1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu

34 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 7,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN

3 Lê Thị Thu Đông

4 Nguyễn Thị Hoàng Khuê

5 Lâm Thị Thanh Trúc

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: GIỚI THIỆU 3

PHẦN II: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ 5

A HIỆN TRẠNG CỦA SỰ CỐ TRÀN DẦU 5

1 Khái niệm về tràn dầu 5

2 Các loại dầu thường được vận chuyển trên biển 5

3 Tình hình dầu tràn trên thế giới và Việt Nam 5

3.1 Trên thế giới 5

3.2 Ở Việt Nam 8

B SƠ LƯỢC VỀ DẦU MỎ 10

1 Dầu mỏ là gì? 10

2 Thành phần và tính chất của dầu mỏ 10

2.1 Thành phần 10

2.2 Tính chất 12

3 Quá trình hình thành dầu mỏ 13

3.1 Theo thuyết sinh vật học 13

3.2 Theo thuyết vô cơ 13

3.3 Theo thuyết hạt nhân 13

4 Lợi ích và tiềm năng của dầu mỏ 13

C NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA SỰ CỐ TRÀN DẦU 14

1 Quan sát và phân tích theo các vị trí thường xảy ra tràn dầu 14

2 Nguyên nhân gây nên sự cố tràn dầu 17

3 Hậu quả của tràn dầu 18

3.1 Hậu quả về môi trường 18

3.2 Hậu quả về kinh tế 19

3.3 Hậu quả đối với sinh vật 20

3.4 Hậu quả đối với con người 23

D XỬ LÝ DẦU TRÀN BẰNG PHƯƠNG PHÁP VI SINH 23

1 Sử dụng vi sinh vật có sẵn trong môi trường bị ô nhiễm 23

2 Sử dụng vi sinh vật được nuôi cấy và tuyển chọn trong phòng thí nghiệm 23

3 Sử dụng hóa chất, chế phẩm sinh học phân hủy dầu tràn 24

E KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34

F TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 3

PHẦN I: GIỚI THIỆU

“Tràn dầu – mối thảm họa cho sinh vật biển”

Hơn năm tháng trước đây, vào ngày 23/4, vụ nổ dàn khoan dầu Deepwater Horionnằm trên vịnh Mexico thuộc bang Lousiana, nước Mỹ Lửa bùng lên dữ dội ở vịnhMexico khi giàn khoan Deepwater Horizon nổ gây ra sự cố dầu tràn lớn nhất trong lịch

sử Mỹ kể từ sau vụ Exxon Valder năm 1989 đến nay

Deep Horizon có độ cao 120 m bùng cháy Việc nó bị nổ khiến khoảng 1.000 thùng dầu

bị tràn ra biển mỗi ngày Tập đoàn dầu khí BP của Anh đã áp dụng nhiều biện pháp đểngăn hiện tượng này, bao gồm cả chiến dịch mới đây nhất là bơm bùn lấp giếng dầu cótên là Top Kill, tuy nhiên tất cả đều không thành công

Trang 4

Hình 1: Deepwater Horizon nghiêng ngả và cháy liên tục trong hàng chục giờ liền.

Theo những thông tin mới nhất, mỗi ngày vẫn có 800 ngàn lít dầu rò rỉ ra vịnhMexico với tốc độ lan rất nhanh Mạng sống của chim, cá, rùa và nhiều động vật biểnkhác trở nên mong manh hơn bao giờ hết bởi thảm họa này

Hình 2: Một con bồ nông cố gắng kiếm mồi và những con cua Hermit

cố gắng vượt qua vệt dầu trên đảo

Dầu tràn trên bãi biển đã xâm chiếm dần khu vực sống của các sinh vật biển, số lượngcác loài bắt đầu giảm dần, giảm dần Các loài chim biển có thể rất khó bay do bị dínhdầu, khi chúng cố gắng lau dẩu khỏi bộ lông của mình, dẩu có thể làm cho chúng bịnhiễm độc Khi vào cơ thể chúng, dầu có thể gây ra bệnh thiếu máu Các loài rái cá và hảicẩu bị nhiễm độc có thể bị mù hoặc mắc bệnh về phổi, thận, hô hấp Không chỉ có vậy,ngay những động vật sống trên đảo như chồn, gấu, cáo mà ăn các động vật nhiễm độcthỉ bản thân chúng cũng bị nhiễm dầu Dầu cũng lẫn vào trong không khí do sức gió biển,dầu tràn vào bờ làm ô nhiễm ngàn mẩu ruộng là nguồn sống của bao người dân

“ Có thể nói tràn dầu là một bức tranh thảm họa vể sự chết chóc cho sinh vật biển trongnhững nỗ lực tuyệt vọng trên bờ biển.”

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG

A Hiện trạng của sự cố tràn dầu

1 Khái niệm về dầu tràn

Dầu tràn là sự giải phóng hydrocarbon dầu mỏ lỏng vào môi trường do các hoạt độngcủa con người và gây ra ô nhiễm môi trường Thuật ngữ này thường đề cập đến các vụdầu tràn xảy ra trong môi trường biển hoặc sông

Dầu có thể bao gồm nhiều loại khác nhau từ dầu thô, các sản phẩm lọc dầu (như xănghoặc dầu diesel), bồn chứa dầu của các tàu, dầu thải hoặc chất thải dính dầu Việc pháttán hoặc thậm chí hàng năm để có thể dọn sạch

2 Các loại dầu thường được vận chuyển trên biển

 Dầu Diesel là một loại nhiên liệu lỏng, sản phẩm tinh chế từ dầu mỏ có thành phầnchưng cất nằm giữa dầu hỏa và dầu bôi trơn Chúng thường có nhiệt độ bốc hơi từ

175 - 370oC Dầu diesel được đặt tên theo nhà sáng chế Rudolf Diesel và được sửdụng trong động cơ đốt trong mang cùng tên- động cơ Diesel

 Dầu Fuel ol (FO hay dẩu Mazut) có hai loại chính:

1 Dầu FO nhẹ: có nhiệt độ sôi 200 – 300oC, tỷ trọng 0,88 – 0,92

2 Dầu FO nặng có độ sôi lớn hơn 320oC và tỷ trọng 0.92 – 1,0 hay còn có tỷtrọng cao hơn

Tỷ trọng dầu ngoài phụ thuộc nhiệt độ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:thành phần vi chất, độ nhớt, nguồn gốc địa lý…trung bình nó ở khoảng 0,9 tức

là nhẹ hơn nước nguyên chất một chút

3 Tình hình dầu tràn trên thế giới và Việt Nam

3.1 Trên thế giới

Bảng1: Thống kê danh sách một số vụ tràn dầu

Tràn dầu vịnh War Vịnh Ba Tư 21/01/1991 136.000–1.500.000Giếng dầu Ixtoc I Vịnh Mexico 3/6/1979–23/ 3/1980454.000–480.000

Trang 6

Atlantic Empress /

Aegean Captain

Trinidad and

Fergana Valley Uzbekistan 2/3/1992 285.000

ABT Summer 1.300 km ngoàikhơi Angola 1991 260.000

Castillo de Bellver Vịnh Saldanha,Nam Phi 6/ 8/ 1983 252.000

Amoco Cadiz Brittany, Pháp 16/3/1978 223.000

Thảm hoạn bồn chứa

Amoco Haven Địa Trung Hải gầnGenoa, Ý 1991 144.000

Odyssey

1.300 km ngoàikhơi Nova Scotia,

Torrey Canyon Scilly Isles, UK 18/3/1967 80.000–119.000

Irenes Serenade Vịnh Navarino,

Urquiola A Coruña, Tây

Trang 7

Exxon Valdez [b] Vịnh Alaska 24/3/1989 35.000

Cụ thể một số vụ tràn dầu rất nghiêm trọng:

Kênh Santa Barbara (một vùng khac thác dầu hỏa có trong lòng đất) ở phía tây

California xuất hiện những vết dầu trên bề mặt đại dương tạo ra dầu hỏa và hắc ín

trên các bãi biễn và hắc ín ở đất liền Lượng dầu này chảy ra từ các mỏ dầu cạn và

các mỏ ngầm lên bề mặt qua các khe hở hay các nền đá xốp

• Hậu quả: Ước tính tốc độ rò rỉ từ nguồn này ra đại dương khoảng 3.000 – 4.000tấn/năm (Allan 1970) Năm 1969, những thông tin sinh thái học về dầu được đưa ra(Straughan và Abbott 1971), tổng số lên tới 10.000 tấn dầu thô bị tràn ra làm ô nhiễmhoàn toàn con kênh và hơn 230 km đường bờ biển, ô nhiễm trung bình ở bờ biển bởiphế phẩm dầu là 15 tấn/km với 10,5 tấn/km ở vùng lân cận bởi dầu hỏa tự nhiên và0,03 tấn/km cho tất cả các

Bãi biển California Năm 1979, một vụ tràn dẩu xảy ra ở vị trí cách bờ tây Mehico 80

km – tai nạn IXTOC-I đã gây tràn dầu rất lớn Tốc độ lan lên tới 6.400 m3/ ngày vàkéo dài hơn 9 tháng

• Hậu quả: dầu loang đến 180 km dài và rộng tới 80 km, ước tính 50 % lượng dầu tràn

bị hóa hơi vào khí quyển, 25 % lượng dầu tràn xuống đáy, 12% bị phân hủy nhờ visinh vật và quá trình quang hóa, 6% bị chuyển hóa, 6% trôi nổi và làm ô nhiễm 600

km bờ biển Mehico và 1% dạt vào đất liền trên các bãi biển Taxas (Ganhing, 1984).23/03/1989, chiếc tàu chở dầu Exxon Valder rời cảng dầu Valder, Alaska( Mỹ), mangtheo 200 triệu lít dầu thô tới Long Beach, California (Mỹ) con tàu nảy vướng vào dảisan hô Blig và gây ra thảm họa môi trường lớn

• Hậu quả: khoảng 40 triệu lít dầu thô tràn ra eo biển nguyên sơ Prince William làm2.250 km bờ biển tràn ngập dầu Khoảng 10.000 công nhân, 1.000 tàu thuyền và hơn

100 máy bay các loại đã được huy động để khắc phục sự cố

Tuy vậy, dù dấu tích thảm họa Vallder đã gần như phai mờ, du lịch ở đây đã phát triểntrở lại nhưng tại những vùng nằm trong khu vực vẫn đang cỏn tổn tại dư âm của nó, vệtdầu nằm sâu vài gang tay dưới lòng đất vẫn tiếp tục rỉ ra biển, một số loài như chim lặngavial, hải cẩu, vịt hề hay cá trích Thái Bình Dương vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi

Trang 8

Hình 3 : Tàu Exxon Valdez trước và sau thảm họa

Ngày 14/4/2001, tàu Zainab ( Iraq ), vận chuyển khoảng 1.300 tấn dầu thô, bị chìmtrên đường tới Pakistan Xấp xỉ 300 tấn dầu (vẫn chưa có con số chính xác) đã trànxuống biển, trước khi người ta kịp hàn lỗ thủng ở thân tàu Sự cố tràn dầu này là thảmhọa môi trường lớn nhất ở Các Tiểu Vương quốc Ảrập thống nhất suốt 6 năm qua.Vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 07 tháng 12 năm 2007 theo giờ địa phương (22 giờ 30phút ngày 06 tháng 12 năm 2007 theo giờ UTC), một chiếc salan của Hãng côngnghiệp nặng Samsung được kéo bởi một chiếc tàu lai đã đâm vào tàu chở dầu thô củaHongkong đang neo đậu với 260,000 tấn dầu thô bên trong Vụ việc này xảy ra gầnkhu vực cảng Hàn Quốc tại bờ biển Hoàng Hải, cách thủ đô Seoul 120 km về phíaTây nam Chiếc Salan đâm vào tàu Hebei Spirit đã trôi tự do sau khi dây nối với chiếctàu lai bị đứt vì thời tiết xấu

• Hậu quả: Mặc dù không có thương vong về người nhưng vụ đâm va này đã tạo ra 3 lỗthủng trên vỏ tàu Hebei Spirit làm cho khoảng 10,800 tấn dầu thô tràn ra biển HoàngHải Số dầu còn lại trong 3 két bị thủng đã được bơm vào các két khác Vụ tràn dầuxảy ra gần khu vực bãi biển Mallip, nơi được coi là bãi biển đẹp và ưa chuộng nhấtHàn Quốc

3.2 Ở Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm 1987 đến nay đã xảy ra hơn

90 vụ tràn dầu tại các vùng sông và biển ven bờ

Riêng thành phố Hồ Chí Minh, tính từ năm 1993 đến nay đã xảy ra trên 8 vụ tràn dầu vớilượng dầu ước tính là 2.520 tấn, gây thiệt hại hơn 7 triệu USD Đặc biệt, trong hai năm

2006, 2007 tại khu vực bờ biển Việt Nam thường xuyên xuất hiện nhiều sự cố tràn dầu

“bí ẩn”

Trang 9

Nhất là từ tháng 1 đến tháng 6-2007 đã liên tục xuất hiện rất nhiều vết dầu ở 20 tỉnh venbiển từ đảo Bạch Long Vĩ xuống mũi Cà Mau Các tỉnh này đã thu gom được 1,720.9 tấndầu

Bảng 2; T hống kê một số sự cố tràn dầu ở Việt Nam

( Tấn)

1 26/12/1992 mỏ Bạch Hổ vỡ ống dẫn mềm tàu dầu đến

phao nạp

300-700(FO)

1.700

8 16/10/2008 Đèo Hải Vân Kho dầu hàng không bị vỡ

toác, dầu tràn xuống biển

Trang 10

Bảng 3: Sơ lược về lượng dầu trôi dạt vảo bờ biển nước ta

Đợt Thời gian Khu vực hay tỉnh thành Diện tích dầu loang kèm hiện tượng

Dầu trôi dạt

3 30/01/2007 Khu vực Đà Nẵng đến

Quảng Nam

Kéo dài gân 20km

4 02/2007 Lệ Thủy- Quảng Bình Trên 60 km bờ biển

5 28/02/2007 Phường Quan Triều đến

phường Cam Giá ( Tp Thái

6 19/04/2007 Vùng biển Nha Trang và

Ninh Thuận

Dầu loang kéo dài hàng chục km bờbiển

7 10/2007 xã An Ninh Đông, huyện

Tuy An, tỉnh Phú Yên

Vệt dầu đã loang khỏang 500m vớidiện rộng

B Sơ lược về dầu mỏ

1 Dầu mỏ là gì?

Dầu mỏ là một hỗn hợp hóa chất hữu cơ ở thể lỏng đậm đặc, sánh đặc màu nâu hoặc ngả lục Phần lớn dầu mỏ là những hợp chất của hydrocarbon, thuộc gốc alkane, thành phần rất đa dạng

2 Thành phần và tính chất của dầu mỏ

2.1 Thành phần

Dựa vào tính chất hóa học ta chia dầu mỏ thành 2 thành phần sau:

- Các hợp chất hydrocacbon (HC), là hợp chất mà trong thành phần của nó chỉ chứa hai nguyên tố là cacbon và hydro Đây là thành phần chính và quan trong nhất

- Các hợp chất phi HC, là các hợp chất mà trong thành phần của nó ngoài

cacbon, hydro thì chúng còn chứa thêm các nguyên tố khác như nitơ, lưu huỳnh, oxy …

Trang 11

Công thức tổng quát lả CnH2n

Naphten là các hợp chất vòng no, chủ yếu ở dạng rắn Đây là một trong số các

hydrocacbon phổ biến và quan trọng của dầu mỏ Hàm lượng của chúng trong dầu mỏ có thể thay đổi từ 30-60% trọng lượng Phản ứng hóa học thường gặp là phản ứng thế

Naphten của dầu mỏ thường gặp dưới 3 dạng chính : loại vòng 5 cạnh, loại vòng

6 cạnh hoặc loại nhiều vòng ngưng tụ hoặc qua cầu nối còn những loại vòng 7 cạnhtrở lên thường rất ít không đáng kể

Các hydrocacbon thơm hay Aromatic

Công thức tổng quát là CnH2n-6

Đây là hydrocacbon bão chưa bão hòa (trong công thức có nối đôi hoặc nối ba), dạng phổbiến và đơn giản nhất là ben zen Phản ứng hóa học thường gặp là phản ứng trùng hợp Nhóm Aromatic dễ bị oxy hóa và dễ tác dụng với H2SO4

Trang 12

Trong dầu nhẹ, trừ dầu thô Borneo hàm lượng nhóm Aromatic rất thấp dưới 10%; trong dầu nặng chúng chiếm tỷ trọng cao hơn, thường từ 30% trở lên Đặc biệt, nhóm này là nguyên liệu chưng cất ra xăng chống nổ nên chúng có chỉ số octan cao.

Acetylen:

Công thức tổng quát la CnH 2n-2

Nhóm này thường tạo thành hỗn hợp phức tạp với dãy Paraffin và Naften Dầu thô

Naftenparefin chiếm 75% lượng dầu thế giới

2.1.2 Các hợp chất phi cacbon

Đây là những hợp chất, mà trong phân tử của nó ngoài cacbon, hydro còn có

chứa oxy, nitơ, lưu huỳnh tức là những hợp chất hữu cơ của oxy, nitơ, lưu huỳnh

Điển hình như Resin và Asphan Resin và Asphan là hydro vòng cao phân tử có chứa các

tổ phần ngoại lai, chủ yếu là N, S và O Do N, S, O là các nguyên tố có phân tử khối lớn nên Resin và Asphan là những thành phần nặng nhất của dầu thô Chúng thường xuất hiện cùng Aromatic nặng với hàm lượng lên tới 25 – 60%

Cần chú ý, đứng về thành phần nguyên tố thì hàm lượng O, N, S trong dầu mỏ

rất ít, tuy nhiên, vì những nguyên tố này thường kết hợp với các gốc hydrocacbon,

nên trọng lượng phân tử của chúng cũng tương đương với trọng lượng phân tử của

hydrocacbon mà nó đi theo do đó hàm lượng của chúng khá lớn

2.2 Tính chất vật lý và phân loại theo mục đích sử dụng dầu mỏ

2.2.2 Phân loại theo mục đích sử dụng

Khoảng nhiệt độ sôi của các sản phẩm dầu mỏ trong chưng cất phân đoạn trong điều kiện

áp suất khí quyển tính theo độ C là:

- Xăng ête: 40-70 °C (được sử dụng như là dung môi)

- Xăng nhẹ: 60-100 °C (nhiên liệu cho ô tô)

- Xăng nặng: 100-150 °C (nhiên liệu cho ô tô)

- Dầu hỏa nhẹ: 120-150 °C (nhiên liệu và dung môi trong gia đình)

- Dầu hỏa: 150-300 °C (nhiên liệu )

- Dầu điêzen: 250-350 °C (nhiên liệu cho động cơ điêzen/dầu sưởi)

- Dầu bôi trơn: > 300 °C (dầu bôi trơn động cơ)

Trang 13

- Các thành phần khác: hắc ín, nhựa đường, các nhiên liệu khác

3 Quá trình hình thành dầu mỏ

3.1 Theo thuyết sinh vật học

Đa số các nhà địa chất coi dầu lửa giống như than và khí tự nhiên là sản phẩm của sự nén

và nóng lên của các vật liệu hữu cơ trong các thời kỳ địa chất Theo lý thuyết này, nó được tạo thành từ các vật liệu còn sót lại sau quá trình phân rã xác các động vật và tảo biển nhỏ thời tiền sử (các cây cối trên mặt đất thường có khuynh hướng hình thành than) Qua hàng thiên niên kỷ vật chất hữu cơ này trộn với bùn, và bị chôn sâu dưới các lớp trầm tích dày Kết quả làm tăng nhiệt và áp suất khiến cho những thành phần này bị biến hoá, đầu tiên thành một loại vật liệu kiểu sáp được gọi là kerogen, và sau đó thành một hydrocarbons khí và lỏng trong một quá trình được gọi là catagenesis Sự tập trung hydrocarbons bên trong một bẫy hình thành nên một giếng dầu, từ đó dầu lỏng có thể được khai thác bằng cách khoan và bơm

3.2 Theo thuyết vô cơ

Cuối thế kỷ 19 nhà hóa học người Nga Dmitri Ivanovich Mendeleev đã đưa ra lý thuyết

vô cơ giải thích sự hình thành của dầu mỏ Theo lý thuyết này dầu mỏ phát sinh từ phản ứng hóa học giữa cacbua kim loại với nước tại nhiệt độ cao ở sâu trong lòng trái đất tạo thành các hiđrocacbon và sau đó bị đẩy lên trên Các vi sinh vật sống trong lòng đất qua hàng tỷ năm đã chuyển chúng thành các hỗn hợp hiđrôcacbon khác nhau Lý thuyết này

là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học, tạo thành trường phái Nga -

Ukraina trong việc giải thích nguồn gốc dầu mỏ

3.3 Theo thuyết hạt nhân

Lý thuyết thứ ba, được giải thích trong nguyệt san khoa học Scientific American vào năm

2003, cho rằng các hợp chất hyđrocacbon được tạo ra bởi những phản ứng hạt nhân tronglòng Trái Đất

4 Tầm quan trọng về kinh tế của dầu mỏ

Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đại dùng để sản xuất điện và cũng là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông vận tải Hơn nữa,

dầu cũng được sử dụng trong công nghiệp hóa dầu để sản xuất các chất dẻo (plastic) và

nhiều sản phẩm khác Vì thế dầu thường được ví như là "vàng đen"

Tùy theo nguồn tính toán, trữ lượng dầu mỏ thế giới nằm trong khoảng từ 1.148 tỉ thùng

(barrel) Trữ lượng dầu mỏ tìm thấy và có khả năng khai thác mang lại hiệu quả kinh tế

với kỹ thuật hiện tại đã tăng lên trong những năm gần đây và đạt mức cao nhất vào năm

2003 Người ta dự đoán rằng trữ lượng dầu mỏ sẽ đủ dùng cho 50 năm nữa

Trang 14

Năm 2003 trữ lượng dầu mỏ nhiều nhất là ở Ả Rập Saudi (262,7 tỉ thùng), Iran (130,7 tỉ thùng) và ở Iraq (115,0 tỉ thùng) kế đến là ở Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Kuwait và Venezuela Nước khai thác dầu nhiều nhất thế giới trong năm 2003 là Ả Rập Saudi (496,8 triệu tấn), Nga (420 triệu tấn), Mỹ (349,4 triệu tấn), Mexico (187,8 triệu tấn) và Iran (181,7 triệu tấn) Việt Nam được xếp vào các nước xuất khẩu dầu mỏ từ năm

1991 khi sản lượng xuất được vài ba triệu tấn Đến nay, sản lượng dầu khí khai thác và xuất khẩu hàng năm đạt vào khoảng 20 triệu tấn/năm

Vì tầm quan trọng kinh tế, dầu mỏ cũng là lý do cho những mâu thuẫn chính trị Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã sử dụng dầu mỏ như vũ khí trong cuộc xung đột Trung Đông và tạo ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào năm 1973 và 1979

C NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA SỰ CỐ TRÀN DẦU

1 Quan sát và phân tích theo các vị trí thường xảy ra tràn dầu

1.1 Trên thế giới

Hình 5: Bản đồ các vị trí tràn dầu lớn trên thế giới

Trang 15

1.2 Ở Việt Nam

Hình 6: Bản đồ các vị trí tràn dầu lớn ở Việt Nam

Dựa vào vị trí các khu vực thường xảy ra các sự cố tràn dầu ta có thể xác định được nguyên nhân khách quan gây ra các sự cố chủ yếu là do:

1) Nơi đây có các rạn san hô và các mảng đá ngầm sắc nhọn có khả năng làm rách

bộ phận đáy và bên hông của các tàu thuyền

2) Sóng lớn, thường xảy ra các trận bão biển gây khó khăn cho việc điều chỉnh hướng tàu

3) Sự xuất hiện bất thường của các tảng băng ngầm có kích thước lớn va đập vào tàu gây hư hỏng một số bộ phận của tàu

4) Khi gặp sự cố, khó liên lạc và truyền báo thong tin về tình trạng đang xảy ra trêntàu, gây hạn chế sự cứu trợ khẩn cấp từ bộ phận liên quan có trách nhiệm theo dõi và xử lý

Trang 16

2 Nguyên nhân gây nên sự cố tràn dầu

Nguyên nhân dầu tràn chỉ có thể xuất

phát từ ba khả năng:

• Thứ nhất, trên mặt nước biển Rò rỉ từ

các tàu thuyền hoạt động ngoài biển:

chiếm khoảng 50% nguồn ô nhiễm dầu

trên biển Do tàu chở dầu trong vùng

ảnh hưởng bị sự cố ngoài ý muốn hoặc

cố ý súc rửa, xả dầu xuống biển

Trang 17

dầu thì khả năng túi dầu bị vỡ, bị xì là hoàn toàn có thể Mặt khác, trong lòng đất có rấtnhiều vi sinh vật yếm khí, một số loài có khả năng “nhả” ra axit làm bào mòn các lớptrầm tích nằm phía trong hoặc ngoài các túi dầu, khí

Giới khai thác dầu khí đã biết lợi dụng khả năng này của đội quân vi sinh vật yếm khítrên nhằm góp phần làm thông thương tốt hơn các mạch dầu, khí Tuy nhiên, bằng suyluận tương tự thì đội quân vi sinh vật này cũng có thể tàn phá lớp trầm tích bên ngoài mỏdầu, đến một lúc nào đó làm dầu “xì” ra

• Ngoài ra các nguyên nhân khách quan nói trên còn phải nói đến các nguyên nhân chủ quan do hành động thiều ý thức của con người đã trực tiếp hoặc gián tiếp khiến dầu tràn ra biển

3 Hậu quả của tràn dầu

Trên thế giới, hàng năm có rất nhiều vụ tràn dầu từ nhiều nguyên nhân khác nhau làmảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái như: nước, đất, không khí, sinh vật và

cả con người Gây thiệt hại nhiều đến công sức và tiền bạc

3.1 Hậu quả về kinh tế

• Tốn kém tiền bạc để làm sạch môi trường bị ô nhiễm

Ví dụ: Vụ tràn dầu ở Alaska, (1989) mất 2.5 tỉ USD cho quá trình làm sạch, vàước tính toàn bộ chi phí lên đến 9.5 tỉ USD Tàu KASCO MONROVA tại Cát Lái – Tp Hồ

Ngày đăng: 31/10/2014, 14:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Deepwater Horizon nghiêng ngả và cháy liên tục trong hàng chục giờ liền. - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 1 Deepwater Horizon nghiêng ngả và cháy liên tục trong hàng chục giờ liền (Trang 4)
Hình 5:  Bản đồ các vị trí tràn dầu lớn trên thế giới - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 5 Bản đồ các vị trí tràn dầu lớn trên thế giới (Trang 14)
Hình 6:  Bản đồ các vị trí tràn dầu lớn ở Việt Nam - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 6 Bản đồ các vị trí tràn dầu lớn ở Việt Nam (Trang 15)
Hình 8: Rò rỉ các đường ống dẫn dầu - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 8 Rò rỉ các đường ống dẫn dầu (Trang 16)
Hình 9: Các hệ thống khoan gặp trục trặc - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 9 Các hệ thống khoan gặp trục trặc (Trang 17)
Hình 10: Ngư dân đánh cá trên vùng nước nhiễm dầu. - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 10 Ngư dân đánh cá trên vùng nước nhiễm dầu (Trang 18)
Hình 11: Dầu lan rộng làm ô nhiễm môi trường biển - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 11 Dầu lan rộng làm ô nhiễm môi trường biển (Trang 19)
Hình 12: Chim bị nhiễm độc khi ăn phải con mồi bị nhiễm độc - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 12 Chim bị nhiễm độc khi ăn phải con mồi bị nhiễm độc (Trang 20)
Hình 12: Hơn 2000 chim cánh cụt bị lấm dầu - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 12 Hơn 2000 chim cánh cụt bị lấm dầu (Trang 20)
Hình 13: Một con rùa biển kiếm ăn trong làn nước phủ dầu - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 13 Một con rùa biển kiếm ăn trong làn nước phủ dầu (Trang 21)
Hình 14: Dầu loang trên mặt nước. - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 14 Dầu loang trên mặt nước (Trang 21)
Hình 15: Vi khuẩn ăn dầu Alcanivorax Borkumensis - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 15 Vi khuẩn ăn dầu Alcanivorax Borkumensis (Trang 23)
Hình 18. Phao quay dầu 24/24. - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 18. Phao quay dầu 24/24 (Trang 31)
Hình 20. Máy hút dầu loại Brush. Loại này sử dụng tốt nhất đối với các - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 20. Máy hút dầu loại Brush. Loại này sử dụng tốt nhất đối với các (Trang 31)
Hình 23. Mô hình diễn tả sự phân tán của chất hóa học. - ứng dụng vi sinh vật và xữ lý tràn dầu
Hình 23. Mô hình diễn tả sự phân tán của chất hóa học (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w