Bệnh học Môi trường
Trang 1DAI HOC QUOC GIA TP HO CHi MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VAN
PGS-TS V6 Hung ThS Nguyén Thi Kim Loan Th§ Phạm Thị Bích Ngân
BENH HOC MỖI TRƯỜNG
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TP HỒ CHÍ MINH -~ 2006
Trang 2LOINOI DAU
Trong tiến trình phát triển và hội nhập, để phát triển bên
vững, mỗi quốc gia đều có chiến lược và kế hoạch phát triển riêng
nhưng không nằm ngoài khuôn khổ hoạch định chung của toàn thế
giới
Phát triển bên vững không chỉ là phát triển, sử dụng và bảo
vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên lâu bên, mà còn là bảo vệ môi
trường và đòi hỏi các chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
bởi vì con người cũng là một nguôn tài nguyên Ô nhiễm môi
trường đã dẫn đến hệ lụy của nó là bệnh tật, giảm sút sức khoẻ và
sự giảm sút khả năng lao động của nhân loại
Giáo trình Bệnh học Môi trường được biên soạn nhằm mục
đích cung cấp cho học viên hệ Cao học chuyên ngành Sit dung va
bảo vệ tài nguyên môi trường những khái niệm cơ bản và các mối
liên quan chặt chẽ giữa môi trường và bệnh lật, từ đó giúp học
viên có được những kiến thức cơ bản có thể định hướng trong việc
đưa ra các giải pháp cải thiện môi trường, nâng cao sức khoẻ
người lao động và sức khoẻ cộng đồng
Ngoài ra, giáo trình có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo cho các giảng viên, sinh viên ngành Khoa học Môi trường —
Bảo hộ lao động, cũng như các ngành Xã hội học, Tâm lý, Giáo
duc hoc
Chúng tôi đã cố gắng biên tap nhitng kién thitc co ban nhdm
đảm bảo tính Khoa học, tính giáo khoa, tính logic và tính Việt
Nam của một giáo trình
Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc biên soạn cho phù hợp với lĩnh vực môi trường và sức khoẻ, song giáo trình này không
tránh khỏi những thiếu sót về nhiều mặt Tập thể tác giả rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp và bổ sung của bạn đọc để có
thể sửa chữa cho giáo trình được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơi
Tập thể tác giả.
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong chiến lược “Ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến
năm 20007 (Đại hội 8) và văn kiện đại hội 8 đều ghi rõ “Đất
nước ta đang ở thời kỳ phát triển mới Đẩy mạnh công nghiệp hóa
— hiện đại hóa (CNH_-HĐH) là nhiệm vụ trung tâm trong suốt
thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), trong đó con
Hgười Ở vị trí trung tâm, vì mục tiêu và động lực chung của sự
phát triển là vì con người, do con người”
Mọi chương trình dự án của Nhà nước, mọi hoạt động nhằm
thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội đều nhằm vào đích cuối
cùng là cuộc sống ngày càng tốt đẹp của con người cả về vật
chất lẫn tinh thần, bởi vì chính con người làm nên tất cả, con
người làm thay đổi xã hội, phát triển xã hội Do đó chính con
người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển xã hội, kinh tế
Con người là một thực thể sinh học tổn tại trong tổng thể
các mối quan hệ hài hòa với nhau Về bản chất con người được
cấu tạo từ những đơn vị nhỏ nhất là các tế bào sống Các tổ chức
cơ quan, bộ máy cơ thể đảm nhiệm những chức năng nhất định
cho sự sống của con người Từ khi sinh ra, tăng trưởng, phát triển
và già đi con người luôn tổn tại trong môi trường tự nhiên và xã
hội, chịu tác động từ nhiều phía, trong mối quan hệ chằng chịt
của nhiều yếu tố có tác động lẫn nhau Môi trường xã hội là môi
trường gI1ữa con người với con người, với tư cách là:
- Cá thể khi đại diện cho loài người — cá thể của mội loài
— Cá nhân khi là thành viên của xã hội - cá nhân trong một
trong mối liên quan chặt chẽ với môi trường, tác động qua lại với
môi trường bằng những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực khác nhau Mức độ ảnh hưởng đó đến con người ngày nay, khác hắn
với sinh vật, phụ thuộc vào thái độ cư xử của con người đối với môi trường
Nghiên cứu các quy luật tác động giữa môi trường và con
người phải được đặt trong mô hình thống nhất không tách rời
giữa tĩnh thần và thể xác, không tách rời giữa nhân cách và sinh thể Đó là công việc của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, do
nhiều ngành khoa học riêng rẽ tiến hành nhưng tất cả đều hướng
về một mục tiêu thống nhất với điều cốt lõi là lấy con người làm
trung tâm Bảo vệ môi trường cũng chính là vì con người và do
đó cũng không phải là trách nhiệm của riêng ai Giáo trình này
chỉ giới hạn trong một phạm vi hẹp chủ yếu là tác động của môi trường (chủ yếu là môi trường tự nhiên) đến cộng đồng người nhằm hướng tới những giải pháp tổng thể hạn chế ảnh hưởng xấu, bảo vệ sức khỏe trước mắt và lâu dài cho cộng đồng để lao động có hiệu quả vì mục tiêu phổn vinh của toàn thể cộng đồng Đây chưa phải là một giáo trình Bệnh học thuần túy vì đối tượng
của bệnh học là bệnh nhân và mục tiêu của bệnh học là điều trị
Trang 4trình này là con người bình thường trong môi trường với những
tác động từ nhiều phía gây nhiều hiệu quả khác nhau, cái tích
cực và tiêu cực đan xen nhau, cái xấu lẫn với cái tốt Mục tiêu
của Giáo trình là trang bị cho học viên những hiểu biết căn ban
về mối quan hệ của các nhân tố môi trường với bản thân con
người trong nhân cách đích thực của họ trước cộng đồng, có quan
hệ mật thiết với cộng đồng nhằm bảo vệ sức khỏe của cộng đồng
trước mắt và lâu dài Đó cũng là mục tiêu không riêng một giáo
trình này Tuy nhiên cái khác là ở nội dung và phương pháp
nghiên cứu
Giáo trình không đi sâu vào những biện pháp kỹ thuật công
nghệ mà chỉ nêu lên những nguyên lý tổng quát dựa trên những
phương pháp nghiên cứu cộng đồng mà mội trong những phương
pháp được ứng dụng rộng rãi là Dịch rễ học, nhằm thu thập
những thông tin cơ bản về sức khỏe, tìm hiểu sự phân bố bệnh tật
và yếu tố quyết định sự phân bố đó Dịch tễ học nghiên cứu các
nhóm người, cộng đồng người (chứ không phải là cá thể), phân
tích các nhóm người có bệnh và không có bệnh, tìm ra sự khác
biệt và tiến tới các yếu tố tác động đến quá trình sinh bệnh Tác
nhân gây bệnh là một bộ phận của tổng thể môi trường Chính
quan niệm này thể hiện tính đa dạng trong quan hệ giữa con
người với môi trường mà con người là trung tâm của các mối
quan hệ đó
Có ba cách nghiên cứu dich té hoc:
— Dịch tễ học mô tả: quan sát, ghi chép các hiện tượng, các
diễn biến, các đặc điểm thấy được ở các đối tượng nghiên cứu
Đó là phương pháp kinh điển mà ngày nay không ai dừng lại ở
việc mô tả này
— Dịch tễ học phân tích: mang tính chất của một quy trình thử nghiệm, sử dụng các nhóm đối chứng, sử dụng các tỷ lệ rút
ra được từ các nhóm để so sánh đối chiếu
Quá trình thu thập đữ liệu có thể tiến hành theo nhiều cách:
+ Điều tra, hồi cứu: sử dụng những hồ sơ, số liệu thống kê,
tư liệu có sẵn để phân tích, giải trình Nhược điểm là có khi không đầy đủ hoặc không đủ tin cậy, phiến diện, chất lượng không đảm bảo
+ Điều tra thực địa: là cách thức phổ biến và cần thiết (ngay cả khi có điều tra hồi cứu, cũng như kết quả thực nghiệm ở phòng thí nghiệm) vẫn còn phải được kiểm chứng tại thực địa)
Ở đây việc chọn mẫu điều tra là vô cùng quan trọng Mẫu
là một bộ phận của quần thể, cộng đồng Kết luận rút ra từ mẫu chỉ có giá trị khi mẫu về số lượng là đủ lớn, về chất lượng là
không chệch và đại điện được cho toàn bộ cộng đồng mà ta
nghiên cứu Phương pháp lấy mẫu đủ tin cậy thống kê được quy
định trong phương pháp thống kê sinh học
— Dịch tễ học can thiệp: Đây là giai đoạn rất quan trọng
nhưng phần lớn các công trình nghiên cứu đều không đi tới được
giai đoạn này bởi vì nó đòi hỏi thời gian và tốn kém thì mới làm được Tuy vậy, nó rất cần thiết và không thể làm khác được nếu muốn công trình nghiên cứu đi tới được hiệu quả hữu ích cho cộng đồng
Từ những dẫn liệu điều tra được cho phép chúng ta đặt ra
giả thiết, tiến hành các thử nghiệm về các giả thiết, các mô hình,
Trang 5các biện pháp để qua đó thử nghiệm tính hiệu quả của nó sang
cộng đồng Thông thường người ta phải chọn mẫu bởi vì:
- Không cách nào thu thập được số liệu trên toàn bộ quần
thể vì sẽ quá lớn, quá tốn kém, quá mất thì giờ, có thể sai sót rất
lớn vì quá nhiều người tham gia
— Do đó chỉ có thể lấy mẫu là bộ phận của quần thể Kết
luận rút ra từ mẫu sẽ đại điện cho quần thể vì thế nó phải đủ lớn
để phù hợp quy luật số đông và không chệch
— Xác định cỡ mẫu phải tùy thuộc vào tính chất nghiên
cứu, mức độ sai số cho phép
Số trung bình của quần thể là x, của mẫu sẽ là xị, x;, Xa
xạ, Số trung bình sẽ đao động quanh số trung bình lý thuyết của
quân thể, tuân theo luật phân phối chuẩn và có độ lệch trung
bình là mx
Độ lệch trung bình của mẫu bằng độ lệch của quần thể chia
cho căn số của n số cá thể
Trong thực tế khi cần xác định cỡ mẫu phù hợp thì ta làm
thăm đò một số cá thể để tìm được ö, rồi xác định độ chính xác
trong đó c = sai số cho phép
Ví dụ: Khi nghiên cứu về chiều cao của một nhóm cư dân,
trường đến sức khốc của dân cư ở một địa bàn đô thị hóa tai TPHCM:
Một cụm dân cư khoảng 20 nóc nhà quanh năm ngập ngụa
ở gần ngã tư 4 xã giáp ranh giữa huyện Bình Chánh và quận Tân
Bình có 41 em từ 6 — 10 tuổi, có tỷ lệ bệnh khác xa với 48 em ở
38 nóc nhà thuộc một cụm dân trên đường Tân Kỳ - Tân Quý
thuộc Bình Hưng Hòa, nơi khô ráo nhưng chịu nhiều bụi do giao
thông và do lò thiêu Bình Hưng Hòa
Số liệu khảo sát như sau:
Bang 1:
Trang 6
Nước thải chảy tràn, ô nhiễm nặng 35 6 31 10
Nước thải ít, môi trường tương đối 8 40 9 39
(Nguồn: Số liệu rút gọn từ dé tài nghiên cứu “Tác động
của đô thị hóa, công nghiệp hóa đến môi trường sống dân cư một
số vùng ngoại thành năm 2002)
Các chỉ số được dùng để mô tả sự liên quan giữa bệnh tật
và tiếp xúc với yếu tố độc hại được tính theo mô thức bệnh
a +b: Tổng số người có tiếp xúc
c +d: Tổng số người không tiếp xúc
a +c: Tổng số người có bệnh b+d: Tổng số người không mắc bệnh
— Tỷ lệ nhiễm bệnh ở nhóm có tiếp xúc: a /(a + b)
— Ty lệ nhiễm bệnh ở nhóm không tiếp xúc: c /(c + đ)
— Neguy co tuong déi RR (Relative Risk) = (a/a + b) / (cle +d)
=a(c+đ)/c(a+b)
— Chỉ s6 chénh (Odd Ratio) OR = (a/c)/ (b/d) = ad/bc
Tỷ lệ nhiễm bệnh da và bệnh tiêu chảy ở nhóm tiếp xúc nhiều nước thải bẩn
— Bệnh da:35 /(35 +6) = 35/41 = 85,4%
Trang 7— Bệnh tiêu chảy: 31 /(31 + 10) = 31/41 = 75,6%
Tỷ lệ mắc bệnh da và bệnh tiêu chảy ở nhóm ít tiếp xúc
với nước thải bẩn
Nguy cơ tương đối (RR) cho biết số lần nguy cơ phát bệnh
ở nhóm tiếp xúc so với nguy cơ phát bệnh ở nhóm không tiếp
xúc với môi trường nước thải bẩn
- Bệnh da: (35x48) / (8x41) = 1680 /328 = 5,12 lần
- Bệnh tiêu chảy: (31x48) / (9x41) = 1488/ 369 = 4,03 lần
Nguy cơ tương đối (RR) cho biết số lần nguy cơ phát bệnh
ở nhóm tiếp xúc so với nguy cơ phát bệnh ở nhóm không tiếp
xúc với môi trường nhiều bụi
- Bệnh hô hấp = (28x48) / (12x41) = 1344 /492 = 2,73 lần
Chỉ số chênh (OR) là sự chênh lệch giữa số mắc bệnh ở nhóm
tiếp xúc so với số mắc bệnh ở nhóm không tiếp xúc với môi trường
xấu
- Bệnh da = (35x40)/ (6x8) = 1400 /48 = 29,2 lần
- Bệnh tiêu chảy = (31x39) /(9x10) = 1209/90 = 13,4 lần
- Bệnh hô hấp = (28x36) /(12x13) = 1008 / 156 = 6,46 lần Trên đây là một khảo sát ngẫu nhiên, chưa nói lên thực
trạng bệnh tật vì chưa có những nghiên cứu đầy đủ về dịch tễ học Tuy nhiên cũng đã thấy có một mối tương quan giữa Ô nhiễm môi trường và bệnh tật phổ biến khiến chúng ta phải suy
nghĩ
Trang 8CHUONG I
KHAU! QUAUT VEA HEA SINH THAUI
NGOO@!
Muc tiéu
Trên cơ sở giới thiệu vắn tắt về môi trường và hệ sinh thái,
học viên cần đọc lại những vấn để đã học về sinh thái môi
trường để nắm được những nội dung chủ yếu sau đây:
— Hệ sinh thái người trước hết cũng là một hệ sinh thái tự
nhiên, trong đó mội loài sinh học được tách ra để trở thành nhóm
qui chiếu, đó là con người; sự hiện điện của con người làm biến
đổi các hệ sinh thái tự nhiên, phá vỡ sự cân bằng thông thường
của chúng Tất cả phụ thuộc vào mật độ dân số và các giai đọan
phát triển văn hóa- hình thái kinh tế của họ
— Từ chỗ lệ thuộc hoàn toàn vào tài nguyên môi trường,
con người tiến tới chỗ chinh phục rồi khai thác triệt để tài
nguyên môi trường dẫn đến làm cạn kiệt và suy thoái môi
trường
— Con người trổ thành thủ phạm nhưng đồng thời cũng là
nạn nhân của suy thoái môi trường
— Nghiên cứu sinh thái học người là cơ sở khoa học để xây
dựng mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên
1.1 Hệ sinh thái người
1.1.1 Phương thức sống:
Sống là phương thức tổn tại với những thuộc tính đặc biệt
của vật chất trong những điều kiện nhất định của sinh quyển Trong quá trình xuất hiện, phát triển và tiến hóa, sự sống luôn gắn chặt với môi trường mà nó tổn tại Không hề có sự sống
ngoài môi trường và cũng không thể có sự sống trong môi trường
mà nó không thích ứng được Mối quan hệ giữa quần xã sinh vật
và môi trường sống bao quanh dưới tác động của năng lượng mặt
trời tạo nên một hệ thống mở gọi là hệ sinh thái
Con người là loài sinh học cao cấp nhất có những đặc thù
về cấu tạo, chức năng và quan hệ đặc biệt đối với môi trường
Môi trường sống của con người cũng chứa đựng nhiều đặc thù như:
— Môi trường tự nhiên vốn sẵn có và tiếp diễn dưới tác
động qua lại với con người
— Môi trường văn hóa xã hội do con người tạo ra Chỉ có COn người mới có môi trường này
— Phương thức thích nghi sinh học với môi trường tự nhiên
yếu dần dù nó vẫn tồn tại và diễn biến
— Phương thức thích nghi bằng sản phẩm văn hóa phát triển
mạnh lên
Từ đó có hệ sinh thái người mà con người, khác với mọi
sinh vật khác, thích nghi một cách chủ động với môi trường
Con người khai thác môi trường để phục vụ cuộc sống Với dân số tăng nhanh, môi trường đang bị khai thác tùy tiện, đang
Trang 9cạn kiệt với nhịp độ báo động Thế cân bằng sinh thái bị vi phạm
nghiêm trọng, trên điện rộng, trên phạm vi toàn thế giới
Một khoa học mới được hình thành là Sinh thái học người
hay có lúc còn gọi là Sinh thái học nhân văn Đó là một khoa học
liên ngành, có sự kết hợp giữa sinh thái học (thuộc về khoa học
tự nhiên) với địa lý học, xã hội học v.v (huộc về khoa học xã
hội)
Sinh thái học là bộ phận của sinh học chuyên nghiên cứu
môi trường, tác động giữa sinh giới và môi trường xung quanh,
đảm bảo sự tổn tại, phát triển và tiến hóa của sinh giới
Sinh thái học người lấy đối tượng nghiên cứu là con người
và mối quan hệ giữa con người và môi trường sống của con
người trong tư cách quần thể hay cộng đồng người
1.1.2 Các hình thái kinh tế:
Cùng với sự phát triển tiến hóa của bản thân con người, sự
chuyển biến từ hệ sinh thái tự nhiên sang hệ sinh thái người trải
qua quá trình phát triển tiến hóa từ thấp đến cao của các hình
thái kinh tế: Hái lượm, săn bắt, đánh cá, chăn thả, nông nghiệp,
công nghiệp - đô thị hóa và hậu công nghiệp
HÁI LƯỢM: là hình thái kinh tế nguyên thủy nhất, con
người thu lượm nguồn thức ăn có sẵn, công cụ là rìu tay bằng đá
(đá nguyên và đá ghè), cuốc bằng sừng, dụng cụ khác bằng
xương Hình thái kinh tế nguyên thủy này kéo dài suốt thời đại
đá cũ(từ 3 triệu đến 100.000 — 40.000 năm trước đây) Năng suất
thấp Dân cư thưa thớt, còn phụ thuộc hoàn toàn vào môi trường
tự nhiên
SAN BAT — ĐÁNH CÁ: đã manh nha từ giai đoạn hái lượm với các loài động vật nhỏ Từ trung kỳ đá cũ (100.000 năm) mới phát triển với thú lớn Huy động lực lượng đông người, khỏe
mạnh để săn đuổi, vây bắt, đánh bẫy Nhờ săn bắt kết hợp hái lượm, cuộc sống có phần no đủ hơn, xuất hiện sự phân công lao
động sơ khai Có thêm nguyên liệu mới để sử dụng là da, xương
làm lều ở, chăn đắp, áo quần
Vào thời đại đá mới (10.000 — 8.000 năm trước đây) xuất hiện cung tên, giáo mác, lao phóng, có thêm phương thức săn
ban — không đòi hỏi đông người mà hiệu quả hơn
Đánh cá manh nha từ thời đá giữa (12.000 — 15.000 năm
trước đây) phát triển cao ở thời đá mới Có lao với ngạnh nhọn,
có móc, tiến tới dùng lưới và có thuyền mảng đánh cá xa bờ Đã
phát hiện ra lửa, tìm cách giữ lửa, cách lấy lửa Đó là cuộc cách mạng kỹ thuật đầu tiên của nhân loại
Hiệu quả khai thác tự nhiên đã khá hơn nhưng sự can thiệp của con người vào tự nhiên chưa có gì lớn, cân bằng sinh thái
vẫn còn Mức độ khai thác tài nguyên vẫn còn đủ kịp cho hồi
phục
CHĂN THẢ: Thuần dưỡng và chăn nuôi gia súc (cùng với trồng trọ) là thành tựu kinh tế lớn nhất trong thời đại đá mới vốn
đã được manh nha từ thời đá giữa Thú được thuần dưỡng phổ
biến là chó, đê, cừu, bò, heo
Sang thời đại kim khí (4000-5000 năm trước công nguyên)
có thêm lừa, ngựa với những đàn gia súc lớn hàng vạn con trên
thảo nguyên Hình thành lối sống du mục của các bộ lạc chăn
Trang 10nuôi, có thêm nguồn thức ăn: thịt sữa và nguyên liệu da, lông
Tiến dần đến sử dụng gia súc vào cày, kéo, vận tải Hình thành
việc chọn lọc giống mới (dù chưa hoàn toàn có ý thức) cho năng
suất cao Xuất hiện sự can thiệp vào cân bằng sinh thái: hà mã,
voi rừng, tê giác đã bị tiêu diệt khá nhiều, phá rừng lấy đất đai
trồng trọt ảnh hưởng xấu đến điều kiện sống của thú rừng
NÔNG NGHIỆP: phát triển rộng khắp vào thời đá mới
Ngũ cốc được trồng chủ yếu là: lúa mì, mạch, ngô, lúa Ngoài ra
đã có đậu, mè, rau, củ, cây ăn quả và cây lấy dầu
Lúa nước xuất hiện ở vùng ven sông lớn, cùng với việc dự
trữ nước, đưa nước vào đồng ruộng, đắp đê bảo vệ mùa màng
Bò ngựa dùng phổ biến vào cày kéo trong nông nghiệp
Dấu ấn chủ yếu là tính phong phú và sự cân bằng sinh thái
chưa bị phá vỡ nghiêm trọng Cuộc sống ổn định trong thời đá
mới Sự phân công trong xã hội nông nghiệp ngày một rõ Một
bộ phận đã tách rời canh tác mà chăm chú vào sản xuất công cụ
phục vụ canh tác như cầy cuốc và phục vụ sinh hoạt như cối
xay Những sản phẩm có tính hàng hóa này sẽ được trao đổi dưới
đạng mua bán và thị trường sơ khai cũng hình thành ở những nơi
tương đối tập trung đông người chuyên sản xuất và giao dịch,
mua bán Đô thị sơ khai cũng hình thành từ đó
CÔNG NGHIỆP: bắt đầu muộn nhưng làm biến đổi sâu sắc
giới tự nhiên trong thời gian vô cùng ngắn so với toàn bộ lịch sử
tự nhiên Hình thái kinh tế này được bắt đầu bằng việc sáng tạo
động cơ hơi nước Đó là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần
thứ hai của nhân loại, trong đó hệ thống kỹ thuật mới được hình
thành, công trường thủ công được chuyển sang nên đại sản xuất
tư bản chủ nghĩa
Máy móc tạo năng suất lớn, tác động mạnh mẽ đến môi
trường sống:
— Nông nghiệp với máy móc phát quang, phá rừng, xây
dựng công trình thủy lợi, đại thủy nông
— Khai thác mỏ phá hủy sinh thái rừng và tài nguyên động
thực vật, ảnh hưởng xấu đến địa tầng
— Năng lượng tiêu thụ nhiều: than, dầu mỏ, khí đốt phát sinh ô nhiễm môi trường
— Chủ nghĩa thực dân tiêu diệt hàng loạt động vật rừng, phá hủy nghiêm trọng tài nguyên rừng (và nhiều bộ lạc người cũng bị tiêu điệt) tạo những cuộc di cư lớn trong lịch sử Người
da đen bị bắt làm nô lệ để khai thác những vùng đất mới mà bọn
thực dân phương Tây đã xâm chiếm được Mội sự thay đổi căn
bản về bản đồ dân số trên thế giới
- Nguồn năng lượng truyền thống cạn kiệt nhanh Môi trường ô nhiễm ngày càng trầm trọng Dân số thế giới tăng quá
độ Đa dạng sinh học suy giảm Khoảng cách giàu nghèo giữa
các cộng đồng ngày càng lớn Xung đột môi trường ngày càng
gay gắt và mang rõ tính xung đột chính trị - xã hội
Mội nét tiêu biểu là hiện tượng đô thị hóa: Thực tế thì đô thị đã xuất hiện từ sự phát triển nông nghiệp tạo ra dư thừa, cùng
sự phát triển thủ công nghiệp tách rời nông nghiệp tạo tiền dé
cho đô thị hóa
Trang 11Một bộ phận dân cư tách ra khỏi việc đồng áng để tập
trung lại thành các thị trấn Thị trấn đầu tiên đã xuất hiện từ 3 —
4 ngàn năm trước công nguyên nhưng đô thị hóa quy mô thế giới
chỉ bắt đầu trong thế kỷ 19
Đặc trưng của đô thị là: Các thành tố tự nhiên được thay
thế bởi tạo phẩm văn hóa với một mạng lưới cấu trúc vệ tĩnh vây
quanh (thị trấn, trang trại, thôn ấp liên kết nhau qua hệ thống
giao thông)
+ Các biểu hiện phong phú về văn hóa (từ phong tục tập
quán, tâm lý trổ đi), đời sống vật chất và tinh than
+ Bên ngoài cứ tưởng là tách rời khỏi tự nhiên nhưng thực
tế gắn bó mật thiết, thể hiện bằng việc sử dụng lương thực thực
phẩm, nhiên liệu và nguyên liệu
+ Tăng dân số là hiện tượng rất phổ biến dẫn tới mở rộng
phạm vi đô thị, tiêu thụ nhiều sản phẩm và nhiều hệ quả phát
triển khác: Nghiêm trọng nhất là ô nhiễm môi trường, trước hết
là ô nhiễm không khí (do công nghiệp, giao thông và sinh hoạt)
+ Đặc điểm cơ bản của đô thị như một trung tâm tiêu thụ
tài nguyên là không hề thay đổi trong suốt quá trình phát triển
Giải quyết vấn dé đô thị hóa phải xem xét trong mối quan
hệ với nhiều nhân tố ảnh hưởng toàn cục như: dân số, đất đai,
lương thực và các tài nguyên khác Đó là một yêu cầu trong
chiến lược sinh thái môi trường
HÂU CÔNG NGHIỆP: Hay còn gọi là SIÊU CÔNG
NGHIỆP (Super Industrialism) Đó là giai đoạn mới được dự báo
trong sự phát triển với tốc độ cao về kỹ thuật công nghệ cũng
như văn hóa xã hội với nhu cầu hưởng thụ rất cao Điều đó đòi hỏi nếp suy nghĩ mới về cách ứng xử trong hệ sinh thái, dưới khẩu hiệu phát triển bền vững Đó là chiến lược toàn cầu về quy hoạch lại toàn bộ tài nguyên trên trái đất
Giáo sư Đặng Hữu đã có một dự báo về hình thái kinh tế
hậu công nghiệp như sau:
Trong 15 năm qua do tác động của cách mạng khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng, nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng và phương
thức hoạt động Đó là bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại đưa
nền kinh tế toàn cầu từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức,
đưa nền văn minh loài người từ văn minh công nghiệp sang văn
minh trí tuệ với 10 đặc điểm chủ yếu sau:
1 Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế: Ý tưởng đổi mới và công
nghệ mới tạo ra nhiều việc làm mới và nâng cao chất luợng cuộc
sống, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, dịch chuyển cơ cấu nhanh
2 Sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiên tiến nhất Mọi doanh nghiệp đều có sản xuất
công nghệ, nhiều doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghệ trong
đó khoa học và sản xuất được nhất thể hóa, ít có phân biệt giữa phòng thí nghiệm và công xưởng
3 Công nghệ thông tin được ứng dụng vô cùng rộng rãi
trong mọi lĩnh vực, mang thông tin đa phương tiện phủ khắp cả nước, nối kết hầu hết gia đình và tổ chức Thông tin trở thành tài
Trang 12nguyên quan trọng Mọi lĩnh vực đều có tác động của công nghệ
thông tin
4 Dân chủ hóa được thúc đẩy Mọi người đều được truy
cập thông tn cần thiết dẫn đến dân chủ hóa, công khai hóa các
hoạt động và tổ chức điều hành xã hội Các chính sách của nhà
nước và của các tổ chức đều được thông tin kịp thời Người dân
có thể nghiên cứu, phát biểu ý kiến ngay lập tức Không còn tình
trang bung bit thong tin
5 Xã hội học tập: Giáo dục rất phát triển Người dân được
học thường xuyên ở trường, ở trên mạng và học từ xa Đầu tư cho
giáo dục và khoa học chiếm tỷ lệ cao nhất Đầu tư vô hình (giáo
dục, khoa học, con người) cao hơn đầu tư hữu hình (cơ sở vật
chất) Phát triển con người là nhiệm vụ trọng tâm
6 Tri thức trở thành vốn quý nhất, là nguồn lực hàng đầu tạo
nên tăng trưởng Tri thức không bị mất đi lúc sử dụng mà được
chia sẻ, tăng lên và hầu như không bị tốn kém khi chuyển giao
7 Sáng tạo đổi mới thường xuyên là động lực tăng trưởng
hàng đầu Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rút
ngắn, có khi chỉ mấy năm thậm chí chỉ mấy tháng Các doanh
nghiệp muối trụ được và phát triển, phải luôn đổi mới công nghệ
và sản phẩm Trước đây người ta hay chọn những công nghệ đã
chín mudi Ngày nay người ta phải tìm công nghệ mới nẩy sinh vì
chín muồi là sắp tiêu vong
8 Các doanh nghiệp vừa cạnh tranh vừa hợp tác để phát
triển Trong cùng một lĩnh vực khi một công ty thành công thì
các công ty khác phải tìm cách chuyển hướng hoặc sát nhập
9 Toàn cầu hóa: Thị trường và sản phẩm mang tính toàn
cầu Sản phẩm ở bất cứ nơi nào cũng có thể nhanh chóng có mặt khắp thế giới Phần lớn các sản phẩm đều được thực hiện từ nhiều nơi trên thế giới, là kết quả của công ty ảo, xí nghiệp ảo,
1.2 Anh hưởng của các yếu tố sinh thái đến con người
1.2.1 Ảnh hưởng của phương thức sống và thức ăn
Karl Linné từ thế kỷ 18 đặt con người vào bộ linh chưởng
(Primates) Thực ra bản chất con người vừa là cơ thể sinh học (Somatic) vừa là văn hóa (Cultural) Quá trình khai thác môi trường từ cây cỏ, động vật và sự thích nghi với điều kiện sống
này là xuất phát điểm sâu xa dẫn đến chế tác công cụ Và sáng
tạo công nghệ chính là biểu trưng của văn hóa Đó là sự thích nghi mới — íhích nghỉ văn hóa, thể hiện trên những cấu tạo và
chức năng mới của cơ thể:
— Hoàn thiện khả năng cầm nắm hướng tới chế tác và cải tiến công cụ
— Tăng cường ý nghĩa của kích thích thị giác trên cơ sở phát triển thị giác
- Thoái hóa hàm răng, chuyển chức năng cầm nắm từ răng sang bàn tay, chuyên biệt hóa chi sau với chức năng đi
thẳng
Trang 13— Phức tạp hóa cấu trúc và chức năng não bộ, đặc biệt là
các trung khu liên quan đến hoạt động tổng hợp (ngôn ngữ, chữ
viết Việc tăng cường sử dụng protein động vật, tạo thêm cơ sở
vật chất có liên quan đến toàn bộ hoạt động sống của cơ thể và
tiến hóa của các loại hình người Chế độ dinh dưỡng có ảnh
hưởng đến biến dị các đặc điểm cơ thể:
Ví dụ: Bộ tộc Maxai chăn nuôi, ăn thịt nhiều, cao lớn hơn
đến 10 cm và 10 kg so với bộ tộc Kaknia ở Kênia chuyên trồng
trọt Môi trường sinh thái và chế độ dinh dưỡng tạo ra những dị
biệt khá lớn về đáp tứng sinh học
Ví dụ: Tiến bộ văn hóa (y học) làm yếu hoặc loại trừ một
số áp lực chọn lọc nhưng lại khơi mào cho một số áp lực mới:
AIDS, các bệnh về tim mach
Văn hóa, một mặt là sự đáp ứng trước áp lực môi trường,
mặt khác lại là áp lực tạo nên tính đa hình di truyền Vì vậy với
con người, hai mặt sinh học và văn hóa không tách rời nhau
1.2.2 Ảnh hưởng của yếu tố khí hậu
Biểu hiện ở nhiều trạng thái khác nhau theo mùa, theo địa
lý v.v đều là tổng hợp của nhiều thành phần như nhiệt độ, độ
ẩm, gió, mây, mưa, nắng, tuyết v.v Các tác động này được thông
qua nhiều rào chắn tự nhiên (sông, hồ, biển, núi, cây, rừng v.v )
và văn hóa (nhà cửa, đường sá .) tạo thành khí hậu địa phương,
tiểu khí hậu, vi khí hậu
Điều hòa nhiệt là thích nghi sinh học chủ đạo liên quan đến
các chức năng của tổ chức cơ thể Một số cơ cấu gdp phan dam
bảo tốt thích nghi với khí hậu Nhiệt độ môi trường thay đổi thì
nhiệt độ da cũng biến thiên theo, nhưng nhiệt độ trung tâm cơ
thể bao giờ cũng ổn định, vào khoảng 36— 37°C
1.2.3 Ảnh hưởng của môi trường địa hóa
Hàm lượng khoáng chất trong thành phần sinh hóa cơ thể
liên quan đến quá trình biến đổi nội bào (tạo xương, điều hòa áp
lực thẩm thấu v.v .) Tương quan về tỷ lệ số lượng các thành phần khoáng trong môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần khoáng cơ thể, từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng, tăng trưởng, phát triển: Bệnh bướu cổ liên quan đến hàm lượng iod,
sâu răng liên quan đến hàm lượng fluor trong nước, v.v
1.3 Tác động tương hỗ của con người và hệ sinh thái Con người là một thành viên trong các hệ sinh thá! tự nhiên
quanh mình, có quan hệ tương hỗ thông qua các mắt xích thức
ăn, hoạt động lao động sản xuất nhưng đặc biệt là thái độ đối xử
đối với môi trường Con người gây ra:
- Biến đổi và suy thoái các hệ sinh thái tự nhiên Tài nguyên cạn kiệt Xuất hiện nhiều hệ sinh thái nhân tao không hề
ổn định: đô thị, hồ chứa nước, đập dâng, cảnh quan văn hóa
— Ô nhiễm môi trường
- Suy giảm đa dạng sinh học: Nhiều loài sinh học bị tuyệt
điệt, trở nên quý hiếm
— Suy giảm chất lượng cuộc sống của chính mình Chất
lượng cuộc sống phụ thuộc vào trình độ phát triển xã hội, môi trường sống, quan hệ xã hội, cụ thể là việc làm, thu nhập, hưởng thụ và an ninh xã hội Dân số tăng nhanh, sản lượng ngũ cốc
Trang 14tăng không đáng kể, hoa quả thịt sữa không tăng Mức sử dụng
năng lượng tăng nhanh Bệnh xã hội, tệ nạn xã hội tăng nhiều
Chiến tranh và xung đột quyền lực, sắc tộc, tôn giáo xẩy ra liên
miên nhiều nơi
Để đánh giá chất lượng cuộc sống của một cộng đồng
người ta có thể dùng nhiều tiêu chí khác nhau và theo nhiều cách
thức khác nhau Trên thế giới người ta dùng phổ biến tiêu chí
Tổng thu nhập quốc dân theo đầu người (GDP) hay Tổng sản
phẩm quốc gia theo đầu người (GNP) Đó là hai tiêu chí có tính
tổng lượng cao, phản ánh được năng lực kinh tế của nhà nước
Tuy nhiên hai tiêu chí này chi mdi phan ánh được về mặt kinh tế,
nói lên sự giàu nghèo của một quốc gia Chúng không biểu thị
đầy đủ tình trạng phân phối các thành tựu giữa các thành viên
trong xã hội, không phản ánh được quá trình nâng cao về nhiều
mặt tinh thần văn hóa cũng như về mặt sức khỏe thể chất và tâm
lý GDP không nói lên điều gì về bản chất của hoạt động sản
xuất: sản xuất lúa gạo hay sản xuất súng đạn, chi phí cho giáo
duc hay chi phí cho cảnh sát, xây dựng khu Casino hay xây dựng
bệnh viện miễn phí cho người nghèo Một đollar là một dollar
cho đù hiệu quả xã hội rất khác nhau, thậm chí hoạt động này có
thể gây tai hại rất nhiều cho một hoạt động khác Tuy nhiên, cho
đến nay GDP vẫn được ưa dùng trước tiên bởi vì nó cho phép so
sánh tiểm lực sản xuất tương đối của các quốc gia khác nhau
Để khắc phục một phần nhược điểm của GDP, nhiều nước
đã sử dụng chỉ số “Phát triển con người- HDI”, còn gọi là chỉ số
“Phát triển nhân luc”, bao gồm các tiêu chí: tuổi thọ trung bình,
trình độ dân trí và thu nhập thực tế
Tuổi thọ con người nói lên khả năng được sống trong cuộc
sống lành mạnh, bình yên, no đủ
Trình độ dân trí, hay trình độ giáo dục, nói lên khả năng
tiếp thu văn hóa, khoa học của người dân, thường được đo bằng mức độ phổ cập giáo dục hay tỷ lệ số người biết chữ trong cộng đồng
Thu nhập thực tế của người dân nói lên khả năng được tiếp cận các nguồn lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu cuộc sống trước mắt và lâu đài
HDI là trung bình cộng của ba tiêu chí đó Trong năm 1989 HDI của Việt Nam là 0,560 được xếp thứ 122 trên 174 nước trong
khi GDP chỉ được xếp thứ 148 HDI trung bình của thế giới là 0,772 Canada được xếp cao nhất 0,960, trong khi GDP của họ chỉ là thứ
10
Người ta còn ding chi sO “Phat trién gidi- GDI” (Gender
related development index) để so sánh mức phát triển của phụ
nữ, cũng là nhằm đánh giá mức độ bình đẳng giới Thụy Điển có
GDP xếp thứ 22, HDI cũng xếp thứ 22 nhưng GDI được xếp vào loại nhất GDI của Việt Nam được xếp thứ 108
Thực ra chất lượng cuộc sống là một khái niệm rất mềm dẻo mà khi xem xét phải lưu ý đến rất nhiều khía cạnh khác
nhau như: 1 Dân số; 2 Lao động và việc làm; 3 Nghề nghiệp; 4
Giáo dục; 5 Điều kiện lao động; 6 Tai nạn lao động; 7.Tiện
nghi gia đình; 8 Hôn nhân gia đình; 9 Hoạt động xã hội; 10 Bảo
hiểm xã hội; 11 Sức khỏe và y tế; 12 Trật tự xã hội; 13 Tiền
lương và thu nhập; 14 Công bằng xã hội; 15 Môi trường, v.v
Trang 15Một nhà giáo dục môi trường Ấn Độ, ông R.E.Sharma,
quan niệm chất lượng cuộc sống là sự đáp ứng ngày càng tăng
tiến các nhu cầu cơ bản về lương thực, năng lượng, nhà ở, giáo
dục, y tế, an ninh xã hội Để đánh giá chất lượng cuộc sống cần
phải xem xét mức độ bền vững, ổn định trong tương quan hài hòa
với tự nhiên, không làm hại tự nhiên Sharma đưa ra mô hình
cuộc sống là một hình sao 5 cánh và mỗi đỉnh là một hình sao 5
i
2 I Ul
3 cánh khác
| Các vấn đề Quy mô | Cơ cấu | Phân bố | Biến | Biến đổi
nhiên
II Các vấn đề GDP/ng | Giáo |Bảo hiểm | Nha Y tế
Ill Cac van dé Nguồn | 0ông Môi Vốn Lương
tài nguyên môi lao trường tự
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU
I Nguyễn Đình Khoa, 1983, Môi trường sống và con người,
NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
2 Phạm Thị Ngọc Trầm, 1987, Môi trường sinh thái—- vấn đề và
giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia
3 Odum, 1978 (dịch), Cơ sở sinh thái học, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
4 Olivier, 2002 (dịch), Sinh thái học nhân văn, NXB Thế giới
I Hãy nêu vài đặc điểm quan trọng nhất trong dự
đóan về hình thái kinh tế hậu công nghiệp
Trang 16Hãy cho biết có thật là chất lượng cuộc sống của
nhân dân ta đang bị suy giảm
Cho biết ưu điểm và nhược điểm của một số chỉ
tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống
CHUONG II
CON NGOO@! BINH THOO@NG SOUC KHOUE VA@® BEANH TAAT
.ˆ x on ~ , ^^ ^
Học viên can hiểu rõ các van đề sau
- Thế nào là sức khỏe đích thực theo quan niệm của WHO với mục tiêu vượt qua những thử thách của môi trường, nhằm để
lao động có hiệu quả Con người bình thường không có bệnh tật
chưa phải là đã có sức khóc
— Sức khỏe là một loại tài nguyên đặc biệt, vô cùng quý
giá mà con người có quyền được có, đồng thời phải có nghĩa vụ giữ gìn, bảo vệ, khai thác hợp lý sức khóe của mình và của cộng đồng
- Hiểu rõ ý nghĩa của stress trong đời sống xã hội, trong lao động tới để có những biện pháp ứng phó hợp lý với stress,
stress nghề nghiệp liên quan nhiều với các yếu tố lao động Cần
nắm vững các nguyên tắc ứng phó với stress nghề nghiệp
- Sức khỏe sinh sản là vấn đề liên quan đến vấn đề dân số
và hạnh phúc gia đình, xã hội, là nội dung cơ bản của chương trình Hành động quốc gia vì sức khỏe cộng đồng
Trang 172.1 Quan niệm hiện nay về sức khỏe
2.1.1 Bình thường và bệnh tật
Ở con người bao giờ cũng tổn tại hai trạng thái đối lập:
bình thường và bệnh tật Hai trạng thái đối lập đó thường xuyên
đấu tranh với nhau Lúc thì trạng thái này chiếm ưu thế, lúc thì
trạng thái khác
Người bình thường là người trong thời điểm không bị mắc
một bệnh cấp tính hay mãn tính hoặc không bị thương tích hay tật
nguyền Khi người bệnh được chữa khỏi tức là chức năng của cơ
quan bị bệnh đã được phục hồi, thì người đó trở lại bình thường
Có thể khám lâm sàng thấy là bình thường nhưng nếu xét
nghiệm, thăm dò chức năng một vài cơ quan, có thể thấy không
bình thường Như vậy là không phải dễ đánh giá một người có
hoàn toàn bình thường hay không Và như vậy, bình thường cũng
chưa hẳn đã là có sức khỏe tốt và không bình thường cũng chưa
hẳn là hoàn toàn kém sức khỏe hay bệnh tật
Ngoài khỏe mạnh hay bệnh tật về thể xác còn có thể khỏe
mạnh hay bệnh hoạn về tâm thần Vì vậy, sức khỏe hay bệnh tật
cần được hiểu một cách toàn điện hơn Đã có khá nhiều định
nghĩa khác nhau về sức khỏe và bệnh tật:
May (1958) quan niệm:“ Bệnh tật là sự biến đổi của các
mô cơ thể gây nguy hại cho sự sống của chúng trong môi
trường” Đó là quan niệm cổ điển coi bệnh tật như là một thứ rối
loạn, một sự mất cân bằng xảy ra trong cơ thể
Dubos (1965) coi “Tình trạng sức khỏe hay bệnh tật là biểu
hiện của sự thắng lợi hay thất bại mà cơ thể trải qua trong sự cố gắng của nó để thích ứng với thử thách của môi trường “
Thế kỷ 19, Claude Bernard (1869), nhà sinh lý học Pháp đã viết “Hiện tượng về sự sống được quy định từ hai phía: Một phía
là cơ thể, trong đó sự sống diễn ra, và phía khác là môi trường, trong đó có thể tìm thấy những điều kiện chủ yếu cho sự xuất hiện, diễn biến những hiện tượng của bản thân mình Điều kiện cần cho sự sống tìm thấy cả ở trong cơ thể và cả ở môi trường
bên ngoài”
Môi trường bên trong cơ thể là dịch thể trung gian giữa tế
bào và các mô như máu và bạch huyết Vì vậy cơ thể là một “vũ trụ nhỏ” hoạt động trong một “vũ trụ lớn” là thiên nhiên xung quanh
Môi trường bên trong và bên ngoài đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sức khỏe
Với môi trường bên trong, sức khỏe chịu tác động của sự
rèn luyện và cách sống hằng ngày trong đó có tập quán vệ sinh,
thể dục, thể thao, điều độ, tiết dục, không thái quá, không bất
Trang 18— Môi trường lao động: việc làm ổn định, cơ sở vật chất
thiết bị, nguyên vật liệu, an toàn và vệ sinh lao động, thu nhập,
quan hệ chủ thợ, quan hệ đồng nghiệp, phương tiện đi lại
— Môi trường xã hội: chế độ kinh tế, chính trị, đân số, phân
bố việc làm, phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục
— Môi trường quốc tế: hòa bình, chiến tranh, sắc tộc, ly
khai, xung đội
Mọi điều kiện và hiện tượng đều tác động đến sức khỏe
theo những mức độ khác nhau đối với từng cá thể cũng như cộng
đồng mà mỗi cá thể là thành viên
Như vậy khái niệm sức khỏe rõ ràng là có hàm ý về sự
thích ứng đối với môi trường hay, nói khác di, sức khốc là tiêu
chuẩn của sự thích ứng với môi trường và cũng là một tiêu chuẩn
cơ bản của chất lượng cuộc sống
WHO (1975) - Tổ chức y tế thế giới - nêu định nghĩa:
“Sức khỏe là trạng thái dễ chịu toàn diện về thé chat, tinh than
và tâm lý xã hội nhằm để lao động có hiệu quả” Sức khỏe là
một trong những quyền lợi cơ bản của con người Mọi người đều
có nghĩa vụ phải bảo vệ và nâng cao sức khỏe cá nhân và cộng
đồng Sức khỏe cũng là một lọai tài nguyên cơ bản mà mọi người
cũng như cộng đồng đều có trách nhiệm bảo vệ, khai thác và sử
dụng hợp lý hơn bất cứ loại tài nguyên nào khác
Điều đáng quan tâm hơn cả là việc bảo vệ sức khỏe phải
nhằm mục tiêu quan trọng nhất là lao động có hiệu quả
Xem ra mọi định nghĩa đều coi sức khỏe là khái niệm tổng hợp về trạng thái cơ thể có liên quan mật thiết với môi trường Phẩm chất của môi trường nói cho cùng, theo nghĩa rộng, toàn
diện chính !à sức khỏe cộng đẳng
Y học phương đông từ lâu cũng đã nêu lý thuyết về “Thiên
— Nhân hòa hợp”, nghĩa là con người luôn luôn phải hòa hợp với thiên nhiên, với môi trường
Cần chú ý là sự thích ứng của con người hoàn toàn khác với
sinh giới ở chỗ thích ứng bằng văn hóa quan trọng hơn về sinh học Tuy nhiên cũng hiển nhiên là từ văn hóa, con người đẩy chính mình vào thảm họa môi trường ô nhiễm, cạn kiệt và suy
thoát
2.1.2 Định lượng sức khỏe Sức khỏe được xem như một tài sản, một tiểm năng được duy trì thường xuyên và định lượng được bằng nhiều cách
Sức khỏe tăng giảm liên quan đến quá trình tăng trưởng, trưởng thành và lão hóa các cơ quan của cơ thể Sức khỏe tăng
giảm theo tuần trăng, theo mùa, theo nhịp điệu sinh học
Điều cần lưu ý là sau lao động nghiêm túc thì sẽ mệt mỗi
và mất nhiều hay ít năng lượng tùy theo mức độ lao động nặng
hay nhẹ Để khắc phục mệt mỏi kéo dài thì phải bù đắp năng lượng đã tiêu hao và nghỉ ngơi hợp lý Trước hết là cần bù đắp
kịp thời nước và muối khoáng và có đủ thời gian để phục hồi sức
khóc
Trang 19Sự đánh giá sức khỏe thường được chú trọng ở mức phục hồi
cơ thể sau lao động, ốm đau, tai nạn Tốc độ hồi phục hay hoàn
thiện thường vẫn được coi là một tiêu chí đánh giá năng lực con
người.Sự hồi phục thường đi kèm với sự rèn luyện Nhiều khi nhờ
rèn luyện mà sức khỏe không những được hồi phục mà còn tốt hơn
trước
Sức khỏe không những được đo mà cần phẩi đo lường
thường xuyên Càng nhiều sức khỏe thì càng ít cơ hội phát sinh
bệnh tật Người ta thường lấy những giới hạn được gọi là Tiêu
chuẩn tức là các chỉ tiêu sinh học để đo lường sức khỏe như nhiệt
độ, huyết áp, nhịp tim, số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng
đường huyết và nhiều chỉ tiêu về các chức năng ở mức độ vĩ
mô hoặc vi mô về tế bào, phân tử, ion
Đương nhiên khi người ta nói mọi chỉ tiêu sinh học đều
bình thường (hoặc đa số chỉ tiêu chủ yếu, quyết định là bình
thường) thì được coi là có sức khóc
Những giới hạn của các chỉ tiêu đó là kết quả đo đạc, tính
toán thống kê dựa trên các khảo nghiệm, thăm đò chức năng của
một số đủ lớn cá thể, đại điện cho cộng đồng, phản ánh mức phổ
biến với một xác suất tin cậy nhất định Có những giới hạn rộng,
tương đương nhau giữa nhiều cộng đồng trên thế giới, cũng có
nhiều giới hạn phản ánh tốt từng đặc trưng của từng cộng đồng
Vì thế không phải lúc nào cũng có thể sử dụng chung một barem
đánh giá cho tất cả cộng đồng mà phải xây dựng những barem
cho các cộng đồng khác nhau
Các chỉ tiêu sinh học cũng không phải luôn luôn cố định
trong mọi trường hợp, mọi điều kiện môi trường Mỗi khi môi
trường có sự biến đổi thì một số chỉ tiêu nào đó vốn là bình thường sẽ vượt ra ngoài giới hạn phổ biến chịu đựng được cơ thể Tuy nhiên điều cần lưu ý là lúc đó bệnh tật có xuất hiện không? Câu trả lời là chưa chắc chắn, nguy cơ hay kha năng thì có thể có
nhưng xuất hiện bệnh thì chưa hẳn bởi giới hạn thích nghi cũng
biến đổi theo từng con người, đặc biệt là đối với những người có
rèn luyện
Vì vậy khái niệm sức khỏe còn được biểu hiện bằng toàn
bộ lực lượng dự trữ của các hệ thống chức năng chủ yếu của cơ thể.Lực lượng dự trữ này được biểu hiện bằng một đại lượng gọi
là hệ số dự trữ tức là số lượng tối đa một chức năng có thể huy
động được khi cần đến so với lúc bình thường
Ví dụ: Lúc nghỉ, ngồi bình thường, lượng máu được trái tim
đẩy vào động mạch chủ là 4 lí/phút Lao động và rèn luyện cơ thể đưa công suất lên 20 lí/phút Trong khi trái tim không rèn
luyện chỉ đạt tối đa là 6 lí/phút
Điều cần lưu ý là trong khi ứng phó với điều kiện thử
thách, con người vận dụng các chức năng một cách toàn điện đặc
biệt là các yếu tố tinh thần và tâm lý Dựa vào các nhân tố tác động và biểu hiện của tình trạng cơ thể, thường phân biệt 3 loại sức khóe
1 Sức khỏe sinh lý:phát triển theo những mô hình và tiêu chuẩn đã biết rõ, gồm những cơ chế thể dịch, thần kinh để ứng phó với điều kiện môi trường Phần lớn là do yếu tế đi truyền
Trang 20quyết định nhưng sự rèn luyện có tác dụng tăng cường sức khỏe
đặc biệt là hệ số dự trữ
2 Sức khỏe miễn dịch:Phát triển qua cuộc đọ sức với các
tác nhân gây ô nhiễm Phản ứng đặc hiệu là cơ chế có tính di
truyền cũng như sự rèn luyện (còn phụ thuộc vào kháng nguyên
từ môi trường mang lại, vaxin chẳng hạn)
3 Sức khỏe tỉnh thân (sức khỏe tâm thần là một cách nói
khác) còn phân chia thành sức khỏe tâm lý và sức khỏe xã hội
Sức khóc tóm lại là một đại lượng tương đối vì cái khóc
của một người trong điều kiện môi trường này chưa hẳn đã khỏe
được trong điều kiện môi trường khác
Đối với mỗi đối tượng lao động khác nhau đồi hỏi sức khỏe
khác nhau và loại hình sức khỏe cũng khác nhau
2.1.3 Sức khỏe cộng đồng
Sức khỏe cộng đồng hay sức khỏe xã hội là sức khỏe chung
của một hệ thống có tổ chức giữa những cá thể có quan hệ và tác
động lên nhau trong một môi trường tự nhiên (vô sinh và hữu
sinh) và môi trường xã hội (văn hóa, chính trị, kinh tế, tôn giáo )
Sức khỏe cộng đồng phải bao gồm cả tình trạng (tỷ lệ) bệnh tật
trong cộng đồng khi xem xét trên bình diện tổng thể
Để xác định sức khỏe cộng đồng thì phải xuất phát từ tổng
định lượng sức khóc của thành viên mà tính ra số trung bình đại
điện (không hẳn là trung bình số học)
Có nhiều chỉ tiêu để kham thảo trong khi kết hợp nhiều
mặt như tính thích ứng, tần suất thai lưu, tử vong chu sinh, tuổi
thọ trung bình và nhiều yếu tố xã hội khác như tổng thu nhập trên đầu người, chỉ số nghèo khổ, chỉ số phát triển văn hóa, học
^Z
vấn
Sức khỏe cộng đồng phải được xét trên hai phương diện:
- Cộng đồng là một nhóm di truyền chịu tác động của chon
lọc và tuyển lựa trong môi trường tự nhiên và xã hội
- Cộng đồng là một nhóm văn hóa xã hội mà ứng xử là biểu hiện của sức khỏe tâm thần Không thể có một sức khỏe cộng đồng tốt với một xã hội bế tắc cũng như một mức sống quá
nghèo khổ và sự lan tràn của tệ nạn xã hội
2.2 Sức khỏe tỉnh thần (SKTT)
2.2.1 Quan niệm Người xưa quan niệm “Người không có bệnh tâm thần là
c6 tinh than khỏe” Quan niệm này chưa chính xác SKTT thật ra rất đa dạng, phức tạp Rối loạn về tinh thần có nhiều mức độ và phạm vi khác nhau Hiệp hội quốc gia về SKTT của Hoa Kỳ quan niệm rằng người có SKTT tốt là người có khả năng điều hòa các ham muốn, dục vọng, lương tâm, cảm xúc, lý tưởng phù hợp với năng lực và yêu cầu của cuộc sống mà mình phải đối
diện
Họ đưa ra định nghĩa: “Tình trạng SKTT tốt là trạng thái
khỏe khoắn mà trong đó chủ thể cảm thấy dễ chịu, tự tin trong giao tiếp cũng như trước thách thức của cuộc sống hằng ngày “ Cũng có người quan niệm ngắn gọn:SKTT tốt là “biết mình
và biết người”
Trang 212.2.2 Các yếu tố cấu thành sức khỏe tỉnh thần
+Các yếu tố sinh học — tt nhiên bao gồm:
— Di truyền: Tiềm ẩn bệnh tật từ thế hệ trước truyền lại
— Sinh lý:Hành vi con người chính là suy nghĩ và tình cảm
biến thành hành động.Người có sức khỏe thể chất tốt sẽ có cơ sở
thuận lợi cho sự tự tin, yêu đời
Zz ^“ Ww v +z ~ Ae Z n n
+Các yếu tổ văn hóa — xã hội có thể kề ra:
— Gia đình là nơi bắt đầu xã hội hóa qua sự dạy dỗ giáo
dục của bố mẹ và những người thân
— Nhà trường, bạn bè là nơi củng cố và tiêm nhiễm hành
vi liên quan đến sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thần, là môi trường
tốt cho phát triển nhân cách
- Cộng đồng là nơi truyền thông đại chúng tác động rất
mạnh mẽ đến nhận thức hành vi, đặc biệt là lối sống
- Lối sống: Ngày nay có 4 nguyên nhân gây tử vong hàng
đầu là bệnh tim mạch, bệnh ung thư, tai biến não, tai nạn giao
thông mà nguyên nhân có thể từ mặt sinh học-tự nhiên nhưng
những nguyên nhân từ lối sống còn quan trọng hơn nhiều
Lối sống hiện đại bên cạnh những khía cạnh tích cực liên
quan đến quá trình phát triển kỹ thuật công nghệ thì về khía
cạnh tiêu cực cũng gây ra nhiều thách thức đặc biệt cho lớp tuổi
trẻ Nhịp sống hối hả, đầy tính cạnh tranh, thói xấu đòi hỏi
hưởng thụ, đua đòi là những môi trường tốt cho sự lệch lạc, rối
nhiễu về tinh thần, tâm lý Sự thiếu trách nhiệm với sức khỏe, từ
nhận thức cho đến hành vi, khoảng cách giữa hiểu biết và hành
4]
động đều là khoảng hở cho sự xuất hiện tệ nạn xã hội, có nguy hại cho thể chất và tinh thần
Sự thiếu thông tin và nhiễu loạn thông tin trong kinh tế thị
trường gây sự sai lạc, nhầm lẫn về nhận thức, trách nhiệm đối
với vấn đề sức khỏe
2.2.3 Lý thuyết về SKTT và sự phát triển nhân cách:
Để thay đổi và phát triển nhân cách trên cơ sở SKTT của
cá nhân và để đối phó với thách thức của cuộc sống hiện tại,
người ta thường khuyên rằng “Phải hiểu mình và hiểu người” Mỗi nhân cách đĩ nhiên là có cái độc đáo riêng, nhưng mọi
người phải chấp nhận những mẫu số chung - là chuẩn mực cấu
trúc về hành vi của con người Các nhà tâm lý học đã đưa ra
nhiều kiểu giải thích một cách hệ thống về hành vi con người Học thuyết của Sigmund Freud được bàn cãi nhiều nhất
Abraham Maslov đã đưa ra mô hình phát triển nhân cách theo hình chóp 5 bậc —- khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn chừng
nào đó thì nẩy sinh nhu cầu bậc cao hơn Nhu cầu được thỏa mãn, cá nhân sẽ thấy thoải mái, khỏe khoắn, ngược lại sẽ thấy
khó chịu, bực bội, khó hòa hợp Người ta minh họa các bước tiến triển của nhu cầu bằng mô hình chóp như sau:
Tự trọng
42
Trang 22Bậc 1: Bao gồm nhu cầu sinh lý cơ bản:ăn uống, tình dục
Bậc 2: Nhu cầu được cảm thấy an toàn nghĩa là có an ninh,
trật tự, ổn định, đặc biệt khi phải đối diện với những nguy hiểm
tiềm ẩn xuất phát từ môi trường
Bậc 3: Nhu cầu được thuộc về một ai đó, một tổ chức nào
đó mà ở đó con người tìm thấy sự yêu thương sự thông cảm cho
nhau
Bậc 4: Nhu cầu tự đánh giá — có tự tin và tự trọng, đòi hỏi
sự chấp nhận, được tôn trọng
Bậc 5: Nhu cầu thành đạt, sử dụng tiém năng sáng tạo của
mình để hoàn thiện mình, để đạt được mục tiêu cao nhất hằng
mong muốn Đạt được đến đây, con người thấy cuộc đời thật có ý
nghĩa, đầy niễm vui và thật đáng sống
Ngày nay trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế trên cơ sở tăng
trưởng và phát triển vũ bão của khoa học công nghệ, trong môi
trường sinh thái bị ô nhiễm và suy thoái nặng nề, con người và cả
xã hội con người đang bị lôi cuốn vào cuộc sống đầy thử thách,
cạnh tranh căng thắng Những biểu hiện suy giảm sức khỏe tĩnh
thần diễn ra khá phổ biến trong nhiều cộng đồng, trong nhiều
giới lao động và trong nhiều lớp tuổi khác nhau Những hiện
tuợng, trạng thái tâm lý như hut hang, phiền nhiễu, hoang mang,
ám ảnh thường xẩy ra sau những sự cố tự nhiên hoặc xã hội nào
đó thường được gọi chung (không thật khoa học lắm) là stress
2.3 stress
Người ta gọi đó là một chứng có thể phát sinh nhiều bệnh
Nó chẳng phải là bệnh nhưng tác hại chẳng kém gì bệnh Trong
y học, stress được hiểu là thuật ngữ chỉ tác động của các biến cố đến thể chất và tĩnh thần của con người
Theo Hans Selye, stress là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể đối với bất cứ đòi hỏi nào đặt ra cho chính cơ thể
Mỗi người đều phải trải qua một vài khủng hoảng và đều có
những cách đối phó khác nhau Thường người ta cảm nhận được nó nhưng không rõ là do cái gì và cũng không có phản ứng nhất quán nào
Vì vậy cũng có thể hiểu stress là phản ứng không đặc hiệu,
không rõ ràng trước những tác động cũng không rõ ràng, không đặc hiệu
Biết là có thể có hại nhưng cũng thật khó lảng tránh Tuy nhiên stress không phải lúc nào cũng có hại Các phản ứng đa
dạng kiểu stress cũng tạo cho ta ý chí vượt khó và chính stress làm cho cuộc sống thêm sôi động và thú vị hơn
Ví dụ: chỉ việc cần đến trạm xe buýt cho đúng giờ, khỏi chậm trễ, khỏi lỡ xe thì trong cơ thể con người đã xảy ra những biến đối sinh lý sinh hóa tạo cơ sở cho sự đáp ứng là tìm một lời
giải nào đó hoặc làm một hành động gì đó để đáp ứng đòi hỏi: không trễ xe Hoặc là cố gắng chạy nhanh lên cho kịp chuyến
Trang 23xe, hodc 1a tặc lưỡi đến đâu thì đến, không việc gì mà vội vàng,
không chuyến này thì chuyến khác
Sự đáp ứng nhiều hay ít, biểu thị stress mạnh hay yếu còn
tuy thuộc vào việc đánh giá mức độ quan trọng của stress đối với
bản thân stress quá mạnh, cơ thể không đáp ứng nổi sẽ trở nên
suy yếu, ngã bệnh và thậm chí có thể tử vong
Trong cuộc sống từ lúc nhỏ tuổi cho đến lúc trưởng thành, đến
tuổi già chúng ta luôn gặp biết bao nhiêu là sự thay đối Mỗi một sự
thay đổi đều gây cho ta một phản ứng nào đó hay nói khác đi là gây
ra một stress Như vậy, sự thay đổi là một yếu tố phổ biến gây stress
Thay đối vì stress là một phần của cuộc sống từ nhỏ đến
lớn, dễ thấy nhất là giai đoạn dậy thì, chớm trưởng thành và giai
đoạn về già (hưu trí hoặc mãn kinh đối với phụ nữ)
2.3.1 Đáp ứng của cơ thể đối với stress
Trước khi stress xảy ra, nó phải được cảm nhận có ý thức
hoặc vô thức Khi gặp biến cố thì biến cố đó được giải quyết về
thể chất hoặc tinh thần theo một trong 3 cách sau: Hãy lấy ví dụ
về một cuộc thi kết thúc môn học của sinh viên
— Đáp ứng xây dựng (đáp ứng thích ứng): Với sinh viên
học tốt, chăm chỉ, nắm được bài, anh ta quan niệm cuộc thi là
một thử thách cho phép anh chứng tỏ mình, bộc lộ năng lực của
mình trước thầy giáo Đó làmột đáp ứng xây dựng
— Đáp ứng phá húy (đáp ứng không thích ứng): Với một
sinh viên học hành không tốt anh ta cho rằng cuộc thi là một đe
dọa, anh ta chuẩn bị đối phó bằng cách gian lận như chuẩn bị
phao, chuẩn bị tư thế để copy, nhưng rồi mọi chuyện vỡ lở,anh ta đâm ra bất mãn, dẫn đến những stress mới không có lợi gì Đó là
Phản ứng của cơ thể lúc đang có stress gồm những biến đổi
về sinh lý, sinh hóa mà trước hết là ở hệ thần kinh, sau đó là nội tiết rồi đến hệ cơ, tiêu hóa, tim mạch và da, thường thể hiện ra
bể ngoài như sững sờ, hốt hoảng, đổ mặt, tái tím mặt, tim đập nhanh, hồi hộp, lóng ngóng, tê cứng, lông tóc dựng lên, buồn tiểu
Có thể phân biệt 2 kiểu stress như sau:
- Kiểu thách thức nhất thời (Acute stress) có khởi sự và
- Kiểu thách thức kéo đài, liên tục gọi là stress mạn tính
(Chronic stress) hay trường diễn Khi đó con người nhận thức
thấy những đòi hỏi lớn hơn những nguồn lực sẵn có để đối phó
với chúng Ví dụ: Lớp học đang yên tnh bỗng ngoài hành lang
nhiều sinh viên khác chơi đùa ồn ào Nhắc nhở một vài lần không được Sinh viên va thay giáo trong lớp vẫn cố gắng chịu
Trang 24đựng để tiếp bài giảng Nhưng rồi đến lúc không thể tập trung
cao độ cho bài giảng được nữa Thầy giáo đành phải kết thúc bài
giảng trong ấm ức và lầm bầm dọa sẽ báo cáo lên khoa
Trước hai kiểu stress như vậy con người rõ ràng là có
những kiểu phản ứng khác nhau:
+ Phản ứng khẩn cấp: Walter Cannon (1920) đã mô tả cách
thức con vật và con người đáp ứng với mối nguy hiểm bên ngoài
bằng cách hoặc là chống trả hoặc là bỏ chạy (trung tâm này nằm ở
vùng dưới đồi, nó kiểm soát hệ thân kinh tự chủ và hoạt hóa tuyến
yên) Đáp ứng kép với stress này được phát động khi đối mặt với de
dọa
Hans Selye (1930) nghiên cứu tác động liên tục của stress
lên cơ thể Selye quan niệm stress như một trạng thái bên trong
cơ thể và coi sự đáp ứng toàn thân với các tác nhân gây stress
không đặc hiệu như vậy là hội chứng thích ứng chung (GAS —
The general Adaptation syndrome), dién ra theo 3 giai doan:
Phản ứng báo động, đề kháng và suy kiệt
+ Phản ứng tâm lý: Các phản ứng sinh lý với stress là
những đáp ứng tự động, có thể dự đoán, tạo thành một kết cấu
mà không kiểm soát được bằng ý thức
Khác với các phản ứng sinh lý nói trên phản ứng tâm lý là
phản ứng tập nhiễm, tùy thuộc vào nhận thức và năng lực trong
xử lý stress Các phản ứng tâm lý với stress có thể bao gồm các
đáp ứng ứng xử, cảm xúc và nhận thức:
- Đáp ứng ứng xử: Ứng xử của một người khi đối mặt với
tác nhân gây stress tùy thuộc vào mức độ stress diễn ra Các kiểu
phản ứng khác nhau là kết quả của mức độ stress nặng nhẹ khác
nhau:
Stress nhẹ có thể được cảm nhận như một thách thức và làm tăng thành tích
Stress vừa sẽ phá vỡ ứng xử và có thể dẫn đến những hành
vi đập khuôn, lặp đi lặp lại
Stress nặng ngăn chặn những ứng xử và gây ra những phản
ứng lệch lạc
— Đáp ứng cảm xúc Các phản ứng cảm xúc của stress gồm trạng thái bối rối, giận dữ, trầm nhược Đặc biệt các phản ứng rối nhiễu sau chấn thương là những phản ứng cảm xúc chậm, kéo dài các hậu quả tiêu cực của stress cấp tính, cơ thể trở thành một
hội chứng mạn tính gọi là stress tàn dư
— Đáp ứng nhận thức Các phản ứng nhận thức với stress bao gồm sự chú ý bị thu hẹp, tư duy máy móc stress càng nặng bao nhiêu thì hiệu năng nhận thức và tư duy linh hoạt càng giảm
bấy nhiêu
2.3.2 Các yếu tố gây stress Các biểu hiện của stress rất đa dạng Việc tìm hiểu xác định các yếu tố gây stress giúp ta tìm cách giải tỏa tốt hơn Có thể có 3 nhóm yếu tố như sau:
+ stress s/?h thái: Phát sinh từ quan hệ nội tại và ngoại lai
với môi trường bên trong và bên ngoài Mọi hoạt động của bản
thân con người vốn được lập trình sẵn cho các loại phẩn ứng Ví dụ
stress nhiệt gây nóng thì toát mồ hôi, với stress ổn thì bịt tai lại
Trang 25Do đó các loại stress sinh thái thường ít chịu ảnh hưởng của ý thức
và do đó cũng khó kiểm soát Người ta thường chú ý đến các loại
yếu tố như sau:
— Chu kỳ thời gian là stress sinh thái cơ bản nhất Con
người là sinh vật duy nhất có thể bắt những chu kỳ sáng-tối,
ngày-đêm tuân theo thời khóa biểu của mình Hậu quả là đôi
khi thấy lạc điệu với môi trường xung quanh, rồi cảm thấy khó
chịu, cáu khỉnh thậm chí ngã bệnh
Ví dụ: Khi đi máy bay qua nhiều múi giờ khác nhau, khi
làm ca đêm và ngủ ngày Nhịp sinh học bị xáo trộn, phải mất
một thời g1an mới quen được Thường có 3 loại nhịp sinh học khó
kiểm soát: Nhịp ngày đêm, giờ, và các nhịpsinh học được gọi là
Biorhytme về thể lực, tâm lực, trí lực
- Sự thiếu ngủ, thiếu ăn, chế độ lao động nặng mà đinh
dưỡng kém, không được ngủ sẽ sinh stress khá nặng, giảm sút tốc
độ phản ứng, độ nhạy cảm và khả năng phối hợp các hoạt động,
kèm theo những biến động về tâm lý như lầm lẫn, nắn chí, ảo giác
hung bạo
- Chấn thương và bệnh tật: Đó thực sự là những biến cố
gây chấn động tâm lý tình cảm dẫn đến stress Nhưng nếu được
giải thích về các triệu chứng chấn thương, tật bệnh thì chính sự
hiểu biết sẽ giúp giảm nhẹ biểu hiện stress, ngược lại nếu chỉ
hiểu mù mờ trong khi chỉ nhấn mạnh hiệu quả xấu của các bệnh
tat thi stress sé tăng lên
Các stress vật lý khác như nhiệt, bức xạ, ồn đều gây những
phản ứng khó chịu, chóng mặt, nhức đầu, say nóng, điếc tai Trong lao động các stress ấy được gọi là tác hại nghề nghiệp
+ stress tam ly—xd@ hội: Phát sinh khi xử lý sai các thông tin
hỗn độn, ô ạt, rối rắm từ môi trường xã hội hoặc khi tham vọng
mà không đạt được
Sự thiếu thích ứng dẫn tới sự thiếu cân bằng là nguyên
nhân gây stress Các cách mà ta phản ứng không tốt với thông tin
cũng là một nguồn gốc gây stress Xã hội luôn biến đổi, sự vật hiện tượng liên quan đến ta không ngừng diễn biến, đổi thay, cho
dù là đổi thay có lợi cũng là nguồn gốc dẫn đến stress Thường
những tác động này không hề đơn độc mà tương tác với nhau: Sự
thất vọng, bế tắc lối ra, sự quá tải cũng như thiếu tải thường
không tác động một cách đơn độc Số lượng thông tin vượt quá
khả năng xử lý mà nguyên nhân phổ biến như thiếu thời gian,
không được hỗ trợ, kỳ vọng quá cao, năng lực có hạn, sự buồn tẻ,
đơn điệu, nhàm chán lập đi lập lại, quá tải và thiếu tải đều dễ dẫn đến stress
+ stress nhân cách xuất hiện do có cảm nhận về chính mình
và về hành vi của mình Việc tự đánh giá mình là một yếu tố có thể dẫn đến stress rất mạnh Khi mục tiêu đạt được ta tự cao, khi thất bại ta lại tự đánh giá thấp Dù thành công hay thất bại cũng đều có thể có stress bởi vì chúng có ít nhiều tác động đến sự tự đánh giá của bản thân
2.3.3 Các yếu tố điều tiết stress
Trang 26Những yếu tố làm thay đổi tác động của một tác nhân gây
stress gọi là yếu tố điều tiết stress Tình trạng sức khỏe (mệt mỏi
hay phấn khởi) là một ví dụ về điều tiết có ảnh hưởng đến phản
ứng đối với một tác nhân gây stress nào đó về tâm lý hoặc sức
khốc Khi thoải mái dễ chịu sẽ đối phó với stress hiệu quả hơn
Những yết tố có ảnh hưởng đến khả năng điều tiết stress có thể
được kể ra trước hết là nhận thức, bản lĩnh để nhận thức và quyết
định phản ứng Sau cùng là vai trò của cộng đồng
+ Nhận thức Nhiều tác nhân gây stress có thể được mọi
người nhận thức giống nhau như việc xâm hại cơ thể, gây tốn
thất cho con người Nhưng cũng có những tác nhân đau buồn cho
một người này lại có thể chỉ là việc xảy ra hằng ngày đối với
một cá nhân khác Cách đánh giá một tác nhân gây stress cũng
như bản lĩnh đối phó với stress cũng quan trọng không kém bản
thân tác nhân gây stress Chẳng hạn một một bàn thắng trong
một trận đá bóng đá có thể là tác nhân gây stress cho nhiều
người hâm mộ và cầu thủ hai đội khác nhau: có thể là sự hào
hứng và tạo niềm tin hy vọng cho bên thắng nhưng lại là sự sụp
đổ tinh thần của đối phương
Việc đánh giá tác nhân gây stress quyết định phản ứng có ý
thức về tác nhân đó và cũng là yếu tố quyết định thành công
trong việc đáp ứng những đòi hỏi gây stress Richard Lazarus đã
nghiên cứu nhiều về việc đánh giá stress Ông cho rằng có 2 giai
đoạn giành cho việc lượng giá như sau:
Giai đoạn đầu sẽ là các câu tự hỏi: Nó là cái gì? Nghiêm
trọng đến mức nào? Nguy hại ra lầm sao? Chịu đựng bằng cách
nào? Liệu tác hại đã xảy ra chưa? Có khả năng diễn ra hay không? Liệu hành động này có cần thiết không?
Giai đoạn sau là con người đánh giá các nguồn lực nhằm
đối phó với tình huống gây stress và xem xét các hành động nào cần thiết Nếu đáp ứng đầu tiên không kết quả thì phải lượng giá tiếp để tìm phương thức mới
+ Bản lĩnh: Có thể có cùng một kiểu stress mà nhiều người
trải nghiệm lại rất khác nhau Những người vượt qua được stress thường là người có bản lĩnh cao Bản lĩnh được bộc lộ từ nhận thức: coi stress như một thách thức chứ không phải mối đc dọa; các đáp ứng nhằm vào hoạt động có mục tiêu và có ý thức tự
kiểm soát hành động của mình Ba phẩm chất thách thức, định hướng và kiểm soát chính là biểu thị sự thích nghi đối với tình huống gây stress (Trong tiếng Anh, Hardiness bao gồm 3 yếu tố
“C“ là Challenge — thách thức, Commitment-đinh hướng và
Control-kiểm soát) + Vai trò của cộng đồng Sự hỗ trợ về tâm lý — sự cảm thông,
an ủi, động viên có tác dụng to lớn trong việc đáp ứng của cá nhân, tạo thêm niềm tin, củng cố bản lĩnh và nhờ đó mà vượi qua
được stress Sự cô đơn, cảm giác bị bỏ rơi có thể làm tăng áp lực của stress, khiến người ta khó tim được sự đáp ứng thích hợp 2.3.4 Ứng phó với stress
Ứng phó (coping) là quá trình xử lý các đòi hỏi bên trong
hoặc bên ngoài được nhìn nhận là gây ra căng thẳng hoặc vượt
quá khả năng sẵn có Nhiều khi ta xử lý stress trước khi nó xảy
ra Cách đó gọi là ứng phó phòng ngừa (Anticipatng Coping)
Trang 27Ứng phó phòng ngừa giúp chuẩn bị tốt hơn để đón nhận stress
thực sự diễn ra
+ Chiến lược ứng phó sơ cấp có thể nhằm vào hai mục tiêu
khác nhau Đó là:
- Ứng phó nhằm vào giải quyết vấn để bao gồm các chiến
lược nhằm xử lý trực tiếp tác nhân gây stress Những nỗ lực giải
quyết vấn đề như vậy là rất có lợi trong việc xử lý các tác nhân
gây stress có thể kiểm soát được
- Ứng phó nhằm vào cảm xúc có lợi cho việc xử lý tác
động của các tác nhân gây stress không thể kiểm soát được Mỗi
khi không tìm được cách làm thay đổi tình huống gây stress từ
bên ngoài thì phải cố gắng tìm cách làm thay đổi những tình cảm
và ý nghĩ về stress Điều hòa cảm xúc là một chiến lược ứng phó
có ý nghĩa điều trị (Remedial Coping Strateting) tuy không triệt
tiêu tận gốc stress nhưng có thể làm địu bớt những cảm nghĩ đau
buồn bằng những biện minh được chấp nhận về hiện trạng
Ứng phó này còn được coi là cơ chế tự vệ cái tôi (Ego
defense Mechanism) chẳng hạn như dồn nén, phủ nhận thực tại
và hợp lý hóa:
- Dồn nén là quên đi một cách đễ dàng một sự kiện gây
khó chịu
- Phú nhận là vẫn phải thừa nhận một tác nhân gây stress
nhưng cố làm giảm tầm quan trọng của nó
- Hợp lý hóa là đưa ra những lý lẽ để khỏi nhằm vào việc giải quyết vấn đề chẳng hạn tự nhủ rằng chẳng làm được gì hơn, suy nghĩ nhiều chỉ khiến vấn đề thêm phức tạp
Thường người ta vận dụng cơ chế này mà không hề ý thức
về chúng Cơ chế này giúp tránh khỏi lo hãi bằng cách cho phép
đánh giá tình huống theo cách cảm nghĩ ít bị đe dọa hơn
Thực ra thì cơ chế này chỉ nhằm tự bảo vệ chứ chưa phải là giải quyết vấn đề và nếu bị lạm dụng thì có thể dẫn đến nhận
thức hiện thực một cách méo mó và không thể thích ứng được
Tóm lại để ứng phó có kết quả, các nguồn lực phải đáp ứng được yêu cầu được nhìn nhận Hiệu quả của ứng phó phụ thuộc vào sự phù hợp giữa các chiến lược ứng phó đối với những đặc trưng riêng của từng loại stress Khi nắm được nhiều chiến lược
ứng phó thì tự tin hơn trong việc đáp ứng
+ Chiến lược ứng phó thứ cấp bao gồm việc thay đổi nhận thức và cả biện pháp kiểm soát
- Thay đổi nhận thức là cách ứng xử stress mang tính thích nghi tốt Về mặt tâm trí có 2 cách ứng phó với stress là:
Đánh giá lại tác nhân gây stress: Cần tạo ra một tư duy khác đi
về một số tác nhân gây stress hay cho chúng một cái nhãn mác khác
và đặt nó vào một tình huống ít đe dọa hơn (thậm chí biến thành điều
thách thức thú vị ) từ đó có thể làm nhẹ hậu quả của stress
— Cấu trúc lại nhận thức: Khi đang sống trong môi trường
gây stress thì các chiến lược ứng phó hữu hiệu có thể là thực
hiện mội trong những kiểu kiểm soát sau:
Trang 28* Kiểm soát thông tin, tức là biết điều gì đang chờ đợi
* Kiểm soát nhận thức, có nghĩa là hiểu về sự kiện một
cách khác đi và với một cách xây dựng hơn
* Kiểm soát quyết định là tìm khả năng quyết định trên
những hoạt động thay thế nhau
* Kiểm soát ứng xử là thực hiện những hành động nhằm
giảm nỗi đau do stress gây ra
Những chiến lược này có thể dẫn tới cấu trúc nhận thức và
ứng xử hữu hiệu hơn
— Khai thác nguồn lực bên ngoài: Trong những tình huống
gây stress nếu chỉ đơn phương độc mã thì sẽ khó khăn vô cùng
Nếu có được sự liên kết với người khác, có sự hỗ trợ của xã hội
thì việc ứng phó với stress cũng dễ dàng hơn ít nhiều Hỗ trợ xã
hội (Social Support) 14 các nguồn lực, các điều kiện vật chất, là
sự thông cảm, sự hỗ trợ bằng thông tin, bằng nhiều phương tiện
khác nhau nhằm ứng phó tốt hơn với stress
Tuy nhiên có khi quá nhiều hỗ trợ xã hội lại gây thêm bối
rối Chẳng hạn chỉ cần một người thân để trao đổi, tâm sự thì có
lợi hơn là quá nhiều tư vấn khác nhau
Ngoài ra việc cải thiện môi trường vật lý, sử dụng các biện
pháp âm nhạc, hội họa cũng giúp con người thư giãn tốt hơn, làm
giảm được những ảnh hưởng không lành mạnh do môi trường tạo
ra Một môi trường sinh thái tốt có thể giảm nhẹ sức ép căng
thẳng của hội chứng nhà kính
2.3.5 Phương pháp cơ bản để giải tỏa stress
Khi biết là stress sẽ xẩy ra và nhiều loại yếu tố gây stress
sẵn sàng tác động vào mình thì cần có kế hoạch tích cực để giải tỏa Hãy học cách thay đổi tích cực và chấp nhận những gì mà
mình không thể thay đổi được như 1: Xem lại sự tự đánh giá; 2: Làm rõ mục tiêu của mình — can kha thi; 3: Sắp xếp thời gian một cách chủ động; 4: Điều độ trong ăn, ngủ, vận động; 5: Kiểm soát các phẩn ứng một cách có ý thức Biết thỏa hiệp Không cẩn trở, quấy rối người khác; 6: Hãy hòa mình vào các hoạt động
chung, không bàng quan sẵn sàng giúp đỡ người khác; 7: Đừng
ngại phải khóc - Khóc là một cách làm địu nỗi lo âu và căng thẳng - Biết cười khi có thể khóc - Có thể cười khi cần phải khóc; 8: Tuyệt đối tránh dùng thuốc bừa bãi
2.4 stress nghề nghiệp (SNN)
2.4.1 SNN không phải là vấn đề riêng tư của người lao động khi phải đối phó một mình hoặc trong hoàn cảnh biệt lập mà còn
liên quan đến tổ chức (cơ quan, xí nghiệp ) Những rắc rối của
cá nhân, của gia đình có thể được mang đến nơi làm việc hoặc,
ngược lại, chuyện ở xí nghiệp cũng có thể mang về nhà
Hậu quả của SNN có thể ảnh hưởng đến cơ quan xí nghiệp lẫn người lao động Hậu quả tiêu cực đối với cơ quan xí nghiệp
là phá hỏng nề nếp kỷ luật, phá vỡ thao tác chuẩn mực, giảm
năng suất, giảm lợi nhuận Đối với cá nhân người lao động thì
hậu quả xấu có thể ở cả ba mặt: sức khỏe không tốt, tĩnh thần sa sút, ứng xử không hợp lý Về sức khỏe thì ít trực tiếp dẫn đến
tình trạng bệnh tật nào đó nhưng sức khỏe bị sa sút một cách
lặng lẽ âm thầm Tình trạng sa sút tính thần thường xảy ra khi
không được thỏa mãn trong việc làm, xuất hiện cảm xúc tiêu cực
Trang 29liên quan đến tập thể và cơ quan xí nghiệp, ảnh hưởng đến hành
vi, lối sống cả ngoài xã hội
SNN đồi hỏi các giải pháp cả từ phía cơ quan xí nghiệp lẫn
cá nhân Nếu chương trình hỗ trợ chỉ nhằm vào người lao động
thôi thì sẽ kéo đài tình trạng dồn lỗi cho người lao động và cho
rằng đó chỉ là vấn để của người lao động Chừng nào có được
những giải pháp can thiệp và thay đổi từ tổ chức thì các chiến
lược ứng phó cá nhân mới giúp người lao động vượt qua được
khủng hoảng
2.4.2 Xác định SNN
Có nhiều cách xác định khác nhau về SNN Có một quan
niệm khá phổ biến cho rằng SNN bắt nguồn từ việc đánh giá
xem liệu có nguy cơ tạo ra mối đe dọa cho cá nhân hay không
Mối đe dọa có thể là do đòi hỏi quá mức của việc làm hoặc do
không cung ứng đầy đủ những nhu cầu của người lao động
Tình trạng quá tải việc làm (thời gian quá tải, cường độ
nặng, căng thang cao ) cũng là những mối đe dọa Thiếu hụt
cung ứng có thể là tiền lương, đãi ngộ không đúng mức, có thể là
không có cơ hội thăng tiến nhề nghiệp Một số tác giả như Terry
Beehr va J Newmann (1978) da dtic két rang SNN là sự tương
tác giữa các điều kiện lao động khiến cho các chức năng bình
thường về tâm lý hay sinh ly, hoặc cả hai, bị thay đổi Nói cách
khác, SNN là những đòi hỏi lao động vượt quá năng lực ứng phó
của người lao động
2.4.3 Tác hại của SNN
Tác hại trước hết là tổn thất to lớn về kinh tế Tổn thất đó phải được tính từ các khoản chi phí toàn diện của cá nhân, gia
đình cho đến lợi ích của doanh nghiệp và hao tổn cho xã hội Ở
nước ta mới chỉ tính hao tổn do tử vong và thương tật nặng do tai
nạn lao động trong hoạt động nghề nghiệp, còn số liệu hao tổn
về bệnh nghề nghiệp vẫn còn nhiều thiếu sót và càng không có
số liệu do SNN Cần biết rằng stress gây phản ứng cấp tính là
một trong những nguyên nhân phổ biến của tai nạn lao động
Số người nghỉ việc, số ngày nghỉ việc hàng năm có liên
quan đến stress chiếm tỷ lệ không nhỏ (ước đoán không dưới 5%) Số người bỏ việc cũng không ít Đó là chưa kể số người than phiền, khó chịu, nhức đầu mệt mỏi, tuy không bổ việc nhưng năng suất trở nên tệ hại Những chi phí để giải quyết hậu quả này là không nhỏ chút nào Số người lao động bỏ việc không
dưới 30% có nguyên nhân là do SNN Chưa kể số công nhân than
phiền, đau ốm vì những vấn đề liên quan đến stress (không dưới 30%) Những phí tổn do giải quyết hậu quả vô cùng lớn
Trang 30động và hậu quả đĩ nhiên là có thể tác động tiêu cực đến hầu hết
các phương diện của cuộc sống
ze Rn n ` Z ^ 2 tA Z ns xX A
Nói tổng thể là có ba hậu quả tiêu cực: các rối nhiêu tâm
lý, các rối loạn sinh lý và các lệch lạc ứng xử
Zz Ae ox A + n TA ^ we tA ^ x ~ Ly?
Các rối nhiêu tâm lý: thể hiện một mối liên hệ chặt chẽ với
các điều kiện lao động
Sau đây là những diễn biến điển hình:
— Lo hãi, căng thẳng, dễ cáu gắt
Hụthẫng, tức giận, oán giận
Quá nhạy cảm trong cảm xúc, hiếu động
7 Cảm giác bị xa lánh, bị ghét bỏ, cô đơn
8 Buồn chán, không toại nguyện, bất mãn
9 Mét mdi tinh than é ché, tri lực giảm sút
10 Mat tap trung
11 Thiếu tự chủ, kém sáng tạo
12 Giảm tự trọng
Hậu quả dễ thấy nhất là không toại nguyện Người lao
động cảm thấy ít động cơ thúc đẩy làm việc, chán nắn, không
muối tiếp tục công việc
Lo hãi, căng thẳng, tức giận, oán hận cũng được nhắc đến
khá nhiều
Có người cảm thấy sức ép nghề nghiệp quá lớn sinh ra tâm
lý xa cách, trầm nhược Thường là xảy ra khi không vượt qua tình
huống stress, đần dần trở nên mất tự tin không muối thay đổi gì, trở nên an phận dù thực chất vẫn còn khả năng biến đổi
Mội số khác hoàn toàn thiếu tự tin, cảm thấy không thể tự lực được cho nên không hề muốn cố gắng
+ Các rối loạn sinh lý hay tổn thương thực thể: Có thể kể ra một số dẫn chứng phổ biến sau:
1 Tăng nhịp tim, tăng huyết áp
Tang adrenalin vmoi a noradrenalin
Bệnh đường tiêu hóa: loét dạ dày, tá tràng
Trang 3113.Rối loạn giấc ngủ
Ngoài ra stress còn để lại đi chứng mạn tính chuyển thành
các bệnh nghề nghiệp, các chứng vô sinh, giảm hưng phấn tình
dục Nhu cầu cải thiện điều kiện lao động là vấn đề rất bức xúc
hiện nay
+ Các lệch lạc ứng xử của SNN: Một số biểu hiện dễ thấy như
sau:
— Chan chừ, né tránh công việc
Năng suất, hiệu quả giảm
Lạm dụng rượu, ma túy
Tăng số lần an dưỡng, chữa bệnh
._ Ăn quá nhiều như để trả thù, béo phì
2
3
Á
5
6 An qua ít như muốn co mình lại cùng với trầm nhược
7 Mất cảm giác ngon miệng, trọng lượng giảm nhanh
8 Tăng hành vi nguy hiểm, lái xe ẩu, đánh bạc
9 Hung bạo, phá hoại của công, ăn cắp, gây rối
10 Quan hệ xấu với gia đình, bạn bè
11 Tự sát hoặc mưu toan tự sát
12.Phá hoại phương tiện hành nghề
SNN có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cá nhân người lao
động, đồng thời cũng gây phiển hà, tổn hại cho tổ chức như bỏ
việc gây rối loạn về nhân lực, giảm năng suất dẫn đến giảm tổng
sản lượng, tổng doanh thu, thiếu trách nhiệm dẫn đến hư hỏng máy móc thiết bị, gây tai nạn lao động, gây sự cố môi trường 2.4.5 Nguồn gốc SNN
Stress là một tương tác giữa các điều kiện khách quan của lao động nghề nghiệp với nhận thức của người lao động về sự
phù hợp của năng lực (kỹ năng, kỹ xảo) với đòi hỏi của công
VIỆC
Carry Cooper (1983) đưa ra nhiều yếu tố gây ra SNN, trong
đó có thể kể ra các yếu tố phổ biến sau:
1 Tinh phức tạp của nghề nghiệp
2 Sự quá tải hay dưới tải
3 Các điều kiện vệ sinh an toàn lao động
4 Tổ chức ca kíp - Biến đổi nhịp sinh học
5 Hysteri dây chuyền (làm mất hứng thú, giảm chú ý)
SNN còn xảy ra do vai trò lao động Có thể kể ra một số biểu hiện sau:
- Sự nhập nhằng trong phân công lao động: Có sự chồng
chéo hoặc lỏng lẻo, không rõ trách nhiệm cá nhân Phụ nữ nhạy
cảm hơn nam giới trong tình huống này
— Mối liên quan giữa cá nhân với tinh thần đoàn kết gắn bó trong tập thể: Sự thông cảm và chia sẻ với nhau có tác dụng rất tốt
trong việc giảm nhẹ mức độ stress Quan hệ giữa người quản lý và
người lao động cũng là một yếu tố quyết định Phẩm chất và uy tín
cá nhân của người lãnh đạo ảnh hưởng lớn đến nhận thức và cách
Trang 32đáp ứng của người lao động Phong cách quản lý và phương pháp
điều hành tốt sẽ tạo sự tin tưởng ở người lao động và có ý nghĩa
then chốt
— Phát triển thăng tiến nghề nghiệp: Người lao động, nhất
là lớp trẻ, khi mới vào nghề có ước vọng riêng về nghề nghiệp
Hy vọng được tiến bộ nhanh, được bồi dưỡng, được tự do hơn
trong nghề nghiệp là những nguyện vọng chính đáng Khi hy
vọng và ước mơ không thấy chiều sáng sủa thì người lao động dễ
mất ý thức hoàn thành tốt nhiệm vụ Có bốn yếu tố liên quan
đến stress trong phát triển nghề nghiệp là không được thăng tiến,
thăng tiến quá mau, tham vọng bị hụt hãng và thiếu an toàn
trong nghề nghiệp
- Nghề nghiệp và gia đình: Gia đình là nơi ẩn náu, chốn
riêng tư yên tĩnh và con người có thể sống đơn độc, là tổ ấm giúp
tái tạo và tập hợp lại những sức mạnh bên trong hong đáp ứng
các đòi hỏi bên ngoài
Một khi sức ép lan tràn vào nơi ẩn náu này thì có thể
khuếch đại các hậu quả của SNN Nơi làm việc có thể ảnh hưởng
tích cực hoặc tiêu cực đến cuộc sống gia đình và ngược lại
Sẽ có nhiều trục trặc khi cả hai vợ chồng đều đi làm, đều
thành đạt Nếu họ biết thích nghi tốt với cuộc sống hôn nhân thì
họ sẽ ứng phó tốt hơn với stress, còn không thì ngược lại
3 Có một người bạn để giãi bày tâm sự
4 Sống tích cực, xây dựng để ứng phó với nguồn gốc sinh SNN
5 Có mối liên hệ tốt với xã hội bên ngoài
6 Tham gia các hoạt động tích cực, sáng tạo ngoài xã hội
7 Dấn thân vào công việc có ý nghĩa
8 Vận dụng phân tích khoa học vào nhận thức về SNN
9 Tập thể dục chơi thể thao là biện pháp rất tốt
2.5 Sức khỏe sinh sản 2.5.1 Đặt vấn đề dân số —- kế hoạch hóa gia đình (DS — KHHGĐ) trong tổng thể chính sách xã hội liên quan đến phát
triển, đến môi trường là định hướng tổng quát của thế giới mà
hầu hết các quốc gia đều đang rất quan tâm Mục tiêu “Phát
triển bền vững” do Quỹ môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEF) đặt ra là một yêu cầu quan trọng cho tương lai của loài người
D§S - KHHGPĐ là một nội dung rất cơ bản, quan trọng của phát triển bển vững Đã có nhiều hội nghị thế giới về D§ —
KHHGD (Rom — 1954: Belgrad — 1965: Bucarest — 1979; Mehico —1984; Cairo — 1994) da xác định các định hướng về DS
— KHHGB trong đó sức khỏe sinh sản (SKSS), sức khỏe tình dục
(SKTD) là nội dung đặc biệt đối với đối tượng vị thành niên và
các nhóm dân cư thiệt thòi1
Trang 33Các hội nghị đều bày tỏ quan điểm rằng mọi người cần phải
biết tự mình chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục Có nhiều
số liệu cho thấy tình trạng xấu về sức khỏe sinh sản trên thế giới
+ Hàng năm có khoảng 600.000 phụ nữ chết có liên quan
đến chửa đẻ thì 90% rơi vào các nước kém phát triển:120 triệu
phụ nữ không muốn mang thai nhưng không biết phương pháp
tránh thai; 20 triệu phụ nữ phá thai không an toàn, chiếm 10% số
tử vong hàng năm; 15 triệu gái vị thành niên (15 - 19 tuổi) đã
mang thai; 300 triệu phụ nữ mắc bệnh phụ khoa, nhiễm trùng
qua đường tình dục mà Moo la vị thành niên (Thông báo của
WHO năm 1995)
— Đã có tới 40 triệu người nhiễm HIV mà chủ yếu là ở lứa
tuổi lao động trẻ (20 - 451)
Ở Việt Nam năm 1997 thống kê cho biết:
— 1.124.000 phụ nữ nạo thai — gần ngang số trẻ sơ sinh còn
sống
— 110 — 120 trên 100.000 ca đẻ làm mẹ chết lúc đẻ
Nguyên nhân chính là chẩy máu và uốn ván
— 39,4% phụ nữ có bệnh phụ khoa
— 71.000 ca bệnh qua đường tình dục, chủ yếu ở lứa tuổi
20-40, phụ nữ nhiều hơn nam giới
- HIV-AIDS phát triển quá nhanh, năm 1998 đã có 1200
người chết Năm 2003 có 6550 người chết (Nguồn: Bộ Y tế)
- Chỉ số phát triển của trẻ em quá thấp Trẻ em suy đinh dưỡng dưới 5 tuổi chiếm 25,2% Chết dưới 5 tuổi là 6,5%
(Nguồn: Báo cáo tiến bộ cho trẻ em — 2005)
2.5.2 Nội dung chăm sóc SKSS 1/ Làm mẹ an toàn (trước, trong và sau khi đẻ)
2/ Kế hoạch hóa gia đình
3/ Giảm nạo thai ngoài ý muốn
4/ Hạn chế lây nhiễm qua đường tình dục (chú trọng bao cao su)
5/ Giúp đỡ trường hợp vô sinh
6/ Phát hiện sớm ung thư vú và đường sinh dục
7/ Giáo dục truyền thống
8/ Khám sức khỏe tiền hôn nhân và khám thai định kỳ,
loại trừ thai nhi bất thường, khuyết tật Thực chất SKSS/KHHGĐ
là vấn đề văn hóa mà văn hóa phụ thuộc vào phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, hướng thụ văn hóa và môi trường
2.5.3 Nội dung cơ bản của chương trình hành động quốc gia
Trang 34— Chi trong dac biét d€n bao cao su vi vita dam bảo
KHHGD vừa phòng chống lây nhiễm
SKTD là vấn đề thuộc phần vô thức - bản năng cho nên
không dễ hướng dẫn ở xã hội nước ta
+ Cách mạng tình dục: diễn ra từ thập kỷ 60, chủ yếu là những
nhận thức mới về điều mà nhiều thập kỷ trước không được phép nói
công khai, từ đó hành vi tình dục cũng đổi khác nhiều, thể hiện như
sau:
1/ Hạn chế số nhân khẩu trong gia đình — ít con
2/ Hành động tình dục nhằm duy trì nòi giống chuyển
thành hành động chủ yếu là vì khoái lạc, một lối hướng thụ
3/ Phụ nữ rảnh rang tham gia hoạt động xã hội nhiều hơn,
giao tiếp nhiều hơn, lập gia đình trễ hơn và xu thế sống đơn thân
nhiều
4/ Sự bên vững của gia đình bị thách thức và từ đó stress
trở nên nghiêm trọng hơn, dẫn đến nhiều đổ vỡ, ly thân, ly đị và
những stress để lại cho đàn ông, đàn bà và đặc biệt là con cái
những đau khổ khó lường
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU
1 Dang Phương Kiệt, Cơ sở tâm lý học ứng dụng, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2000
2 Đặng Phương Kiệt, stress và đời sống sfress và sức khỏe,
NXB Văn hóa Thông tin, 2004
3 Pham Khuê, Bệnh học tuổi già, NXB Y hoc, 2000
4 Larry K Olsen (sach dich), Sức khỏe ngày nay, NXB
TPHCM, 1997
5 Mikulin (sach dịch), Sống Idu tich cuc, NXB Y hoc, 1995
6 Lé Trung, Bénh nghé nghiép, NXB Y hoc, 1990
Câu hỏi ôn tập chương 2:
1 Quan niệm của WHO về sức khỏe Hãy nhấn mạnh những ý chủ yếu trong định nghĩa sức khỏe của WHO
2 Liệu có thể nói sức khỏe cộng đồng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ phát triển của một cộng đồng, một xã hội hay một quốc gia
3 Hãy nêu ý nghĩ sức khỏe tỉnh thần dối với quá rình hình thành nhân cách
4 Hãy giái thích ý nghĩa của Stress trong đời sống
và đối với sức khỏe
5 Hãy giải thích những yếu tố chủ yếu để điều
chỉnh stress
Trang 35CHUONG III
OA NHIEAM VA@® BEANH TAAT
Muc tiéu
Học viên cần nắm được những nội dung sau:
- Thế nào là bệnh và các nguyên nhân tổng quát dẫn đến
tình trạng bệnh lý
— Các nhân tế sinh thái tác động đến người theo những quy
luật sinh học nhưng con người còn có thể thích nghi với môi
trường bằng sản phẩm văn hóa
— Quy luật chống chịu hay quy luật giới hạn sinh thái là cơ
sở khoa học để xác định một nhân tố sinh thái đã là tác nhân gây
ô nhiễm hay chưa, tức là cơ sở khoa học của tiêu chuẩn nhà nước
TCVN về ô nhiễm môi trường
— Các nhân tố tự nhiên như địa lý, địa hóa có liên quan
đến việc xuất hiện các bệnh đặc trưng cho một số địa phương
- Ô nhiễm môi trường (tự nhiên và xã hội!) là nguyên nhân
phổ biến dẫn đến phát sinh và phát triển nhiều loại bệnh
- Ô nhiễm môi trường trong lao động dẫn đến các bệnh
nghề nghiệp, gây tổn hại cho sức khỏe người lao động, làm suy
giảm năng suất lao động
- Lối sống và sự đam mê thiếu kiểm chế cũng là những yếu tố xã hội nhân văn dẫn đến các loại bệnh nguy hiểm, làm giảm sút chất lượng cuộc sống lâu đài của cộng đồng, đặc biệt là
ung thư và các bệnh do tệ nạn xã hội gây nền
3.1 Ô nhiễm
3.1.1 Các nhân tố sinh thái
Mọi nhân tố trong hệ sinh thái có tác động đến sự sinh trưởng, phát triển của sinh vật đều được gọi là các nhân tố sinh
Con người là nhân tố hữu sinh, dĩ nhiên là nhân tố có ý nghĩa nhất bởi các khía cạnh xã hội chỉ có ở con người
Tác động của con người là có ý thức và quy mô rộng 3.1.2 Quy luật tác động của các nhân tố sinh thái
Trang 36Các nhân tố sinh thái tác động lên sinh vật một cách đa
dạng về một hay nhiều mặt của quá trình sống và theo nhiều
mức độ mạnh yếu khác nhau
Về mặt số lượng, tác động của các nhân tố sinh thái được
chia thành nhiều bậc:
Bậc tối thiểu (minimum): Nếu mức độ tác động thấp hơn
nữa thì có thể gây nguy hại, thậm chí tử vong, cho sinh vật
Bậc tối ưu (opimum): Tại mức này hoạt động của sinh vật
đạt giá trỊ cực đại
Bậc tối đa (maximum): Nếu mức độ tác động của nhân tố
sinh thái lớn hơn thì có thể gây nguy hại, thậm chí tử vong, cho
sinh vật
Khoảng giới hạn của một nhân tố từ bậc tối thiểu đến bậc
tối đa gọi là giới hạn sinh thái hay biên độ sinh thái, cũng còn
gọi là giới hạn chống chịu
Nhân tố sinh thái giới hạn là nhân tố mà khi tác động đến
sinh vật được giới hạn từ bậc tối thiểu qua vùng tối ưu đến bậc
tối đa Dưới bậc tối thiểu và trên bậc tối đa đều có thể làm cho
sinh vật bị nguy hại Ví dụ: nhiệt độ, pH, độ mặn, một số hóa
chất như CO¿, phân bón là những nhân tố sinh thái giới hạn
Những loài sinh vật có biên độ sinh thái lớn (khoảng biến
thiên min-max lớn) thì có phân bố rộng và ngược lại
Khả năng thích nghi của sinh vật trước tác động của các
yếu tố sinh thái thường diễn ra theo hai quy luật chủ yếu sau:
Quy luật tối thiểu: ĐỂ sống và chịu đựng được trong những
điều kiện cụ thể này khác, sinh vật đòi hỏi phải có những nhân tố tối cần thiết cho sinh sản và phát triển với một lượng rất nhỏ, rất tối thiểu Các nhân tố vi lượng (chỉ với một hàm lượng rất nhỏ) tác động mạnh đến năng suất, sản lượng cũng như tính ổn định của mùa màng Tuy ít, thậm chí rất ít, nhưng không có không được Quy luật chống chịu: Tức là quy luật về giới hạn sinh thái,
có nghĩa là không thiếu mà cũng không thừa - giữa hai mức độ
này chính là giới hạn của sự chống chịu
Đó là nguyên lý sinh thái cơ bản nhất được vận dụng vào việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trường, trong đó có tài nguyên quan trọng nhất là con người
3.2 Quan niệm về bệnh Thời nguyên thủy Con người bất lực trước thiên nhiên Thiên nhiên quá huyền bí Con người mắc bệnh là do sức mạnh huyền bí xâm nhập vào Mê tín dị đoan
Nghịch lý là nhiều nhà khoa học cũng mê tín, do họ thấy
được quá nhiều điều không biết, không giải thích được nên mất tin tưởng, đó cũng là chỗ dựa của tôn giáo
Thời văn minh cổ đại:
- Cổ học Trung Hoa Người thầy thuốc đầu tiên là Thần
nông, 3000 năm trước công nguyên với tập “Đại thảo”; Hoàng
đế 2650 trước công nguyên với quyển “Nội Kinh”, sau nay Can Long với liệu pháp xoa bóp và châm cứu
Trang 37Thời đó người ta quan niệm vạn vật là hai lực “Âm-
Dương” và năm nguyên tố “kim, mộc, thủy, hỏa, thổ”
Hai lực đối kháng: nam—nữ, nóng-lạnh, s6ng—chét
Năm nguyên tố-ngũ hành theo luật “tương sinh, tương
khắc” (mộc sinh hỏa, hóa sinh kim thủy khắc hỏa, hỏa khắc
mộc )
Trong vũ trụ và con người mọi trạng thái đều phụ thuộc
vào tình trạng cân bằng giữa hai lực và ngũ hành
Bệnh là khi có rối loạn âm dương, có thay đổi trong quy
luật tương sinh tương khắc của ngũ hành
Trong ý nghĩa triết học: Sức khỏe là trạng thái cân bằng,
hòa hợp giữa những nhân tố khác nhau
Có nhiều điều phù hợp với quan điểm duy vật biện chứng:
“Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”
Có sự mâu thuẫn và thống nhất giữa hai lực âm-dương,
giữa các lục phủ ngũ tạng
Cơ thể là một vũ trụ nhỏ, trong vũ trụ lớn, đòi hỏi sự thống
nhất cả bên trong lẫn bên ngoài
- Cổ Ai Cập, 3000 năm trước công nguyên cho “Sự sống là
do chất khí (pneuma)“ và “hô hấp là thu chất khí vào cơ thể“
Khi chất khí trong sạch thì ta khỏe mạnh Khi chất khí do
bẩn thì sinh ốm đau bệnh tật Y học cổ Ai Cập đã có cống hiến
lớn về mặt tổ chức vệ sinh công cộng, đã dùng nhiều loại thuốc
thể là vật chất vô tri vô giác mà trong đó linh hồn vận động, bảo
đảm sự thống nhất giữa cơ thể, sự lành mạnh bình thường của
các chức phận”
Khi linh hồn lìa khỏi thể xác để sang thế giới khác ấy là sự
chết “Bệnh chính là sự đấu tranh của linh hồn để duy trì được sự vận động bình thường”
— Văn mình Hy Lạp và La Mã kéo dài 8 thế kỷ (từ thế kỷ thứ 6 trước công nguyên đến thế kỷ thứ 2 sau công nguyên) Nhiều trường phái nhưng trong y học thấy có ảnh hưởng của phương Đông như quan niệm của ngũ hành của Trung Quốc, luân hồi của Ân Độ, sinh khí của Ai Cập
— Trường phái Pythagoras (580-498 trước công nguyên)
thừa nhận có bốn yếu tố: “đất, khí, lửa, nước” tương ứng với bốn tính “khô, ẩm, nóng và lạnh” Bệnh là khi có sự mất cân bằng
giữa chúng
— Học thuyết Hypocratus (460-377 trước công nguyên)
cho rằng chức năng cơ thể con người là do bốn chất dịch quyết
định: “máu đỏ do tim tiết ra, biểu hiện tình trạng nóng; máu đen
từ lách tương ứng với ẩm, mật vàng ở gan biểu hiện tình trạng
khô và niêm dịch ở não tượng trưng cho tính lạnh” Bệnh là sự
Trang 38mất cân bằng của các dịch Nguyên lý trị bệnh là phục hồi sự
cân bằng, bằng cách dùng các loại thuốc có đặc tính của dịch
Hyppocratus được coi là “Người cha của y học” đã tách y
học khỏi triết học duy tâm, thần bí
Từ đầu thế kỷ XX:
Sinh học đã ảnh hưởng đến y học với ba hướng nguyên
nhân bệnh: tâm thần, cơ học và hóa học
Về bệnh tâm thần có hai học thuyết chính:
Freud (1856-1939) Trong cuộc sống có ý thức của chúng
ta, có nhiều ý nghĩa và động lực thúc đẩy được nảy nở từ tiềm
thức mà ra Điều quan trọng là nhiều ý nghĩa và ham muốn về ý
thức đã bị đẩy xuống tiểm thức không được trở thành ý thức Cái
tiểm thức đó luôn tổn tại, luôn có lực sống đồi dào”
FEreud gọi lực sống đó là “Libido”, đặc biệt rất mạnh đối
với những bản năng cơ bản của con người Ví dụ, bản năng “tình
dục” Vì không được thoát ra mà bị đồn nén cho nên có những
biểu hiện tâm thần như: nói không suy nghĩ, mộng mị, hoang
tưởng, suy nhược, hystérie Như vậy: bệnh là sản phẩm của sự
chèn ép ý thức lên tiềm thức, của một xung đột tâm lý
Cách chữa bệnh là giải phóng tiểm thức bị chèn ép bằng
phương pháp phân tích tâm thần—-phân tâm học
FEreud quan niệm: Bản năng như là một cơ chế nhằm thỏa
mãn một nhu cầu và do các kích thích bên trong gây ra
Nguyên lý dục vọng (ham muốn) sẽ là động lực chỉ huy mọi hoạt động về phương diện tâm lý, chừng nào môi trường
xung quanh không chống lại được
Mọi động lực cơ bản được quy về hai loại bản năng cơ bản: + Bản năng sống, sáng tạo: Chỉ huy mọi hoạt động nhằm đảm bảo sự sinh tổn của con người, kể cả việc duy trì nồi giống
(EROS)
+ Bản năng chết: ngược lại, phá hoại mọi hoạt động sống
(THANATOS) Hai bản năng luôn đối lập, cạnh tranh nhau
Pavlov và trường phái thần kinh: Quan niệm nội môi và ngoại cảnh là thống nhất mà hoạt động thần kinh cấp cao đóng vai trò quyết định khả năng thích ứng của cơ thể (nội môi) đối
với môi trường ngoài luôn luôn biến đổi
Sự kết hợp chặt chẽ giữa vỏ não và các bộ phận phía dưới,
sự kết hợp giữa hệ thống tín hiệu I và II, giữa cơ chế hưng phấn
và ức chế, giữa thần kinh và dịch thể có tác dụng điều hòa chính xác và kịp thời mọi hoạt động con người, đảm bảo sự thống nhất
giữa nội môi và ngoại cảnh
Trường phái này cho rằng bệnh là do rối loạn hoạt động phan xạ của hệ thần kinh Rối loạn trong mối quan hệ giữa các
bộ phận khác nhau của hệ thần kinh là cơ chế phát sinh bệnh Sai lầm của thần kinh luận là ở chỗ:
— Suy điễn rằng phản xạ bệnh lý (rối loạn chức năng) là cơ
sở duy nhất của sự phát sinh bệnh
Trang 39— Thái độ tuyệt đối hóa vai trò của vỏ não là phiến diện vì
như thế là đã hạn chế rất nhiều các hướng nghiên cứu bệnh như
hóa học, cơ học về bệnh
Ngày nay khoa học đã phát hiện nhiều bộ phận ngoài vỏ
não có vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động thần kinh cấp
cao như hệ lưới, hệ limbic (viền)
Còn nhiều quan điểm khác nhau về bệnh nhưng tựu trung
có một quan điểm được phổ biến rộng rãi là:
Bệnh là một trạng thái cân bằng mới, do có một số yếu tố
mới gọi là yếu tố gây bệnh Trạng thái này không bền vững
Khi lâm bệnh không có nghĩa là khả năng thích nghi đã hết
mà cơ thể vẫn luôn tìm cách trở về hằng định cũ
+ Lành và bệnh, sống và chết: là hai mặt của sinh học
+ Luôn có hoại tử và luôn có tăng sinh
Bệnh hạn chế khẩ năng lao động Cần dé cao phòng bệnh,
ngay cả bệnh nhẹ nhưng dễ lan rộng trong cộng đồng
3.2.1 Quá trình bệnh lý
Có nhiều hiện tượng bệnh lý khác nhau, dễ lâm lẫn, có thể
phân biệt như sau:
+ Phản ứng bệnh lý: là phần ứng của tế bào, của các tổ
chức trong cơ thể đối với tác nhân gây bệnh mà cường độ và chất
lượng vượt khỏi giới hạn chống chịu
+ Quá trình bệnh lý: là phức hợp gồm nhiều phản ứng bệnh
lý đang diễn biến
+ Trạng thái bệnh lý: là quá trình bệnh lý diễn biến chậm,
kéo đài, có khi trở thành có tật
+ Quá trình tử vong: Chết là giai đoạn cuối cùng của cuộc sống Bản thân sự chết ban đầu là do rối loạn tương hỗ của nhiều chức phận, nhiều phản ứng hoá học, đặc biệt là đồng hóa va di
hóa
Quá trình sống được bảo đảm và điều hòa bởi hệ thần kinh trung ương, cho nên cái chết gắn bó chặt với chức năng hệ thần kinh Tổ chức hệ than kinh càng cao thì bộ phận thần kinh cao cấp-vỏ não chết trước rồi mới đến các phần não phía dưới não
còn đài ra, một vài bộ phận vẫn có thể tổn tại ngoài môi trường
cơ thể trong một thời gian ngắn
+ Hấp hối: là giai đoạn được y học nghiên cứu rất kỹ nhằm
mục đích tăng cường khả năng hồi sinh, thường dién ra qua các
giai đoạn ngắn:
— Giai đoạn ngưng: Tim và hoạt động hô hấp ngưng tạm thời, khoảng 30-100 giây, mất phản xạ mắt, đồng tử mở rộng, các hoạt động khác rối loạn
Trang 40— Giai đoạn hấp hối: Con người cố phấn đấu cưỡng lại cái
chết Có thể xuất hiện lại hiện tượng hô hấp nhưng theo kiểu thở
chu kỳ-gọi là thở cá, tim đập lại nhưng rất yếu, phản xạ được
lập lại, người bệnh có thể hồi nh lại từ vài phút đến nửa giờ có
cơ may sống lại
+ Chết lâm sàng: Phối ngưng, tim ngưng, thần kinh trung
ương hòan toàn bị ức chế, kéo dai 5— 10 phút tùy thuộc vào: Tuổi
trẻ, có thể kéo dài hơn Nhiệt độ môi trường thấp sẽ kéo dài hơn
Tính chất của tử vong: Chết đột ngột kéo đài hơn Thời gian hấp
hối yếu thì chết lâm sàng dài Chết sinh vật là mất hoàn toàn khả
năng hồi phục Tim, phổi nếu được hồi phục nhưng hệ thần kinh
không hồi phục được thì vẫn chết
Mội số bộ phận có thể sống lâu, chưa bị hoại tử ngay như
tim được tới 90 giờ, máu 5—6 giờ, da sau 3 ngày Nhờ khả năng
này mà người ta có thể kịp sử dụng một số mô tạng để ghép cho
người cần thay thế
3.2.2 Các nguyên nhân gây bệnh
3.2.2.1.Bệnh do rối loạn sinh học
Biểu hiện của bệnh cũng như nguyên nhân đưa tới các
bệnh là rất khác nhau và tùy thuộc vào rất nhiều điều kiện sinh
thái môi trường Trên quan điểm sinh thái người ta lại phân biệt
hai nhóm nguyên nhân:
+ Nhóm có nguyên nhân chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện
thiên nhiên (còn gọi là bệnh phong thổ) và môi trường xã hội
(yếu tố dinh dưỡng) Loại bệnh này thường không do vi khuẩn
truyền bệnh và không lây nhiễm nhưng nhiều khi có liên quan mật thiết với yếu tố đi truyền ví dụ:
- Bệnh xơ gan rất phổ biến ở Châu Phi do thức ăn quyết định, quá dư thừa tỉnh bột, thiếu protit động vật
- Bệnh huyết áp cao phổ biến ở tuổi già do ảnh hưởng của
dinh dưỡng và lao động
- Bệnh tiểu đường lại có yếu tố đi truyền khi tân suất
bệnh ở bà con dòng họ cao hơn người bình thường khác Tiểu
đường còn được biết là bệnh do một gen lặn với tần suất khoảng
20 - 25% trong dân cư
— Bệnh viêm tá tràng thường gặp người có nhóm máu ©O
— Bệnh ung thư dạ đày có tỷ lệ cao hơn ở nhóm mau A + Nhóm bệnh khác có nguyên nhân trực tiếp là sự nhiễm
khuẩn trực tiếp hoặc qua trung gian Con người khi sử dụng tài
nguyên thiên nhiên (phá rừng, lấp hồ ao, săn đuổi thú vật ) đã tranh chấp môi trường sống với sinh giới và đã vô tình hay hữu ý tiêu điệt nhiều chủng loại động vật có ích, tác động xấu đến cân bằng sinh thái đồng thời tiếp xúc với nhiều sinh thể có khả năng gây bệnh (sâu bọ, gặm nhấm, virus, nấm ) kể cả những vật
sống ký sinh trong nhà, trong thức ăn uống, thậm chí ngay trên cơ thể (chí, rận ) chúng sinh sản, phát triển trong những điều kiện
vật lý, hóa học, sinh học nhất định Ví dụ:
- Bệnh ghẻ cóc — do vi khuẩn, liên quan chặt chẽ với khí hậu nóng ẩm: 80% phân bố bệnh ở vùng đất có nhiệt độ trung bình hàng năm 27°C, lượng mưa trên dưới 1500mm