1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CÁCH DÙNG CHỮ "CHI" 之 TRONG TIẾNG HÁN - TRUNG

32 5,7K 69
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 445,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đi vào nghiên cứu lĩnh vực ngôn ngữ của một dân tộc nào đó, nhất là để chuyển ngữ từ ngôn ngữ của dân tộc này sang ngôn ngữ của một dân tộc khác thì nhất thiết không thể thiếu được vă

Trang 1

1 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

Để đi vào nghiên cứu lĩnh vực ngôn ngữ của một dân tộc nào đó, nhất là để

chuyển ngữ từ ngôn ngữ của dân tộc này sang ngôn ngữ của một dân tộc khác thì nhất thiết không thể thiếu được văn phạm, hoặc ngữ pháp Bởi lẽ, nó là công

cụ sử dụng, là cốt yếu để nối kết, kết cấu tạo thành câu cú, ngữ nghĩa trong ngôn ngữ cũng như trong văn chương Với tầm quan trọng ấy, người sử dụng ngôn ngữ trong đời sống xã hội hay những nhà chuyên nghiên cứu về ngôn ngữ đều phải lấy văn phạm làm cơ sở để xây dựng nền tảng trong giao tiếp cũng như trong nghiên cứu khoa học

Phạm Tất Đắc cũng đã nói: “ Văn pháp rất can hệ, cần phải học Muốn xây cất một căn nhà, không phải chỉ cần thâu nhặt cho nhiều vật liệu (vôi, gạch, cát, cây…) rồi chồng chất bừa bãi mà được Phải có bàn tay của người thợ dùng quy

củ mực thước mới tạo nên Văn pháp là tất cả quy củ mực thước cần thiết để sử dụng một tiếng nói Đối với người mới học, muốn tiến vào địa hạt của một ngôn ngữ, văn pháp lại vô cùng cần thiết, vì nó là cái chìa khoá mở cửa ngõ cho ta chập chững rồi lân la tiến bước đặt chân vào văn uyển.” [5,9]

Các ngoại ngữ đang thịnh hành trên thế giới thì rất nhiều người quan tâm đến, bởi vì nó có liên quan rất lớn mang tính quyết định trong đời sống của họ, như Anh ngữ, Pháp ngữ, Hoa ngữ v.v… Còn một số tiếng là tử ngữ, cụ thể như Hán

Trang 2

Quốc nhất là giới trẻ cũng không am hiểu cho lắm về ngữ pháp Hán cổ Nhưng thật ra nó rất quan trọng, bởi nó là một kho tàng tư liệu văn học, những lời thánh hiền vẫn còn ẩn chứa trong tiếng Hán này

Nếu có khả năng đọc hiểu được chữ Hán là phục vụ cho việc mở rộng và nâng cao chất lượng nghiên cứu trên các lãnh vực như sử học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học, văn học nghệ thuật… đồng thời giúp đọc hiểu được những tác phẩm do người Trung Quốc biên soạn, một kho tài liệu quan trọng vốn đã trở thành di sản to lớn của loài người

2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Chữ Hán là loại chữ khó học vì mỗi chữ có thể một nghĩa, hai nghĩa hoặc có thể nhiều nghĩa hơn, nhưng để hiểu được chức năng của chúng trong câu mà dịch cho đúng nghĩa, phù hợp với văn cảnh lại càng khó hơn Có nhiều trường hợp khi nhìn vào câu văn chữ Hán rõ ràng là biết mặt chữ và nghĩa của chúng nhưng khi dịch thì không dịch được Như thế mới thấy được tầm quan trọng của văn phạm Những từ, ngữ chỉ là những “vật liệu” để xây dựng văn bản, nhưng đòi hỏi phải có “bàn tay của người thợ dùng quy củ mực thước” mới tạo nên được công trình Để làm rõ vấn đề ngữ pháp của chữ Hán, các nhà ngữ pháp đã căn cứ vào ý nghĩa khái quát của từ, chia chúng làm hai loại lớn đó là thực từ và hư từ Trong văn ngôn, hư từ chiếm vị trí rất quan trọng và có nhiều năng lực về mặt ngữ pháp, mang ý ngữ pháp rõ nét hơn nghĩa từ vị

Rất nhiều từ trong văn ngôn khi thì dùng với tư cách là thực từ, khi thì dùng với

tư cách là hư từ Vì vậy, giải thích ý nghĩa ngữ pháp cho các hư từ văn ngôn trong những trường hợp sử dụng rất đa dạng của chúng cũng là một trong những đặc điểm và nội dung chủ yếu của môn ngữ pháp văn ngôn

Ở đây người thực hiện luận văn muốn nhờ vào quá trình tìm tòi, nghiên cứu, thực hiện công trình nhỏ bé này mà học hỏi thêm đôi điều về chức năng của hư

từ trong tiếng Hán cổ dưới sự hướng dẫn của giáo sư Nguyễn Khuê chuyên dạy

về Hán ngữ Vì vậy mà người viết luận văn chọn đề tài này để nghiên cứu

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Ngữ pháp là toàn bộ những quy tắc về từ và cách dùng từ để sắp xếp thành câu văn hay lời nói Nếu không am hiểu ngữ pháp thì không thể nói đúng, dịch đúng hay đọc hiểu Hán ngữ một cách thấu đáo và chuẩn xác Tuy nhiên, trong phạm

vi luận văn này người viết chỉ nghiên cứu một phần nhỏ của hư từ, nên không thể gọi chung là ngữ pháp mà chỉ là một số hư từ đã được học qua Với tài liệu nghiên cứu vô cùng hiếm hoi, ít ỏi nên tôi chỉ tìm vài cuốn sách đã được xuất bản kết hợp với bài giảng của giáo sư trong bốn năm học để tạo thành tập luận văn này

Đây là bước đi khởi đầu cho cuộc hành trình thâm nhập vào kho tàng Thánh điển của Đạo Phật cũng như các bậc cổ Đức, người viết mong được đón nhận sự

ưu ái chỉ giáo của chư Tôn Đức và quí vị thiện hữu tri thức để vững tin trên đường thực hiện lý tưởng

Trang 3

B NỘI DUNG

CHƯƠNG I: PHÂN BIỆT HƯ TỪ VÀ THỰC TỪ

Đề cập đến ngữ pháp Hán ngữ thì mọi người đều thấy rằng các nhà ngữ pháp học Trung Quốc xưa nay thường không thống nhất nhau trong cách trình bày, dẫn đến tình trạng cũng không có sự nhất trí nhau về nội dung các khái niệm hoặc thuật ngữ Các nhà ngữ pháp thường căn cứ vào ý nghĩa khái quát của từ,

mà chia từ Hán làm hai loại lớn, thực từ và hư từ Ở đây người viết chỉ đề cập đến một số hư từ, tuy nhiên cần phải xem các nhà ngữ pháp học đã quan niệm như thế nào về thực từ và hư từ

Thông thường thì việc phân loại thực từ nên lấy chủng loại khái niệm làm căn

cứ, còn đối với việc phân loại hư từ thì nên căn cứ vào chức vụ cụ thể của hư từ

đó trong câu Phàm những từ nào bản thân nó có thể biểu thị một loại khái niệm

là thực từ Nếu bản thân nó không thể biểu thị một khái niệm mà chỉ làm công

cụ kết cấu ngữ ngôn thì đó là hư từ

Trong sách Mã Thị Văn Thông, Mã Kiến Trung có viết: “Phàm những chữ có sự

lý, có thể giải được gọi là thực từ Không giải được mà chỉ dùng để bổ sung tình thái cho thực từ, gọi là hư từ.”[7,6]

Mã Kiến Trung chia thực từ ra làm năm loại là: Danh từ, đại từ, động từ, tính từ, trạng từ và chia hư từ ra làm bốn loại là: Giới từ, liên từ, trợ từ và thán từ

Theo Trần Văn Chánh thì hiện nay đa số chia ra thành mười một loại từ trong đó

có sáu thực từ là: Danh từ, đại từ, động từ, hình dung từ, số từ và lượng từ; Hư

từ gồm năm loại là: Phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ, tượng thanh từ

Đó là một số nhà ngữ pháp đã chia từ Hán vào những phạm trù mà họ đã chia Cho dù chia như thế nào đi nữa nhưng khi vận dụng cần sự chính xác về nghĩa chứ không nên vướn bận vào tên gọi của chúng Bởi vì, rất nhiều từ trong văn ngôn khi thì dùng với tư cách là thực từ, khi thì dùng với tư cách là hư từ

Sau đây là tầm quan trọng của hư từ

Trong văn ngôn, hư từ chiếm vị trí rất quan trọng và có nhiều chức năng về mặt ngữ pháp, mang ý nghĩa ngữ pháp rõ nét hơn nghĩa từ vị Vì vậy, giải thích ý nghĩa ngữ pháp cho các hư từ văn ngôn trong những trường hợp sử dụng rất đa dạng của chúng cũng là một trong những đặc điểm và nội dung chủ yếu của môn ngữ pháp văn ngôn

Hư từ là lớp từ công cụ ngữ pháp mà nếu không hiểu rõ được thì chúng ta khó đọc hiểu và dịch được các văn bản Hán ngữ thể hiện dưới mọi phong cách dạng thể từ cổ đại đến cận đại và cả hiện đại

Hư từ là những từ không biểu thị ý nghiõa thực tại Tác dụng chủ yếu của hư từ

là biểu thị quan hệ ngữ pháp, là phương tiện quan trọng giúp thực từ tổ hợp

Trang 4

thành ngữ hoặc câu Hư từ không thể làm thành phần câu, không thể một mình tạo thành câu

CHƯƠNG II: CÁCH DÙNG MỘT SỐ HƯ TỪ CHỦ YẾU

Ngã nhị thập ngũ niên hĩ, hựu như thị nhi giá, tắc tựu mộc yên

Tôi đã hai mươi lăm tuổi rồi, mà lại đến hai mươi lăm năm nữa mới cải giá, thì

Nhân phú nhi nhân nghĩa phụ yên

Người ta có giàu thì nhân nghĩa phụ vào đó

面目美好者, 焉故必知哉? [7,186]

Diện mục mỹ hảo giả, yên cố tất tri tai?

Kẻ có mặt mày đẹp vì sao tất phải là người trí?

1.3 焉: Phó từ

Có thể xem như là phó từ nghi vấn, thường đứng trước động từ làm trạng ngữ tu sức cho động từ đó Dịch nghĩa là“làm sao, đâu,…”

未知生, 焉知死? [7,387]

Vị tri sinh, yên tri tử?

Sự sống còn chưa biết, làm sao biết được sự chết

1.4 焉: Liên từ

Liên từ 焉 dùng để nối hai mệnh đề độc lập liên hệ về nhân quả Dịch nghĩa là

“mới, thì mới, …”

必知亂之所自起, 焉能治之.[7,387]

Tất tri loạn chi sở tự khởi, yên năng trị chi

Phải biết rõ nguồn gốc sinh ra loạn lạc thì mới có thể trị được

2 之

Trang 5

之 là một hư từ khá phức tạp, nó có nhiều thể dạng, nhiều nghĩa và nhiều công dụng khác nhau Những chức năng thường gặp như sau:

Kim khả dĩ nhất độ nhi hoành cụ tứ độ hiển chi

Nay có thể lấy một cõi mà có thể ngang dọc bốn cõi để nêu rõ

我皆令入無餘涅槃而滅度之.[21,159]

Ngã giai linh nhập vô dư Niết Bàn nhi diệt đôỉ chi

Ta đều điệt độ mà nhập vô dư Niết Bàn

- Đứng sau động từ làm tân ngữ thay cho tân ngữ ngoại vị

淵深而魚生之,山深而獸往之 [7,41]

Uyên thâm nhi ngư sanh chi, sơn thâm nhi thú vãng chi

Vực có sâu thì cá mới sinh ra, núi có thẳm thì thú vật mới đến

此故事我嘗聞之.[12,334]

Thử cố sự ngã thường văn chi

Chuyện cổ ấy tôi đã từng nghe

- Đứng trước động từ nếu động từ có phủ định từ bổ nghĩa

病菌甚微人不之見

Bệnh khuẩn thậm vi nhân bất chi kiến

Nấm gây bệnh rất nhỏ, người ta không thấy nó được

- Thay thế cho điều sẽ nói ở sau

寡人聞之: 哀樂失時殃咎必至.[7,41]

Quả nhân văn chi: Ai lạc thất thời ương cữu tất chí

Quả nhân nghe rằng: vui buồn không phải lúc thì việchoạ hoạn ắt phải đến 寡人聞之: 毛羽不豊滿者, 不可以高飛.[2,124]

Quả nhân văn chi: Mao vũ bất phong mãn giả, bất khae dĩ cao phi

Quả nhân nghe rằng: Con chim mà lông cánh chưa đầy đủ thì không thể bay cao được

- Đứng sau động từ, dùng để chỉ nơi chốn, có nghĩa “ở đó”

請京使居之

Thỉnh Kinh sử cư chi

Xin ấp Kinh cho ở đó

- Đứng giữa hai động từ, làm tân ngữ cho động từ trước và làm chủ ngữ cho động từ sau 之 đóng vai trò kiêm ngữ trong câu

呼之起

Hô chi khởi

Gọi nó dậy

2.2 之: Giới từ

Trang 6

Thường dùng để nối gia từ và đoan từ tào thành từ tổ, từ tổ này mang tính danh

Nhược thị kinh điển sở tại chi xứ, tức vi hữu phật

Nếu kinh điển này ở tại chỗ nào, thì chỗ đó có đức Phật

- Biểu thị tính cách.(làm chủ ngữ, tân ngữ, vị ngữ) Trong trường hợp này không dịch Có cấu trúc là:

名詞 / 形容詞/動詞 + 之 + 名詞

便生福德智慧之男.[23,14]

Tiện sanh phước đức trí tuệ chi nam

Liền sanh con trai phước đức trí tuệ

不才之人 [12,16]

Bất tài chi nhân

Người bất tài

Đứng giữa chủ ngữ và vị ngữ để thủ tiêu tính độc lập của câu, để tạo thành một

từ tổ có thể làm tân ngữ cho một động từ, hoặc đóng vai trò chủ ngữ trong câu

Có cấu trúc là:

主語 + 之 + 謂  祖合式詞結

* 主語 + 之 + 謂 có chức năng làm tân ngữ cho một động từ

道德不充乎身 Đạo đức không đủ nơi thân

學者患道德之不充乎身 Người học đạo hãy lo đạo đức không đủ nơi thân

“道德不充乎身” tức là một câu hoàn chỉnh Khi thêm 之 thì đã phá vỡ tính độc lập của câu tạo thành hình thức của một tổ hợp thức từ kết Và tổ hợp thức

từ kết 道德之不充乎身 làm tân ngữ cho động từ 患

魚樂 Cá vui

子非魚,安知魚之樂 Ông không phải cá, làm sao biết được cá vui

“魚樂” là câu đã hoàn chỉnh, khi thêm 之 vào thì trở thành một tổ hợp thức từ kết làm tân ngữ cho động từ 知

* 主語 + 之 + 謂 có chức năng làm chủ ngữ cho câu

吳王無道也.Vua nước Ngô không có đạo đức

吳王之無道也,子之所見也,諸侯之所知也

Cái vô đạo đức của nước Ngô là điều ông trông thấy, là điều các chư hầu điều biết

Trang 7

“吳王無道也” là câu đã hoàn chỉnh, khi thêm chi vào thì trở thành tổ hợp thức từ kết làm chủ ngữ cho cả câu

2.3 之: Trợ từ ngữ khí

Thường là tiếng đệm, không có nghĩa, thường đi sau một từ hoặc ở cuối câu biểu thị sự định đốn thường thì không dịch

鸛之鵒之.[5,134]

Quán chi dục chi

Chim quán chim dục

古之: Thời xưa

人之視己如見其肺肝然

Nhân chi thị kỷ như kiến kỳ phế can nhiên

Người ta nhìn mình như thấy được gan phổi vậy

2.4 之: Liên từ

- Dùng để nối hai từ hoặc hai mệnh đề cùng loại, dịch là “và”

皇父之二子死焉.[7,41]

Hoàng phụ chi nhị tử tử yên

Hoàng phụ và hai người khác nữa chết ở đó

- Dùng làm trạng ngữ tu sức cho hình dung từ, động từ hoặc phó từ phía sau nó 故民無常處, 見利之聚, 無之去.[7,41]

Cố dân vô thường xứ, kiến lợi chi tụ, vô chi khứ

Cho nên dân không có chỗ ở nhất định, thấy có lợi thì tụ lại, không có lợi thì bỏ

Trang 8

Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đa Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát dữ như thị đẳng chư đại Bồ Tát

Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đa Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát và các vị đại Bồ Tát như thế

Dữ bằng hữu giao nhi bất tín hồ?

Kết giao với bạn bè mà không thành kín chăng?

與人方便 [7,504]

Dữ nhân phương tiện

Tiện cho mọi người

坐與上風 [7,504]

Toạ dữ thượng phong

Ngồi ở thượng phong

3.4 與: Phó từ

Thường đứng trước động từ, hình dung từ làm trạng ngữ tu sức cho động từ hoặc hình dung từ sau nó Dịch nghĩa là “đều, hoàn toàn,…”

天子之君子與謂之不祥者.[7,504]

Thiên tử chi quân tử dữ vị chi bất tường giả

Các bậc quân tử trong Thiên hạ đều cho họ là những kẻ không tốt

Thiên Tử an năng dĩ thiên hạ dữ nhân

Thiên Tử đâu có thể đem thiên hạ mà cho người

Trang 9

Tự tri giả bất oán nhân

Kẻ tự biết mình thì chẳng oán người

如來是真語者實語者不誑者不異語者.[21,189]

Như lai thị chơn ngữ giả, thật ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả

Như lai nói lời chân chánh, nói lời chắc thật, lời đúng đắn, lời không phỉnh phờ, lời không sai khác

4.2 者: Trợ từ:

- Thường dùng để ngắt hơi hoặc đệm sau câu; Đặt sau một vế câu để đề khởi ý ở phía sau cho trọn nghĩa

道者, 萬物之始

Đạo giả, vạn vật chi thuỷ

Đạo là khởi đầu của vạn vật

- Thường đứng sau phó từ chỉ thời gian

古者: Ngày xưa

今者: Ngày nay

昔者吾友嘗從事於斯矣

Tích giả ngô hữu thường tùng sự ư tư hĩ

Ngày xưa bạn ta từng làm được như vậy

一者為欲解釋如來根本之義.[20,22]

Nhất giả vị dục giải thích Như Lai căn bản chi nghĩa

Một là vì muốn giải thích nghĩa rõ ràng của từ Như Lai

Dùng trong câu phán đoán không có động từ, thường đứng giữa chủ ngữ và vị ngữ trong trường hợp này có thể không có giả

Theo cấu trúc là: 主語 + 者 + 謂語 + 也

山林者鳥獸之居也.[2,196]

Sơn lâm giả điểu thú chi cư giả

Núi rừng là chỗ ở của chim muông

Dùng trong câu phồn gồm hai câu nhỏ, câu nhỏ sau để giải thích điều nói ở câu nhỏ trước 者 đứng giữa hai câu nhỏ biểu thị sự tạm dừng của ngữ khí, chờ đợi

sự giải thích ở sau

Có cấu trúc là: 小句 1 + 者 +小句 2 + 也

客之美我者欲有求于我也.[2,197]

Khách chi mỹ ngã giả dục hữu cầu vu ngã dã

Khách mà khen ta đẹp là vì có điều muốn cầu xin ta

5 誰

Trang 10

5.1 誰: Đại từ nghi vấn:

Đại từ nghi vấn 誰 dùng để chỉ người, có thể đứng đầu câu, trong câu hoặc cuối câu, có thể làm chủ ngữ, tân ngữ hoặc định ngữ trong câu Dịch là “ai, người nào…”

- Đại từ nghi vấn 誰 dùng làm tân ngữ trong câu

Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử?

Đời người xưa nay ai lại không chết?

5.2 誰: Hình dung từ nghi vấn:

Hình dung từ nghi vấn 誰 thường đứng trước danh từ, bổ nghĩa cho danh từ đó Dịch nghĩa là “nào”

天下誰人不識君? [12,311]

Thiên hạ thuỳ nhân bất thức quân?

Trong thiên hạ người nào mà lại không biết ông?

Thị vị thị, phi vị phi viết trực

Điều phải thì bảo là phải, điều trái thì bảo là trái, đó là ngay thẳng

Thị bất vi, phi bất năng dã

Đó là không làm, chứ không phải là không làm được

若是經典所在之處,即為有佛 [21,179]

Nhược thị kinh điển sở tại chi xứ, tức vi hữu Phật

Nếu kinh điển này ở tại chỗ nào, thì chỗ đó có đức Phật

6.3 是: Động từ: Dịch nghĩa là “cho là phải, khen phải”

Trang 11

非我而當者,吾師也 是我而當者, 吾友也.[12,178]

Phi ngã nhi đáng giả, ngô sư dã Thị ngã nhi đáng giả, ngô hữu dã

Người chê ta mà chê đúng là thầy ta, người khen ta mà khen đúng là bạn ta

Như lai thị chơn ngữ giả, thật ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả

Như lai nói lời chân chánh, nói lời chắc thật, lời đúng đắn, lời không phỉnh phờ, lời không sai khác

6.5 是: Hình dung từ:

Thường đứng trước danh từ, và bổ nghĩa cho danh từ đó Có hai cách dùng:

- Chỉ thị hình dung từ, dịch nghĩa là “ấy, đó”

有是父然後有是子.[2,79]

Hữu thị phụ nhiên hậu hữu thị tử

Có cha ấy rồi mới có con ấy

- Tính thái hình dung từ, dịch nghĩa là “đúng, phải”

Thiên thị lãnh, liên hà thuỷ dã kết băng

Trời lạnh thật, ngay cả nước sông cũng đóng băng

Ngã bất thắng nhược, nhược bất ngô thắng

Ta không thắng ngươi, ngươi cũng thắng ta

若疾入趙壁

Nhược tật nhập Triệu bích

Các ngươi hãy mau tiến vào dinh luỹ của quân Triệu

7.2 若: Liên từ:

Trang 12

Dùng để nối kết các từ hoặc các cụm từ cùng loại với nhau, hoặc đứng đầu câu

để chỉ sự giả thiết Dịch nghĩa là “và, hoặc, nếu…”

有以私怨害城若吏事者父母妻子皆斷.[7,511]

Hữu dĩ tư oán hại thành nhược lại sự giả, phụ mẫu thê tử giai đoạn

Nếu có kẻ nào vì thù riêng mà làm hại thành trì cha mẹ vợ con kẻ đó đều phải bị

Nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật nhất tâm bất loạn kỳ nhân lâm chung,

A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng, hiện tại kỳ tiền thị nhân chung thời

Nếu có người thiện nam, người tín nữ nào nghe nói Phật A Di Đà rồi chuyên trì danh hiệu hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày một lòng không tạp loạn Thì người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng với Thánh chúng hiện thân

ở trước người đó

7.3 若: Phó từ:

Phó từ 若 đứng trước động từ, hình dung từ hay phó từ khác và làm trạng ngữ tu sức cho các động từ, hình dung từ hay phó từ đó Dịch nghĩa là “như, dường như, bao nhiêu…”

若無若有 [7,510]

Nhược vô nhược hữu

Như có như không

試若大小? [7,510]

Thí nhược đại tiểu

Thử xem lớn nhỏ bao nhiêu?

7.4 若: Trợ từ

Dùng làm ngữ vĩ cho hình dung từ hoặc phó từ

子文不應, 危坐自若.[7,512]

Tử Văn bất ứng, nguy toạ tự nhược

Tử Văn không đáp, cứ ngồi ngất ngưỡng tự nhiên

7.8 若: Hình dung từ

Hình dung tư ụ 若 đứng trước danh từ bổ nghĩa cho danh từ đó

君子哉若人! [7,511]

Quân tử tai nhược nhân

Người ấy thật quân tử

Trang 13

8 莫

8.1 莫: Đại từ phiếm chỉ:

Đại từ phiếm chỉ 莫 là một đại từ không chỉ rõ người nào hay vật gì, dịch nghĩa

là “không ai, không người nào, không việc gì” Có các cách dùng sau:

- 莫 đứng sau một danh từ hay một ngữ

Dưỡng tâm mạc thiện ư quả dục

Dưỡng tâm không gì tốt hơn ít ham muốn

五霸莫盛于桓文

Ngũ Bá mạc thịnh vu Hoàn Văn

Trong năm bậc Bá thì không ai mạnh hơn Hoàn Công và Văn Công

孝子之至莫大乎尊親

Hiếu tử chi chí mạc đại hồ tôn thân

Người con rất mực hiếu thảo không gì lớn hơn tôn kính cha mẹ

Trang 14

Nhĩ kỳ vơ vong nãi phụ chi chí

Ngươi chớ quên tâm chí của cha ngươi

Thất bại nãi thành cơng chi mẫu

Thất bại chính là mẹ của thành cơng

9.3 乃: Phĩ từ:

Phĩ từ 乃 thường đứng ở đầu vế câu sau, biểu thị sự việc này kế tiếp sự viêc khác, dịch nghĩa là “bởi vậy, nên, bèn, rồi, thế thì…”

景公知晏子賢, 乃任以國政.[7,31]

Cảnh Cơng tri Án Tử hiền, nãi nhiệm dĩ quốc chính

Vua Cảnh Cơng biêt Aùn Tử là người hiền, bèn giao cho việc quốc chính

世乃有無母之人, 天乎, 痛哉! [2,107]

Thế nãi hữu vơ mẫu chi nhân, thiên hồ, thống tai

Trên đời lại cĩ người khơng cĩ mẹ, trời ơi!đau đớn thay!

9.4 乃: Trợ từ:

Trợ từ 乃 thường ở đầu câu hoặc giữa câu giúp cho thanh vận được hài hồ 乃場乃疆乃積乃倉.[7,31]

Nãi dịch nãi cương nãi tích nãi thương

Sửa ruộng, chỉnh cương giới, tích lương thực, sửa kho chứa

9.5 乃: Hình dung từ sở hữu:

Hình dung từ sở hữu chỉ sự sở hữu, thường đứng trước danh từ chỉ quan hệ liên thuộc, dịch nghĩa là “của anh, của bạn …”

乃兄何日南行

Nãi huynh hà nhật nam hành

Anh của anh ngày nào đi vào Nam

9.6 乃: Liên từ, dịch nghĩa là “lại cịn, hay là, nếu…”

非獨政之能,乃其姊亦列女也

Phi độc chính chi năng, nãi kỳ tỷ diệc liệt nữ dã

Khơng chỉ nhiếp chính cĩ tài, mà chị của ơng ta cịn là một liệt nữ nữa

Trang 15

Đại từ 以 dùng để hỏi nguyên nhân của sự vật, sự việc hoặc hiện tượng mà mình muốn hỏi, dịch nghĩa là “như thế, vì sao, ở đâu”

Nhất thiết sự nghiệp vô bất dĩ học thuật vi cơ sở

Tất cả công việc không gì là không lấy học thuật làm nền tảng

Trang 16

Bỉ dĩ duyệt chúng xưng duy na

Các nước ấy gọi duyệt chúng là duy na

Nhân hữu thân thể cốt nhục, năng ẩm thực sinh tử, vật diệc nhiên

Con người có thân thể cốt nhục, có thể ăn uống sống chết, vật cũng vậy

人知立志修身, 他動物不然 [12,242]

Nhân tri lập chí tu thân, tha động vật bất nhiên

Con người biết lập chí tu thân, các động vật khác không như thế

12.2 然: Trợ từ:

Trợ từ 然 làm hậu tố cho hình dung từ hoặc phó từ để biểu thị trạng thái thể cách

- Bổ nghĩa cho danh từ, cấu trúc như sau:

名詞 + 形容詞 + 然

心神怡然 [2,257]

Tâm thần di nhiên

Tâm thần khoai khoái

- Bổ nghĩa cho động từ, cấu trúc như sau:

Ngày đăng: 25/10/2014, 19:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w