Khoa học quản lý semina khoa học quản lý Sơ lược tác giả, hoàn cảnh ra đời học thuyết Nội dung chính học thuyết Nhận xét, đánh giá học thuyết Liên hệ với quản lý kinh doanh tại Việt Nam và trên thế giới
Trang 1Semina khoa học quản lý
Mô thức quản lý mới của Rensis Likert
Rensis Linkert (1903-1981)
Nhóm 2 – VB2
Trang 2Nội dung thuyết trình
• Sơ lược tác giả, hoàn cảnh ra đời học thuyết
• Nội dung chính học thuyết
• Nhận xét, đánh giá học thuyết
• Liên hệ với quản lý kinh doanh tại Việt Nam và trên thế giới
Trang 3Về tác giả Rensis Linkert và hoàn cảnh ra
đời học thuyết
•Rensis Linkert ( 1903 -1981) ông sinh ra tại Cheyenne,
Wyoming, Mỹ, cha ông là 1 kỹ sư làm việc tại hãng đường sắt Union Pacific vì thế ông được cha hướng theo con
đường kỹ sư Khi làm thực tập
tại Union Pacific, ông ấn tượng
sâu sắc với đợt đình công năm 1922
của công nhân do thiếu tiếp xúc giữa
nhà quản lý và công nhân, thúc đẩy
ông nghiên cứu sâu hơn về quản lý
và các hành vi trong quản lý
Trang 4• Linkert tốt nghiệp đại học Michigan năm 1926 và nhận bằng tiến sĩ tâm lý học tại đại học Columbia năm 1932
• Linkert là sáng lập viên kiêm giám đốc của Viện nghiên cứu xã hội thuộc địa học Michigan từ năm 1946 -1970, sau đó ông về hưu và mở ra Rensis Likert Associates để
tư vấn quản lý cho các công ty tập đoàn
• Ông có 3 tác phẩm chính : Mô thức quản lý mới – 1961, Quản lý tổ chức nhân quần và giá trị của nó – 1967, Con đường mới về giải quyết xung đột trong quản lý – đồng tác giả năm 1967
• Linkert cho rằng quản lý, quan trọng nhất là sự lãnh đạo đối với con người
Trang 5Tác phẩm
• “Mô thức mới của quản lý” xuất bản năm 1961, là tác phẩm quan trọng trong giai đoạn đầu của Linkert
• Quyển sách này lấy thành quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội trường Đại học Michigan tiến hành
từ năm 1947 làm căn cứ và tổng kết xu thế thay đổi của môi trường kinh doanh ở Mỹ, đặc điểm quản lý
của những doanh nghiệp xuất sắc để đưa ra một
nguyên lý mới, đồng thời giải thích rõ một cách khá tỉ
mỉ, có hệ thống “Lý luận về sự ủng hộ” và cơ cấu tổ chức mới, lấy tập thể công tác làm đơn nguyên cơ bản
Trang 6Đóng góp của Linkert
• Lý luận về lãnh đạo: Ông khái quát bốn mô thức
lãnh đạo tổ chức từ mô thức chuyên chế mệnh lệnh đến mô thức dân chủ với sự tham gia của cấp dưới
• Phát triển tinh thần tập thế trong tổ chức
• Làm rõ lợi thế và bất lợi lợi thế của các loại
• quyết định tập thể và cá nhân
Trang 7Bốn phong cách lãnh đạo theo
Linkert
Mức độ tham gia
Hệ thống 1 :
Quyết đoán
Áp chế
Hệ thống 2 : Quyết đoán Nhân từ
Hệ thống 3 : Tham vấn
Hệ thống 4 : Tham gia theo
nhóm
Trang 8Trong 4 kiểu phong cách nói trên, qua những kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các nhà quản lý áp dụng phong cách quản lý theo kiều "tham gia theo nhóm" vào các hoạt động quản lý của mình đã thu được thành công lớn nhất với tư cách là một người lãnh đạo.
Trang 9Nội dung học thuyết QL mới
• Trên cơ sở tổng kết một cách có
hệ thống nguyên tắc kinh doanh và
thực tiễn của các giám đốc giỏi,
Linkert đã miêu tả tổng quát cái mà
ông gọi là “Hệ thống quản lý mới” :
phải lấy việc quản lý nguồn nhân
lực làm trung tâm, việc xây dựng
thể chế mới về hành vi người lãnh
đạo dựa trên “Lý luận về sự ủng
hộ” và “Lý luận về quần thể công
tác” ,tức là cơ cấu tổ chức lấy tập
thể công tác làm đơn nguyên cơ
bản
Trang 10“Lý luận về sự ủng hộ”
• Linkert cho rằng trách
nhiệm của người lãnh đạo
là xây dựng sự hiệp tác có
hiệu quả của cả tổ chức,
coi trọng tác động qua lại
giữa các thành viên trong
tập thể, làm cho nó có ảnh
hưởng tốt đến tập thể và
đảm bảo cho mỗi thành
viên cảm nhận được sự
tôn trọng và ủng hộ chân
thực từ tổ chức
Trang 11• Quan hệ ủng hộ lẫn nhau
được xây dựng giữa các
thành viên của tổ chức với nhau cũng như giữa công
nhân viên với cán bộ quản
lý, nghĩa là xây dựng theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc
• Một tổ chức có được quan
hệ ủng hộ lẫn nhau thì thái
độ của nhân viên sẽ tích
cực, hiệp tác và hiệu quả
công việc được nâng cao
Trang 12Nhận xét
• Như vậy qua mô thức quản lý mới của mình, Linkert đã nhấn mạnh mô hình quản
lý tối ưu phải đạt được yếu tố “ủng hộ”, sự ủng hộ giữa quản lý và nhân viên và ngược lại nhân viên sẽ “phục” nhà quản lý chứ không phải chỉ là yếu tố “sợ” như phương thức quản lý chuyên quyền
Trang 13“Lý luận về quần thể công tác”
• Linkert cho rằng phương thức quản lý có khả năng phát
huy tiềm lực của con người 1 cách hiệu quả nhất là «tổ
chức tất cả công nhân viên vào 1 tập thể bao gồm 1
hoặc nhiều điểm quần tụ»
• Linkert còn đưa ra một cơ cấu tổ chức tập thể Cơ cấu
tổ chức truyền thống là mô thức tác động lẫn nhau của một người đối với một người, tức là mô thức cấp trên
đối với cấp dưới đơn thuần Phương thức quản lý có sự tham gia của cấp dưới lại lựa chọn cơ cấu tổ chức tập thể Trong cơ cấu này, các tập thể tác nghiệp liên hệ với nhau thông qua những thành viên thuộc tập thể trùng lắp (mắt xích liên kết)
Trang 15Nhận
xét
thứ nhất là, quyết sách tập thể không những có thể làm cho mỗi thành viên có cơ hội cống hiến kiến thức chuyên môn và sở trường của mình, mà còn có thể khiến cho
những người ra quyết sách cùng lấy dài bù ngắn, hình thành cơ cấu hợp
lý hơn về các mặt tố chất, tính cách, trí tuệ, tuổi tác…
thứ nhất là, quyết sách tập thể không những có thể làm cho mỗi thành viên có cơ hội cống hiến kiến thức chuyên môn và sở trường của mình, mà còn có thể khiến cho
những người ra quyết sách cùng lấy dài bù ngắn, hình thành cơ cấu hợp
lý hơn về các mặt tố chất, tính cách, trí tuệ, tuổi tác…
Thứ hai là, mỗi thành viên trong tập thể đều quen
dần với việc suy nghĩ vấn
đề từ góc độ nhà lãnh đạo cao nhất, từ đó tăng
cường khả năng nắm vững toàn cục
Thứ hai là, mỗi thành viên trong tập thể đều quen
dần với việc suy nghĩ vấn
đề từ góc độ nhà lãnh đạo cao nhất, từ đó tăng
cường khả năng nắm vững toàn cục
Thứ ba là, sự giao lưu trao đổi tin tức trong nội
bộ tập thể thông suốt
Khi cung cấp thông tin cũng không cần kiêng
dè, lựa theo sở thích của người lãnh đạo.
Thứ ba là, sự giao lưu trao đổi tin tức trong nội
bộ tập thể thông suốt
Khi cung cấp thông tin cũng không cần kiêng
dè, lựa theo sở thích của người lãnh đạo.
Thứ tư là, do quyết sách đến từ tập thể, mọi người vạch ra thì mọi người tự nhiên sẽ đồng tâm hiệp lực cùng thực hiện
Thứ năm là, trong tập thể như vậy, nếu một thành viên tạm thời vắng mặt, người khác có thể thay thế; giữa các thành viên không đến nỗi chia vùng thống trị, không can thiệp lẫn nhau; như vậy không những có thể tiết kiệm được chi phí đào tạo cán bộ mà cũng có lợi cho việc ngăn chặn tình trạng tranh giành phạm vi thế lực.
Trang 16Áp dụng vào Việt Nam
Trang 17Phạm Hoàng Tuấn Vương Thị Ngọc Oanh
Đinh Tuấn Anh
Lê Thị Phượng