương 17, Thao tác cơ sở dữ liệu người dùng 330
Chương 18, Chuyển các ngôn ngữ khác sang Perl 332
Phụ lục B Cơ sở về nối mạng 333
Mô hình khe cắm 333
Một khách mẫu 335
Bộ phục vụ mẫu 335
Phụ lục C Các chủ đề còn chưa nói tới 337
Trình gỡ lỗi 337
Dòng lệnh 338
Các toán tử khác 338
Nhiều, nhiều hàm nữa 338
Nhiều, nhiều biến định nghĩa sẵn 338
Xâu ở đây 338
Trở về (từ trình con) 339
Trang 12x
Toán tử eval (và s///e) 339
Thao tác bảng kí hiệu bằng *FRED 340
Toán tử goto 340
Toán tử require 341
Thư viện 341
Tin vui về Perl 5.0 341
Trang 13số báo cáo từ một cấp bậc các tệp kiểu như thư người
dùng mạng Usenet ở hệ thống báo lỗi, và lệnh awk làm
xì hết hơi Larry, một người lập trình lười biếng, quyết định thanh toán vấn đề này bằng một công cụ vạn nóng
mà ông có thể dùng ít nhất cũng ở một nơi khác Kết quả
là bản đầu tiên của Perl
Sau khi chơi với bản đầu này của Perl một chút, thêm chất liệu đây đó, Larry đưa nó cho cộng đồng độc
Trong chương này:
Trang 142
giả Usenet, thường vẫn được gọi là “the Net” Người dùng thuộc toán người phù du nghèo khó về hệ thống trên toàn thế giới (quãng độ chục nghìn người) đưa lại cho anh ấy phản hồi, hỏi cách làm thế này thế kia, việc này việc khác, nhiều điểm mà Larry chưa bao giờ mường tượng ra về việc giải quyết cho Perl nhỏ bé của mình cả Nhưng kết quả là Perl trưởng thành, trưởng thành và trưởng thành thêm nữa, và cũng cùng tỉ lệ như lõi của UNIX (với bạn là người mới, toàn bộ lõi UNIX được dùng chỉ khít vào trong 32K! Và bây giờ chúng ta may mắn nếu ta có thể có được nó dưới một vài mega.) Nó đã trưởng thành trong các tính năng Nó đã trưởng thành trong tính khả chuyển Điều mà có thời là một ngôn ngữ
tí tẹo bây giờ đã cả tài liệu sử dụng 80 trang, một cuốn sách của Nutshell 400 trang, một nhóm tin Usenet với 40 nghìn thuê bao, và bây giờ là đoạn giới thiệu nhẹ nhàng này
Larry vẫn là người bảo trì duy nhất, làm việc trên Perl ngoài giờ khi kết thúc công việc thường ngày của mình Và Perl thì vẫn phát triển
Một cách đại thể lúc mà cuốn sách này đạt tới điểm dừng của nó, Larry sẽ đưa ra bản Perl mới nhất, bản 5.0, hứa hẹn có một số tính năng thường hay được yêu cầu,
và được thiết kế lại từ bên trong trở ra (Larry bảo tôi rằng không còn mấy dòng lệnh từ lần đưa ra trước, và số
ấy cứ ngày càng ít đi mỗi ngày.) Tuy nhiên, cuốn sách này đã được thử với Perl bản 4.0 (lần đưa ra gần đây nhất khi tôi viết điều này) Mọi thứ ở đây đó sẽ làm việc với bản 5.0 và các bản sau của Perl Thực ra, chương trình Perl 1.0 vẫn làm việc tốt với những bản gần đây, ngoại trừ một vài thay đổi là cần cho sự tiến bộ
Trang 153
Mục đích của Perl
Perl được thiết kế để trợ giúp cho người dùng UNIX với những nhiệm vụ thông dụng mà có thể rất nặng nề hay quá nhạy cảm với tính khả chuyển đối với trình vỏ,
và cũng quá kì lạ hay ngắn ngủi hay phức tạp để lập trình trong C hay một ngôn ngữ công cụ UNIX nào khác Một khi bạn trở nên quen thuộc với Perl, bạn có thể thấy mình mất ít thời gian để lấy được trích dẫn trình vỏ (hay khai báo C) đúng, và nhiều thời gian hơn để đọc tin trên Usenet và đi trượt tuyết trên đồi; vì Perl là một công
cụ lớn tựa như chiếc đòn bẩy Các cấu trúc chặt chẽ của Perl cho phép bạn tạo ra (với tối thiểu việc làm ầm ĩ) một
số giải pháp có ưu thế rất trầm lặng hay những công cụ tổng quát Cũng vậy, bạn có thể lôi những công cụ này sang công việc tiếp, vì Perl là khả chuyển cao độ và lại
có sẵn, cho nên bạn sẽ có nhiều thời gian hơn để đọc tin
Usenet và trượt tuyết
Giống như mọi ngôn ngữ, Perl có thể “chỉ viết” - tức
là có thể viết ra chương trình mà không thể nào đọc được Nhưng với chú ý đúng đắn, bạn có thể tránh được kết tội thông thường này Quả thế, đôi khi Perl trông như nổi tiếng với những cái không quen thuộc, nhưng với người lập trình đã thạo Perl, nó tựa như những dòng có tổng kiểm tra với một sứ mệnh trong cuộc đời Nếu bạn tuân theo những hướng dẫn của cuốn sách này thì chương trình của bạn sẽ dễ đọc và dễ bảo trì, và chúng ta
có lẽ sẽ thắng trong bất kì cuộc tranh luận Perl khó hiểu nào
Tính sẵn có
Nếu bạn nhận được
Trang 164
Perl: not found
khi bạn thử gọi Perl từ lớp vỏ thì người quản trị hệ thống của bạn cũng chẳng lên cơn sốt Nhưng thậm chí nếu nó không có trên hệ thống của bạn, thì bạn vẫn có thể lấy được nó không mất tiền (theo nghĩa “ăn trưa không mất tiền”)
Perl được phân phối theo giấy phép công khai GNU, nghĩa là thế này, “bạn có thể phân phát chương trình nhị phân Perl chỉ nếu bạn làm cho chương trình gốc có sẵn cho mọi người dùng không phải trả tiền gì cả, và nếu bạn sửa đổi Perl, bạn phải phân phát chương trình gốc của bạn cho nơi sửa đổi của bạn nữa.” Và đó là bản chất của cho không Bạn có thể lấy chương trình gốc của Perl với giá của một bảng trắng hay vài mêga byte qua đường dây Và không ai có thể khoá Perl và bán cho bạn chỉ mã nhị phân với tư tưởng đặc biệt về “cấu hình phần cứng được hỗ trợ.”
Thực ra, nó không chỉ là cho không, nhưng nó chạy còn gọn hơn trên gần như mọi thứ mà có thể gọi là UNIX hay tựa UNIX và có trình biên dịch C Đấy là vì
bộ trình này tới với bản viết cấu hình bí quyết được gọi
là Cấu hình, cái sẽ móc và chọc vào các danh mục hệ
thống để tìm những thứ nó cần, và điều chỉnh việc đưa vào các tệp và các kí hiệu được xác định tương ứng, chuyển cho bạn việc kiểm chứng phát hiện của nó Bên cạnh các hệ thống UNIX hay tựa UNIX, người
đã bị nghiện Perl đem nó sang Amiga, Atari ST, họ Macintosh, VMS, OS/2, thậm chí MS/DOS - và có lẽ còn nhiều hơn nữa vào lúc bạn đọc cuốn sách này vị trí chính xác và sự có sẵn của những bản Perl này thì biến
Trang 175
động, cho nên bạn phải hỏi quanh (trên nhóm tin Usenet chẳng hạn) để có được thông tin mới nhất Nếu bạn hoàn toàn không biết gì, thì một bản cũ của Perl đã có trên đĩa
phần mềm CD-ROM UNIX Power Tools, của Jerry Peek,
Tim O’Reilly và Mike Loukides (O’Reilly & Associates/ Random House Co., 1993)
Hỗ trợ
Perl là con đẻ của Larry Wall, và vẫn đang được anh
ấy nâng niu Báo cáo lỗi và yêu cầu nâng cao nói chung
đã được sửa chữa trong các lần đưa ra sau, nhưng anh ấy cũng chẳng có nghĩa vụ nào để làm bất kì cái gì với chúng cả Tuy thế Larry thực sự thích thú nghe từ tất cả chúng ta, và cũng làm việc thực sự để thấy Perl được dùng trên qui mô thế giới E-mail trực tiếp cho anh ấy nói chung đã nhận được trả lời (cho dù đấy chỉ đơn thuần
là máy trả lời email của anh ấy), và đôi khi là sự đáp ứng con người
Ích lợi hơn việc viết thư trực tiếp cho Larry là nhóm
hỗ trợ Perl trực tuyến toàn thế giới, liên lạc thông qua
nhóm tin Usenet comp.lang.perl Nếu bạn có thể gửi
email trên Internet, nhưng chưa vào Usenet, thì bạn có thể tham gia nhóm này bằng cách gửi một yêu cầu tới
perl-users-request@virgina.edu, yêu cầu sẽ tới một
người có thể nối bạn với cửa khẩu email hai chiều trong nhóm, và cho bạn những hướng dẫn về cách làm việc Khi bạn tham gia một nhóm tin, bạn sẽ thấy đại loại
có khoảng 30 đến 60 “thư” mỗi ngày (vào lúc bản viết này được soạn thảo) trên đủ mọi chủ đề từ câu hỏi của người mới bắt đầu cho tới vấn đề chuyển chương trình
Trang 18Bên cạnh nhóm tin, bạn cũng nên đọc tạp chí Perl, đi cùng việc phân phối Perl Một nguồn có thẩm quyền
khác là cuốn sách Programming Perl của Larry Wall và
Randal L Schwatrz (O’Reilly & Associates, 1990)
Programming Perl được xem như “Sách con lạc đà” vì
bìa của nó vẽ con vật này (hệt như cuốn sách này có lẽ sẽ được biết tới với tên sách lạc đà không bướu) Sách con lạc đà chứa thông tin tham chiếu đầy đủ về Perl dưới dạng đóng gọn gàng Sách con lạc đà cũng bao gồm một bảng tra tham chiếu bật ra tài tình mà chính là nguồn ưa chuộng của cá nhân tôi về thông tin Perl
Các khái niệm cơ bản
Một bản viết vỏ không gì khác hơn là một dãy các lệnh vỏ nhồi vào trong một tệp văn bản Tệp này “được làm cho chạy” bằng cách bật một bit thực hiện (qua
chmod +x filename) và rồi gõ tên của tệp đó vào lời nhắc
Trang 197
của vỏ Bingo, một chương trình vỏ lớn Chẳng hạn, một
bản viết để chạy chỉ lệnh date theo sau bởi chỉ lệnh who
có thể được tạo ra và thực hiện như thế này:
$ echo date > somecript
$ echo who > somecript
#! /usr/bin/perl
làm dòng đầu tiên của tệp này Nhưng nếu Perl của bạn bị kẹt vào một nơi không chuẩn, hay hệ điều hành tựa UNIX của bạn không hiểu dòng #!, thì bạn có thêm việc phải làm Hỏi người cài đặt Perl về điều này Các thí
dụ trong sách này giả sử rằng bạn dùng cơ chế thông thường này
Perl là một ngôn ngữ phi định dạng kiểu như C - khoảng trắng giữa các hiệu bài (những phần tử của chương trình, như print hay +) là tuỳ chọn, trừ phi hai hiệu bài đi với nhau có thể bị lầm lẫn thành một hiệu bài khác, trong trường hợp đó thì khoảng trắng thuộc loại nào đó là bắt buộc (Khoảng trắng bao gồm dấu cách,
Trang 208
dấu tab, dòng mới, về đầu dòng hay kéo giấy.) Có một vài cấu trúc đòi hỏi một loại khoảng trắng nào đó ở chỗ nào đó, nhưng chúng sẽ được trỏ ra khi ta nói tới chúng Bạn có thể giả thiết rằng loại và khối lượng khoảng trắng giữa các hiệu bài là tuỳ ý trong các trường hợp khác Mặc dầu gần như tất cả các chương trình Perl đã có thể được viết tất cả trên một dòng, một cách điển hình chương trình Perl cũng hay được viết tụt lề như chương trình C, với những phần câu lệnh lồng nhau được viết tụt vào hơn so với phần bao quanh Bạn sẽ thấy đầy những thí dụ chỉ ra phong cách viết tụt lề điển hình trong toàn
bộ cuốn sách này
Cũng giống như bản viết về vỏ, chương trình Perl bao gồm tất cả các câu lệnh perl về tệp được lấy tổ hợp chung như mọt trình lớn cần thực hiện Không có khái niệm về trình “chính” main như trong C
Chú thích của Perl giống như chú thích của lớp vỏ (hiện đại) Bất kì cái gì nằm giữa một dấu thăng (#) tới cuối dòng đã là một chú thích Không có khái niệm về chú thích trên nhiều dòng như C
Không giống hầu hết các lớp vỏ (nhưng giống như
awk và sed), bộ thông dịch Perl phân tích và biên dịch hoàn toàn chương trình trước khi thực hiện nó Điều này
có nghĩa là bạn không bao giờ nhận được lỗi cú pháp từ chương trình một khi chương trình đã bắt đầu chạy, và cũng có nghĩa là khoảng trắng và chú thích biến mất và
sẽ không làm chậm chương trình Thực ra, giai đoạn biên dịch này bảo đảm việc thực hiện nhanh chóng của các thao tác Perl một khi nó được bắt đầu, và nó cung cấp động cơ phụ để loại bỏ C như một ngôn ngữ tiện ích hệ
Trang 219
thống đơn thuần dựa trên nền tảng là C được biên dịch Việc biên dịch này không mất thời gian - sẽ là phi hiệu quả nếu một chương trình Perl cực lớn lại chỉ thực hiện một nhiệm vụ nhỏ bé chóng vánh (trong số nhiều nhiệm vụ tiềm năng) và rồi ra, vì thời gian chạy cho chương trình sẽ nhỏ xíu nếu so với thời gian dịch
Cho nên Perl giống như một bộ biên dịch và thông dịch Nó là biên dịch vì chương trình được đọc và phân tích hoàn toàn trước khi câu lệnh đầu tiên được thực hiện Nó là bộ thông dịch vì không có mã đích ngồi đâu
đó trút đầy không gian đĩa Theo một cách nào đó, nó là tốt nhất cho cả hai loại này Phải thú thực, việc ẩn đi mã đích đã dịch giữa những lời gọi thì hay, và đó là trong danh sách mong ước của Larry cho Perl tương lai
Dạo qua Perl
Chúng ta bắt đầu cuộc hành trình của mình qua Perl bằng việc đi dạo một chút Việc đi dạo này sẽ giới thiệu một số các tính năng khác nhau bằng cách bổ sung vào một ứng dụng nhỏ Giải thích ở đây là cực kì ngắn gọn -
mỗi vùng chủ đề đã được thảo luận chi tiết hơn rất nhiều
về sau trong cuốn sách này Nhưng cuộc đi dạo nhỏ này
sẽ cho bạn kinh nghiệm nhanh chóng về ngôn ngữ, và bạn có thể quyết định liệu bạn có thực sự muốn kết thúc cuốn sách này hay đọc thêm các tin Usenet hay chạy đi chơi trượt tuyết
Trang 2210
Chương trình “Xin chào mọi người”
Ta hãy nhìn vào một chương trình nhỏ mà thực tế có
làm điều gì đó Đây là chương trình “Xin chào mọi
người”:
#!/usr/bin/perl
print “Xin chào mọi người\n”;
Dòng đầu tiên là câu thần chú nói rằng đây là chương trình Perl Nó cũng là lời chú thích cho Perl - nhớ rằng lời chú thích là bất kì cái gì nằm sau dấu thăng cho tới cuối dòng, giống như hầu hết các lớp vỏ hiện đại
\n biểu thị cho kí tự dòng mới; hệt như trong C Câu lệnh
print được kết thúc bởi dấu chấm phẩy (;) Giống như C, tất cả các câu lệnh đơn giản đã kết thúc bằng chấm phẩy*
Khi bạn gọi chương trình này, phần lõi sẽ gọi bộ thông dịch Perl, phân tích câu toàn bộ chương trình (hai dòng, kể cả dòng chú thích đầu tiên) và rồi thực hiện dạng đã dịch Thao tác đầu tiên và duy nhất là thực hiện toán tử print, điều này gửi đối của nó ra lối ra Sau khi chương trình đã hoàn tất, tiến trình Perl ra, cho lại một
mã ra thành công cho lớp vỏ
* Dấu chấm phẩy có thể bỏ đi khi câu lệnh này là câu lệnh cuối của một khối hay tệp hay eval
Trang 2311
Hỏi câu hỏi và nhớ kết quả
Thêm một chút phức tạp hơn Từ Xin chào mọi người
là một đụng chạm lạnh nhạt và cứng rắn Làm cho chương trình gọi bạn theo tên bạn Để làm việc này, cần một chỗ giữ tên, một cách hỏi tên, và một cách nhận câu trả lời
Một loại đặt chỗ giữ giá trị (tựa như một tên) là biến
vô hướng Với chương trình này, ta sẽ dùng biến vô
hướng $name để giữ tên bạn Chúng ta sẽ đi chi tiết hơn
trong Chương 2, Dữ liệu vô hướng, về những gì mà biến
này có thể giữ, và những gì bạn có thể làm với chúng Hiện tại, giả sử rằng bạn có thể giữ một số hay xâu (dãy các kí tự) trong biến vô hướng
Chương trình này cần hỏi về tên Để làm điều đó, cần một cách nhắc và một cách nhận cái vào Chương trình trước đã chỉ ra cho ta cách nhắc - dùng toán tử print
Và cách để nhận một dòng từ thiết bị cuối là với toán tử
<STDIN>, mà (như ta sẽ dùng nó ở đây) lấy một dòng cái vào Gán cái vào này cho biến $name Điều này cho chương trình:
print “Tên bạn là gì? ”;
$name = <STDIN> ;
Giá trị của $name tại điểm này có một dấu dòng mới kết thúc (Randal có trong Randal\n) Để vứt bỏ điều đó, chúng ta dùng toán tử chop(), toán tử lấy một biến vô hướng làm đối duy nhất và bỏ đi kí tự cuối từ giá trị xâu của biến:
chop($name);
Bây giờ tất cả những gì cần làm là nói Xin chào, tiếp
Trang 2412
đó là giá trị của biến $name, mà có thể thực hiện theo kiểu vỏ bằng cách nhúng biến này vào bên trong xâu có ngoặc kép:
print “Xin chào, $name!\n”;
Giống như lớp vỏ, nếu muốn một dấu đô la thay vì tham chiếu biến vô hướng, thì có thể đặt trước dấu đô la với một dấu sổ chéo ngược
điều gì đó đặc biệt Bổ sung thêm lệnh rẽ nhánh
if-then-else và phép so sánh vào chương trình:
Trang 2513
Toán tử eq so sánh hai xâu Nếu chúng bằng nhau (từng kí tự một, và có cùng chiều dài), thì kết quả là
đúng (Không có toán tử này trong C, và awk phải dùng
cùng toán tử cho xâu và số và tạo ra việc đoán có rèn luyện.)
Câu lệnh if chọn xem khối câu lệnh nào (giữa các
dấu ngoặc nhọn sánh đúng) là được thực hiện - nếu biểu thức là đúng, đó là khối thứ nhất, nếu không thì đó là khối thứ hai
Đoán từ bí mật
Nào, vì chúng ta đã có một tên nên ta để cho một người chạy chương trình đoán một từ bí mật Với mọi người ngoại trừ Randal, chúng ta sẽ để cho chương trình
cứ hỏi lặp lại để đoán cho đến khi nào người này đoán được đúng Trước hết xem chương trình này và rồi xem giải thích:
while ($guess ne $secrectword) {
print “Sai rồi, thử lại đi Từ bí mật là gì?”;
$guess = <STDIN>;
Trang 26tử ne, mà sẽ cho lại đúng nếu các xâu này không bằng nhau (đây là toán tử logic ngược với toán tử eq) Kết quả của việc so sánh sẽ kiểm soát cho trình while, chu trình này thực hiện khối thân cho tới khi việc so sánh vẫn còn đúng
Tất nhiên, chương trình này không phải là an toàn lắm, vì bất kì ai mệt với việc đoán cũng đã có thể đơn thuần ngắt chương trình và quay trở về lời nhắc, hay thậm chí còn nhìn qua chương trình gốc để xác định ra
từ Nhưng, chúng ta hiện tại chưa định viết một hệ thống
an toàn, chỉ xem như một thí dụ cho trang hiện tại của cuốn sách này
Nhiều từ bí mật
Ta hãy xem cách thức mình có thể sửa đổi đoạn chương trình này để cho phép có nhiều từ bí mật Bằng việc dùng điều đã thấy, chúng ta có thể so sánh lời đoán lặp đi lặp lại theo một chuỗi câu trả lời rõ được cất giữ trong các biến vô hướng tách biệt Tuy nhiên, một danh sách như vậy sẽ khó mà thay đổi hay đọc vào từ một tệp hay máy tính trên cơ sở ngày làm việc thường lệ
Một giải pháp tốt hơn là cất giữ tất cả các câu trả lời
Trang 27@words = (“camel”, “llama”, “oyster”);
Tên biến mảng bắt đầu với @, cho nên chúng là khác biệt với các tên biến vô hướng
Một khi mảng đã được gán thì ta có thể truy nhập vào từng phần tử bằng việc dùng một tham chiếu chỉ số Cho nên $words[0] là camel, $words[1] là llama, $words[2]
là oyster Chỉ số cũng có thể là một biểu thức, cho nên nếu ta đặt $i là 2 thì $words[$i] là oyster (Tham chiếu chỉ
số bắt đầu với $ thay vì @ vì chúng tham chiếu tới một phần tử riêng của mảng thay vì toàn bộ mảng.) Quay trở lại với thí dụ trước đây của ta:
Trang 2816
if ($words[$i] eq $guess) { # đúng không
$correct = “có”; # có } elsif ($i < 2) { # cần phải xét thêm từ nữa?
$i = $i + 1; # nhìn vào từ tiếp lần sau } else # hết rồi, thế là hỏng
print “Sai rồi, thử lại đi Từ bí mật là gì?”;
$guess = <STDIN>;
chop($guess);
$i = 0; # bắt đầu kiểm tra từ đầu lần nữa }
} # kết thúc của while not correct
} # kết thúc của “not Randal”
Bạn sẽ để ý rằng chúng ta đang dùng biến vô hướng
$correct để chỉ ra rằng chúng ta vẫn đang tìm ra mật hiệu đúng, hay rằng chúng ta không tìm thấy
Chương trình này cũng chỉ ra khối elsif của câu lệnh
if-then-else Không có lệnh nào tương đương như thế
trong C hay awk - đó là việc viết tắt của khối else cùng với một điều kiện if mới, nhưng không lồng bên trong cặp dấu ngoặc nhọn khác Đây chính là cái rất giống Perl
để so sánh một tập các điều kiện trong một dây chuyền phân tầng if-elsif-elsif-elsif-else
Cho mỗi người một từ bí mật khác nhau
Trong chương trình trước, bất kì người nào tới cũng
đã có thể đoán bất kì từ nào trong ba từ này và có thể thành công Nếu ta muốn từ bí mật là khác nhau cho mỗi người, thì ta cần một bảng sánh giữa người và từ:
Trang 29Chú ý rằng cả Betty và Wilma đã có cùng từ bí mật Điều này là được
Cách dễ nhất để cất giữ một bảng như thế trong Perl
là bằng một mảng kết hợp Mỗi phần tử của mảng này
giữ một giá trị vô hướng tách biệt (hệt như kiểu mảng khác), nhưng các mảng lại được tham chiếu tới theo
khoá, mà có thể là bất kì giá trị vô hướng nào (bất kì xâu
hay số, kể cả số không nguyên và giá trị âm) Để tạo ra một mảng kết hợp được gọi là %words (chú ý % chứ không phải là @) với khoá và giá trị được cho trong bảng trên, ta gán một giá trị cho %words (như ta đã làm nhiều trước đây với mảng khác):
%words = (“fred”, “camel”, “barney”, “llama”,
“betty”, “oyster”, “wilma”, “oyster”) ;
Mỗi cặp giá trị trong danh sách đã biểu thị cho một khoá và giá trị tương ứng của nó trong mảng kết hợp Chú ý rằng ta đã bẻ phép gán này ra hai dòng mà không
có bất kì loại kí tự nối dòng nào, vì khoảng trắng nói chung là vô nghĩa trong chương trình Perl
Để tìm ra từ bí mật cho Betty, ta cần dùng Betty như
Trang 3018
khoá trong một tham chiếu vào mảng kết hợp %words, qua một biểu thức nào đó như %words{“betty”} Giá trị của tham chiếu này là oyster, tương tự như điều ta đã làm trước đây với mảng khác Cũng như trước đây, khoá có thể là bất kì biểu thức nào, cho nên đặt $person với betty
và tính $words{$person} cũng cho oyster
Gắn tất cả những điều này lại ta được chương trình như thế này:
#! /usr/bin/perl
%words = (“fred”, “camel”, “barney”, “llama”,
“betty”, “oyster”, “wilma”, “oyster”) ; print “Tên bạn là gì?” ;
print “Xin chào, $name!\n”; # chào thông thường
$secretword = $words{$name}; # lấy từ bí mật
print “Từ bí mật là gì?” ;
$guess = <STDIN>;
chop($guess);
while ($correct ne $secretwords) {
print “Sai rồi, thử lại đi Từ bí mật là gì?”;
$guess = <STDIN>;
chop($guess);
} # kết thúc của while
} # kết thúc của “not Randal”
chú ý nhìn vào từ bí mật Nếu không tìm thấy từ này thì giá trị của $secretword sẽ là một xâu rỗng*, mà ta
có thể kiểm tra liệu ta có muốn xác định một từ bí mật
*
Được, đấy chính là giá trị undef, nhưng nó trông như một xâu rỗng cho toán tử eq
Trang 3119
mặc định cho ai đó khác không Đây là cách xem nó:
[ phần còn lại của chương trình đã bị xoá ]
$secretword = $words{$name}; # lấy từ bí mật
if ($secretword eq “”) { # ấy, không thấy
$secretword = “đồ cáu kỉnh”; # chắc chắn, sao không
là vịt?
}
print “Từ bí mật là gì?” ;
[ phần còn lại của chương trình đã bị xoá ]
Giải quyết dạng thức cái vào thay đổi
Nếu tôi đưa vào Randal L Schwartz hay randal thay vì
Randal thì tôi sẽ bị đóng cục lại với phần người dùng còn lại, vì việc so sánh eq thì lại so sánh đúng sự bằng nhau
Ta hãy xem một cách giải quyết cho điều đó
Giả sử tôi muốn tìm bất kì xâu nào bắt đầu với
Randal, thay vì chỉ là một xâu bằng Randal Tôi có thể làm điều này trong sed hay awk hoặc grep với một biểu thức chính qui: một khuôn mẫu sẽ xác định ra một tập
hợp các xâu sánh đúng Giống như trong sed hay grep,
biểu thức chính qui trong Perl để sánh bất kì xâu nào bắt đầu với Randal là ^Randal Để sánh xâu này với xâu trong
$name, chúng ta dùng toán tử sánh như sau:
Trang 3220
khoảng trắng là có nghĩa, hệt như chúng ở bên trong xâu Điều này gần như thế, nhưng nó lại không giải quyết việc lựa ra randal hay loại bỏ Randall Để chấp nhận
randal, chúng ta thêm tuỳ chọn bỏ qua hoa thường, một
chữ i nhỏ được thêm vào sau dấu sổ chéo đóng Để loại
bỏ Randall, ta thêm một đánh dấu đặc biệt định biên từ (tương tự với vi và một số bản của grep) dưới dạng của
\b trong biểu thức chính qui Điều này đảm bảo rằng kí
tự đi sau l đầu tiên trong biểu thức chính qui không phải
là một kí tự khác Điều này làm thay đổi biểu thức chính qui thành /^randal\b/i, mà có nghĩa là “randal tại đầu xâu, không có kí tự hay chữ số nào theo sau, và chấp nhận cả hai kiểu chữ hoa thường.”
Khi gắn tất cả lại với phần còn lại của chương trình thì nó sẽ giống như thế này:
#! /usr/bin/perl
%words = (“fred”, “camel”, “barney”, “llama”,
“betty”, “oyster”, “wilma”, “oyster”) ; print “Tên bạn là gì?” ;
print “Xin chào, $name!\n”; # chào thông thường
$secretword = $words{$name}; # lấy từ bí mật
if ($secretword eq “”) { # ấy, không thấy
$secretword = “đồ cáu kỉnh”; # chắc chắn, sao không là vịt?
Trang 33} # kết thúc của “not Randal”
Như bạn có thể thấy, chương trình này khác xa với chương trình đơn giản Xin chào, mọi người, nhưng nó vẫn còn rất nhỏ bé và làm việc được, và nó quả làm được tí chút với cái ngắn xíu vậy Đây chính là cách thức của Perl
Perl đưa ra tính năng về các biểu thức chính qui có trong mọi trình tiện ích UNIX chuẩn (và thậm chí trong một số không chuẩn) Không chỉ có thế, nhưng cách thức Perl giải quyết cho việc đối sánh xâu là cách nhanh nhất trên hành tinh này, cho nên bạn không bị mất hiệu năng
(Một chương trình giống như grep được viết trong Perl thường đánh bại chương trình grep được các nhà cung
cấp viết trong C với hầu hết các cái vào Điều này có
nghĩa là thậm chí grep không thực hiện việc của nó thật
tốt.)
Làm cho công bằng với mọi người
Vậy bây giờ tôi có thể đưa vào Randal hay randal hay
Randal L Schwartz, nhưng với những người khác thì sao? Barney vẫn phải nói đúng barney (thậm chí không được
có barney với một dấu cách theo sau)
Để công bằng cho Barey, chúng ta cần nắm được từ đầu của bất kì cái gì được đưa vào, và rồi chuyển nó
thành chữ thường trước khi ta tra tên trong bảng Ta làm điều này bằng hai toán tử: toán tử substitute, tìm ra một
Trang 3422
biểu thức chính qui và thay thế nó bằng một xâu, và toán
tử translate, để đặt xâu này thành chữ thường
Trước hết, toán tử thay thế: chúng ta muốn lấy nội dung của $name, tìm kí tự đầu tiên không là từ, và loại đi mọi thứ từ đây cho đến cuối xâu /\W.*/ là một biểu thức chính qui mà ta đang tìm kiếm - \W viết tắt cho kí tự không phải là từ (một cái gì đó không phải là chữ, chữ số hay gạch thấp) và * có nghĩa là bất kì kí tự nào từ đấy tới cuối dòng Bây giờ, để loại những kí tự này đi, ta cần lấy bất kì bộ phận nào của xâu sánh đúng với biểu thức chính qui này và thay nó với cái không có gì:
$name =~ s/\W.*//;
Chúng ta đang dùng cùng toán tử =~ mà ta đã dùng trước đó, nhưng bây giờ bên vế phải ta có toán tử thay thế: chữ s được theo sau bởi một biểu thức chính qui và xâu được định biên bởi dấu sổ chéo (Xâu trong thí dụ này là xâu rỗng giữa dấu sổ chéo thứ hai và thứ ba.) Toán tử này trông giống và hành động rất giống như phép thay thế của các trình soạn thảo khác nhau
Bây giờ để có được bất kì cái gì còn lại trở thành chữ thường thì ta phải dịch xâu này dùng toán tử tr Nó trông rất giống chỉ lệnh tr của UNIX, nhận một danh sách các kí tự để tìm và một danh sách các kí tự để thay thế chúng Với thí dụ của ta, để đặt nội dung của $name
thành chữ thường, ta dùng:
$name =~ tr/A-Z/a-z/;
Các dấu sổ chéo phân tách các danh sách kí tự cần tìm và cần thay thế Dấu gạch ngang giữa A và Z thay thế cho tất cả các kí tự nằm giữa, cho nên chúng ta có hai danh sách, mỗi danh sách có 26 kí tự Khi toán tử tr tìm
Trang 3523
thấy một kí tự từ một xâu trong danh sách thứ nhất thì kí
tự đó sẽ được thay thế bằng kí tự tương ứng trong danh sách thứ hai Cho nên tất cả các chữ hoa A trở thành chữ thường a, và cứ như thế*
Gắn tất cả lại với mọi thứ khác sẽ cho kết quả trong:
#! /usr/bin/perl
%words = (“fred”, “camel”, “barney”, “llama”,
“betty”, “oyster”, “wilma”, “oyster”) ; print “Tên bạn là gì?” ;
$name = <STDIN> ;
chop($name);
$original_name = $name; # cất giữ để chào mơng
$name =~ s/\W.*//; # bỏ mọi thứ sau từ đầu
$name =~ tr/A-Z/a-z/; # mọi thứ thành chữ thường
$secretword = $words{$name}; # lấy từ bí mật
if ($secretword eq “”) { # ấy, không thấy
$secretword = “đồ cáu kỉnh”; # chắc chắn, sao không là vịt?
}
print “Từ bí mật là gì?” ;
$guess = <STDIN>;
chop($guess);
while ($correct ne $secretwords) {
print “Sai rồi, thử lại đi Từ bí mật là gì?”;
Trang 3624
} # kết thúc của “not Randal”
Để ý đến cách thức biểu thức chính qui sánh đúng với tên tôi Randal đã lại trở thành việc so sánh đơn giản Sau rốt, cả Randal L Schwartz và Randal đã trở thành
randal sau khi việc thay thế và dịch Và mọi người khác cũng có được sự công bằng, vì Fred và Fred Flinstone cả hai đã trở thành fred, Barney Rubble và Barney, the little guy sẽ trở thành barney, vân vân
Với chỉ vài câu lệnh, chúng ta đã tạo ra một chương trình thân thiện người dùng hơn nhiều Bạn sẽ thấy rằng việc diễn tả thao tác xâu phức tạp với vài nét là một trong nhiều điểm mạnh của Perl
Tuy nhiên, chạm vào tên để cho ta có thể so sánh nó
và tra cứu nó trong bảng thì sẽ phá huỷ mất tên vừa đưa vào Cho nên, trước khi chạm vào tên, cần phải cất giữ
nó vào trong @original_name (Giống như các kí hiệu C, biến Perl bao gồm các chữ, chữ số và dấu gạch thấp và
có thể có chiều dài gần như không giới hạn.) Vậy có thể làm tham chiếu tới $original_name về sau
Perl có nhiều cách để giám sát và chặt cắt xâu bạn
sẽ thấy phần lớn chúng trong Chương 7, Biểu thức chính
qui và Chương 15, Việc chuyển đổi dữ liệu khác
Làm cho nó mô đun hơn một chút
Bởi vì chúng ta đã thêm quá nhiều mã nên phải duyệt qua nhiều dòng chi tiết trước khi ta có thể thu được toàn bộ luồng chương trình Điều cần là tách bạch logic mức cao (hỏi tên, chu trình dựa trên từ bí mật đưa vào) với các chi tiết (so sánh một từ bí mật với từ đã
Trang 3725
biết) Chúng ta có thể làm điều này cho rõ ràng, hoặc có thể bởi vì một người đang viết phần cao cấp còn người khác thì viết (hay đã viết) phần chi tiết
Perl cung cấp các chương trình con có tham biến và
giá trị cho lại Một chương trình con được xác định một
khi nào đó trong chương trình, và rồi có thể được dùng lặp đi lặp lại bằng việc gọi từ bên trong bất kì biểu thức nào
Với chương trình nhỏ nhưng tăng trưởng nhanh của chúng ta, tạo ra một chương trình con tên là &good_word
(tất cả các tên chương trình con đã bắt đầu với một dấu
và &) mà nhận một tên đã sạch và một từ đoán, rồi cho
lại true nếu từ đó là đúng, và cho lại false nếu không
đúng Việc xác định chương trình con đó tựa như thế này:
sub good_word {
local($somename, $someguess) = @_; # tên tham biến
$somename =~ s/\W.*//; # bỏ mọi thứ sau từ đầu
$somename =~ tr/A-Z/a-z/; # mọi thứ thành chữ thường
if ($somename eq “randal”) { # không nên đoán
1; #giá trị cho lại là true } elsif (($words{$somename} || “đồ cáu kỉnh”) eq
Trang 3826
lệnh (được định biên bởi dấu ngoặc nhọn) Định nghĩa này có thể để vào bất kì đâu trong tệp chương trình, nhưng phần lớn mọi người thích để chúng vào cuối Dòng đầu tiên trong định nghĩa đặc biệt này là một phép gán làm việc sao các giá trị của hai tham biến của chương trình này vào hai biến cục bộ có tên $somename
và $someguess (local() xác định hai biến là cục bộ cho chương trình con này, và các tham biến ban đầu trong một mảng cục bộ đặc biệt gọi là @_.)
Hai dòng tiếp làm sạch tên, cũng giống như bản trước của chương trình
Câu lệnh if-elsif-else quyết định xem từ được đoán ($someguess) là có đúng cho tên ($somename) hay không Randal không nên làm nó thành chương trình con này, nhưng ngay cả nếu nó có, thì dù từ nào được đoán cũng đã OK cả
Biểu thức cuối cùng được tính trong chương trình con là cho lại giá trị Chúng ta sẽ thấy cách cho lại giá trị được dùng sau khi tôi kết thúc việc mô tả định nghĩa về chương trình con Phép kiểm tra cho phần elsif trông có phức tạp hơn một chút - chia nó ra:
($words{$somename} || “đồ cáu kỉnh”) eq $someguess
Vật thứ nhất bên trong dấu ngoặc là mảng kết hợp quen thuộc của ta, cho một giá trị nào đó từ %words dựa trên khoá $somename Toán tử đứng giữa giá trị đó và xâu đồ cáu kỉnh là toán tử || (phép hoặc logic) như được
dùng trong C và awk và các vỏ khác Nếu việc tra cứu từ
mảng kết hợp có một giá trị (nghĩa là khoá $somename là trong mảng), thì giá trị của biểu thức là giá trị đó Nếu khoá không tìm được, thì xâu đồ cáu kỉnh sẽ được dùng
Trang 3927
thay Đây chính là một vật kiểu Perl thường làm - xác định một biểu thức nào đó, và rồi đưa ra một giá trị mặc định bằng cách dùng || nếu biểu thức này có thể trở thành sai
Trong mọi trường hợp, dù đó là một giá trị từ mảng kết hợp, hay giá trị mặc định đồ cáu kỉnh, chúng ta đã so sánh nó với bất kì cái gì được đoán Nếu việc so sánh là đúng thì cho lại 1, nếu không cho lại 0
Bây giờ tích hợp tất cả những điều này với phần còn lại của chương trình:
#! /usr/bin/perl
%words = (“fred”, “camel”, “barney”, “llama”,
“betty”, “oyster”, “wilma”, “oyster”) ; print “Tên bạn là gì?” ;
$name = <STDIN> ;
chop($name);
if ($name =~ /^randal\b/i ) { # trở lại cách khác
print “Xin chào, Randal! May quá anh ở đây!\n”; } else {
print “Xin chào, $original_name!\n”; # chào thông thường
print “Từ bí mật là gì?” ;
$guess = <STDIN>;
chop($guess);
while ( ! &good_word($name, $guess)) {
print “Sai rồi, thử lại đi Từ bí mật là gì?”;
$guess = <STDIN>;
chop($guess);
}
}
[ thêm vào định nghĩa của &good_word ở đây ]
Chú ý rằng chúng ta đã quay trở lại với biểu thức chính qui để kiểm tra Randal, vì bây giờ không cần kéo một phần tên thứ nhất và chuyển nó thành chữ thường,
Trang 4028
chừng nào còn liên quan tới chương trình chính
Khác biệt lớn là chu trình while có chứa &good_word Tại đây, chúng ta thấy một lời gọi tới chương trình con, truyền cho nó hai đối, $name và $guess Bên trong chương trình con này, giá trị của $somename được đặt từ tham biến thứ nhất, trong trường hợp này là $name Giống thế, $someguess được đặt từ tham biến thứ hai,
$guess
Giá trị do chương trình con cho lại (hoặc 1 hoặc 0, nhớ lại định nghĩa đã nêu trước đây) là âm với toán tử tiền tố ! (phép phủ định logic) Như trong C, toán tử này cho lại đúng nếu biểu thức đi sau là sai, và ngược lại Kết quả của phép phủ định này sẽ kiểm soát chu trình
while Bạn có thể đọc điều này là “trong khi không phải
là từ đúng ” Nhiều chương trình Perl viết tốt đọc rất giống tiếng Anh, đưa lại cho bạn một chút tự do với Perl hay tiếng Anh (Nhưng bạn chắc chắn không đoạt giải Pulitzer theo cách đó.)
Chú ý rằng chương trình con này giả thiết rằng giá trị của mảng %words được chương trình chính đặt Điều này không đặc biệt là hay, nhưng chẳng có gì so sánh được với static của C đối với chương trình con - nói chung, tất cả các biến nếu không nói khác đi mà được tạo ra với toán tử local() thì đã là toàn cục đối với toàn bộ chương trình Thực ra, đây chỉ là vấn đề nhỏ, và người ta thì có được tính sáng tạo về cách đặt tên biến dài lâu
Chuyển danh sách từ bí mật vào tệp riêng biệt
Giả sử ta muốn dùng chung danh sách từ bí mật cho