Giáo sư Phan Ngọc cung cấp thêm một bản dịch mà ông gọi là Đạo đức kinh dễ hiểu với mong muốn tác phẩm kỳ lạ này dễ dàng đến với bạn đọc rộng rãi hơn... Có một điều đáng chú ý là ở phươn
Trang 1Đạo đức kinh của Lão Tử là một trong những cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc
và nhân loại Ở Việt Nam đã có nhiều bản dịch kiệt tác này Giáo sư Phan Ngọc cung
cấp thêm một bản dịch mà ông gọi là Đạo đức kinh dễ hiểu với mong muốn tác phẩm kỳ
lạ này dễ dàng đến với bạn đọc rộng rãi hơn.
Lời giới thiệuChương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương
16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương
31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Chương 38Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương
46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương
61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chương 67 Chương 68Chương 69 Chương 70 Chương 71 Chương 72 Chương 73 Chương 74 Chương 75 Chương
76 Chương 77 Chương 78 Chương 79 Chương 80 Chương 81
Trang 2Có một tác phẩm mà đã là người biết Hán học không ai không đọc, không ai không phục,nhưng cách giải thích từng câu trong tác phẩm này lại rất khác nhau Trên hai nghìn năm naysách chú giải có hàng trăm, sách dịch ra tiếng nước ngoài cũng không ít hơn, nhưng vẫn
chưa có sự nhất trí về nội dung những câu mang tính chất triết học nhất Đó là quyển Đạo Đức Kinh, một tác phẩm kinh điển của văn hóa Trung Hoa, bên cạnh quyển Luận Ngữ, tác
phẩm kinh điển của Nho giáo Tôi gọi nó là sách kinh điển của văn hóa Trung Hoa vì Nhogiáo, Phật giáo, Pháp gia hay Đạo giáo đều vay mượn khá nhiều ở đấy, và chữ “Vô” làmnền tảng cho nó thuấn nhuần cả thi pháp, tự pháp, họa pháp, nhạc pháp, cách dinh dưỡng, yhọc, thậm chí cả ma thuật Cho nên việc hiểu nó là hết sức cần thiết
Có một điều đáng chú ý là ở phương Tây ảnh hưởng của Lão Tử là to lớn hơn ảnh
hưởng của Khổng Tử rất nhiều, số bản dịch ở Pháp theo Thu Giang trong Lão Tử, Đạo Đức Kinh là hơn 60 quyển và trong những bài giảng về triết học của Hegel, Lão Tử được đánh
giá rất cao, nhưng Khổng Tử không được xem là nhà triết học Ở Việt Nam trừ GS CaoXuân Huy ra, tôi thấy ảnh hưởng của Lão Tử trong tư tưởng, triết học, văn học không rõ cholắm Trái lại, ảnh hưởng Trang Tử lại rất lớn và không một nhà Nho Việt Nam nào lạikhông chịu đôi chút ảnh hưởng Trang Tử Theo tôi, điều này một phần do các sách chú giải
đã thần bí hóa tác phẩm, mà các nhà Nho Việt Nam tuy đều thuộc Đạo Đức Kinh, vì sách
này rất mỏng chỉ có 5000 chữ, nhưng đều xa lạ với cách nhìn khách quan, lạnh lùng của tácgiả
Là người mê bách gia chư tử năm 18 tuổi, tôi đã đọc Đạo Đức Kinh hàng chục lần,
nhưng chỉ hiểu được một nửa, cái nửa có thể nói, ai cũng hiểu như nhau Còn về nửa kia, dù
tôi có đọc đủ mọi bản Đạo Đức Kinh mà tôi tìm được với những chú giải của Vương Bật,
Trần Tụ, Cao Hanh… nếu như ở chỗ này tôi có hiểu rõ hơn, thì ở chỗ khác tôi lại thấykhông chấp nhận được Tự kiểm điểm mình, tôi thấy tôi là anh chàng duy lý, cho nên bất kỳcách giải thích nào nghe ra huyền bí tôi đều thấy chối Tôi ngờ rằng cách giải thích khôngkhỏi chịu ảnh hưởng của Đạo giáo, điều mà sau này thấy rất rõ khi nghiên cứu Đạo giáoTrung Hoa
Để giải quyết băn khoăn, tôi đọc các bản dịch ra một số ngôn ngữ phương Tây mà tôiquen Tôi vẫn thấy mình không hài lòng Người thì biến ông ta thành một người báo trướcThiên chúa giáo, người thì chuyển ông ta thành nhà triết học trực giác luận, người mượn ông
ta để bênh vực thần bí luận Ngay bản dịch gần đây nhất, năm 1995, do Giáp Văn Cường
dịch, Trần Kiết Hùng hiệu đính, vẫn mang một tên gọi tiêu biểu Lão Tử, Đạo Đức huyền bí.
Vào khoảng năm 1951, nhờ anh Trần Đức Thảo, tôi học triết học cổ điển và hiện đạicủa Đức Tôi bắt đầu hiểu Đạo Đức Kinh một cách khác Nhờ có học ngôn ngữ học tôi nhận
Trang 3hình như: vô vi, huyền tẫn, cốc thần, huyền đức, thiên môn, thường vô, thường hữu… Đồngthời, người ta có xu hướng hiểu cách diễn đạt theo lối ẩn dụ, nói chuyện bóng gió Điều này
một phần do chỗ các học giả có xu hướng giải thích Đạo Đức Kinh theo Nam Hoa Kinh của
Trang Tử nhưng đọc kỹ Trang Tử, tôi lại thấy Trang Tử là người duy tâm chủ quan Mặtkhác, tôi thấy các sách triết học Tiên Tần rất ít đặt ra những từ kép có nội dung triết học, cố
nhiên trừ Trang Tử Như vậy, nếu như Đạo Đức Kinh là một tác phẩm thời Chiến Quốc và
chắc chắn là trước tác phẩm của Trang Tử thì khó lòng Trang Tử hóa được tác phẩm được.Tôi lại giải mã tác phẩm theo quan điểm tách mọi từ kép kia thành những từ đơn, rồigiải thích theo nghĩa đen, không chấp nhận nghĩa bóng Nói khác đi, tôi đọc với đôi mắt củatrẻ thơ như tác giả yêu cầu Cuối cùng tôi trở về cái nguyên mộc chưa bị đẽo gọt và công bố
bản Đạo Đức Kinh dễ hiểu mà các bạn đang đọc.
Trong bản dịch này, mọi từ do Lão Tử sáng tạo đều bị tách ra, hiểu theo nghĩa mộc Sở
dĩ tôi giữ từ “Vô vi”, chẳng qua từ này quá thông dụng, nếu đổi sẽ bị phản ứng Còn nộidung của “Vô vi” là làm theo cái Vô Cái Vô đây theo cách lý giải của tác giả đồng thời làcái đạo tự nhiên, cái đạo với chữ Đ hoa, cũng không có gì là huyền bí Nó không có nghĩa làlàm không bị ham muốn riêng lôi cuốn mà là làm theo cái tự nhiên trong trời đất và tronglòng người Chính vì làm theo “Vô vi” mà khiến mọi người làm vì chính vì như họ yêu cầu,
do đó mình không nhọc sức mà không có gì không làm được Cách này không khác cách nóiquen thuộc của ta “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng xong” là baonhiêu
Trong bản dịch này, mỗi chương đều có phần phiên âm chữ Hán được sao lại theonhững bản có uy tín nhất, sau đó có phần dịch rất sát để bạn đọc tự kiểm tra Tự thân bạnđọc sẽ thấy câu nào cũng sâu sắc, cũng hay và sẽ hiểu tại sao tác phẩm này lôi cuốn người
ta đến như thế Cũng chính để chứng minh điều ấy, nên tôi cố tình không thêm chú thích nàohết Điều chứng minh quả táo tồn tại là tôi ăn nó Đưa thêm chú giải nào có khó gì, nhưngviệc gì phải làm chuyện rắc rối? Nếu như tác giả có gan viết một tác phẩm triết học bằngmột ngôn ngữ mộc mạc nhất ta có thể hình dung được, vậy cớ gì tôi lại biến ông ta thành conngười nói không ai hiểu, nếu không có những chú thích dài dòng? Tôi chỉ thêm ngoặc đơn làphần có trong bản dịch nhưng không có trong nguyên bản để đọc cho xuôi, và một vài chữtrong ngoặc chéo để chú thích, hoặc là do nghĩa của từ quá đặc biệt, hoặc vì thực tế có thể
xa lạ với chúng ta
Bây giờ tôi thử dùng ngôn ngữ học chứng minh tại sao tác phẩm này lại khó dịch đếnthế Nó khó dịch không phải vì tư tưởng khó hiểu mà vì tác giả là người đầu tiên ở TrungHoa đã thực hiện một hành động cực kỳ táo bạo là tư biện triết học bằng một ngôn ngữ đơn
Trang 4Tiếng Hán ở thời tác giả cũng đại khái như tiếng Việt trước khi tiếp xúc với tiếng Pháp.Một sự kết hợp như “anh em” có thể có bảy nghĩa khác nhau Nếu là danh từ kép thì nó sẽ
có nghĩa tương đương với “các bạn”, tức là một danh từ tập thể; nếu là một tính từ nó sẽ cónghĩa tương đương với “thân mật”; nếu là động từ nó sẽ có nghĩa là “chơi bời thân thiết”.Một khi nó là hai danh từ tách biệt nhau nó sẽ có nghĩa là “anh của em”, “anh và em” Cònmột khi “em’ được xem như một đại từ nhân xưng thì nó lại có nghĩa là “anh của tôi”, “anhcủa mày” Giải thích cách nào cũng ổn Để tránh những hiểu lầm như vậy trong tiếng Việthiện đại, chúng ta “dán nhãn” cho sự kết hợp này bằng cách thêm những yếu tố ngữ pháp đểxóa bỏ mọi sự hiểu lầm: “các anh em, rất anh em, vẫn anh em, anh của em, anh và em, anhcủa tôi, anh của mày” Đây là một quá trình tự phát nhưng nhìn kỹ nó cũng là một biểu hiệncủa “Vô vi”, rất phù hợp với ham muốn của mọi người để đạt đến một ngôn ngữ trong sáng,chính xác, một nghĩa, cho nên được mọi người chấp nhận và thành quy tắc của tiếng Việthiện đại, điều mà các nhà thơ trước đây không hề làm Dĩ nhiên, tôi phải dịch không chỉ
Đạo Đức Kinh mà mọi tác phẩm Hán cổ bằng một tiếng Việt có “dán nhãn” như vậy Ngày còn trẻ, tôi có tham vọng dịch Bách gia chư tử thành tiếng Việt hiện đại, ai cũng hiểu.
Nhưng cái tham vọng ấy không được thực hiện vì không có kinh phí, dù ít nhất Tuy chủtrương dịch ra tiếng Việt hiện đại không được một số người tán thành, nhưng tôi không thayđổi ý kiến vì tôi thấy các sách dịch Hán văn của ta không lôi cuốn được bạn đọc như lẽ raphải như vậy Tuy số sách dịch khuynh hướng nhiều, nhưng từ Trương Vĩnh Ký đến nay,ngoài các tiểu thuyết ra, các sách lý luận vẫn không được bạn đọc chú ý Chính vì Hán cổquá gần tiếng Việt cho nên ta cứ muốn diễn đạt theo lối phục chế trong khi tâm thức chúng ta
đã Tây phương hóa rất nhiều và tiếng Việt đã mang một diện mạo về ngữ pháp không thểchối cãi được
Để làm cho một ngôn ngữ phi tư biện như tiếng Hán có thể diễn đạt một nội dung triếthọc, Lão Tử bắt buộc phải sử dụng những biện pháp dưới đây:
a) Cùng một khái niệm là Đạo, được gọi bằng nhiều biểu đạt khác nhau, khi muốnnhấn mạnh một khía cạnh cá biệt Do đó Đạo, Nhất, Cốc thần, Thực mẫu, Vô, Hữu… thaythế Đạo tùy theo nội dung từng câu muốn nhấn mạnh mặt nào đó của Đạo
b) Sử dụng một lối văn xuôi mới mà ông là người đầu tiên khởi xướng Đó là lối vớichia câu ra từng vế đối chọi nhau, các vế này chỉ khác nhau có một hai chữ, nhưng về cơbản là lặp lại của nhau, để mượn những chữ khác nhau này nêu bật cái mâu thuẫn trong tồntại là điều tác giả cảm nhận cực kỳ sâu sắc Chính cách diễn đạt này đã đã chuyển ngôn ngữtác phẩm thành ngôn ngữ của cách ngôn, tục ngữ, điều mà ta cũng thấy trong tục ngữ ViệtNam và Hán Nhờ hình thức đối chọi này, ý kiến trở thành một chân lý muôn thuở, rất hợp
Trang 5mà người đọc cảm nhận rất rõ Điều này cũng do tác giả khởi xướng.
d) Câu văn phải kỳ mới làm cho người ta nhớ, bởi vì một nội dung mới, lạ, cần cómột hình thức mới, lạ Ta thấy rất rõ điều này trong cách chấm câu Khi thì chấm câu chỉ sauhai chữ, thậm chí sau một chữ Câu văn nhờ vậy cực kỳ rắn rỏi Nhưng điểm này không phải
sáng tạo của tác giả Tả truyện đã mở đầu nhưng làm kín đáo Còn Lão Tử làm lộ liễu, gây
khó chịu, làm khổ các nhà chú giải, nhưng cũng chính cái khó ấy thu hút mọi người
Kinh nghiệm giải mã tục ngữ giúp tôi giải mã Đạo Đức Kinh Cũng như tục ngữ, từng
chữ một trong tác phẩm không có gì khó, nhưng câu thường rất lạ Tôi chỉ nêu hai trườnghợp mà cách chú giải và các bản dịch đều làm tôi khó hiểu
Thứ nhất, về cách chấm câu Trong chương 1 có câu: “Đồng vị chi huyền” sau khi nói
cái Vô và cái Hữu đều là một, các sách đều giải thích là “Cũng gọi là cái huyền diệu”.Nhưng tôi thấy vô lý Cái Vô đành là cái huyền diệu, nhưng cái Hữu thì có gì là huyền diệuđâu, tại sao lại bảo cái Hữu “cũng là cái huyền diệu” Nên chấm câu khác đi thành: “Đồng,
vị chi huyền” thì ý nghĩa triết học sẽ là: Cái đồng (thống nhất) ấy chính là cái huyền diệu.Nội dung triết học sẽ rất lớn và rất gần với quan điểm của Hegel trong Đại Logic khi khẳngđịnh “tính thống nhất của Tồn tại và Hư vô” Học Hegel, tôi thấy có thể xem Lão Tử làHegel của Trung Hoa
Thứ hai, về cách phân biệt từ loại Ta biết tiếng Hán cổ không “dán nhãn” cho từ loại,
cho nên một từ có thể hiểu là danh từ, tính từ hay động từ và cách giải thích sẽ hết sức khácnhau Trong chương 5 có hai câu: “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu; thánh nhân bấtnhân, dĩ bách tính vi sô cẩu”, các sách đều cho bất nhân là một tính từ kép và dịch là “Trờiđất bất nhân xem muôn vật là con chó rơm; thánh nhân bất nhân xem trăm họ là con chórơm” Nhưng như vậy là quan niệm trời đất tàn nhẫn và thánh nhân là tàn nhẫn, hoàn toàntrái ngược với nội dung của tác phẩm, bởi vì trong suốt tác phẩm ta thấy trời đất và thánhnhân rất quan tâm tới vạn vật và trăm họ Nếu tách đôi kết hợp này ra thành “bất” là
“chẳng” và xem “nhân” là động từ thì sẽ diễn đạt đúng tư tưởng của Lão Tử Trời đất chẳng
lo đến chữ nhân, xem muôn vật là con chó rơm; thánh nhân chẳng lo đến chữ nhân, xem trăm
họ là con chó rơm” Nói khác đi, trời đất và thánh nhân đều vô vi, làm theo tự nhiên, không
bị trói buộc bởi chữ nhân của người đời, nhưng trời đất vẫn sinh ra và nuôi dưỡng muôn vật
và thánh nhân luôn nghĩ đến hạnh phúc của trăm họ, có điều không làm theo cái kiểu thôthiển của chữ “nhân” Nho giáo mà thôi Lúc đó ta thấy học thuyết Lão Tử sâu sắc như thếnào
Có thuyết cho rằng Đạo Đức Kinh không phải do một người viết mà là tập hợp những
câu cách ngôn của nhiều người Theo quan điểm ngôn ngữ học, tác phẩm này không thể là
Trang 6có thể phản ánh những quan niệm chung của tầng lớp ẩn sĩ, nhưng chỉ có thể do một ngườiviết mới đạt đến trình độ thống nhất, chuẩn mực đến như thế.
Đạo Đức Kinh dễ hiểu dịch theo chủ trương của tôi trong “Mẹo dịch”, “Mẹo chính tả”,
“Mẹo giảng từ Hán - Việt”, “Mẹo giảng văn” vân vân Người viết phải chịu mọi vất vả đểcấp cho người đọc thao tác làm việc có kết quả
Trong việc dịch này tôi cảm ơn các bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hiến Lê, ThuGiang, Giáp Văn Cường mà tôi đều tham khảo với tinh thần “Hư tâm cầu học” Đó đều lànhững bản dịch tốt, biểu hiện một trình độ Hán học sâu và một công phu khảo cứu hết sứcnghiêm túc So với nhiều bản dịch tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga thì nó dễ
hiểu hơn Tôi chỉ giới thiệu cách dịch dễ hiểu cho nên gọi nó là Đạo Đức Kinh dễ hiểu, còn Đạo Đức Kinh chính nghĩa là chuyện của các thế hệ sau.
Cuối cùng, cho phép tôi tỏ lòng với hai bậc thầy đã khuất là bác Cao Xuân Huy, chuyêngia về Lão giáo và cha tôi, người đã dạy cho tôi chữ Hán, đồng thời cũng có những thắc
mắc gần với những thắc mắc của tôi khi giảng Đạo Đức Kinh Trong khi dịch tôi nghĩ rằng
dù bản dịch có thiếu sót, cha tôi và bác Huy sẽ vui lòng thấy tôi làm một việc có ích
Trang 8Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh Vô, danh thiên địa chithủy; Hữu, danh vạn vật chi mẫu Cố thường vô, dục dĩ quan kỳ diệu; thường hữu, dục dĩquan kỳ khiếu Thử lưỡng giả đồng xuất, nhi dị danh Đồng, vị chi huyền Huyền chi hựuhuyền, chúng diệu chi môn.
Trang 9Cái Đạo có thể dùng lời mà nói được chẳng phải là cái Đạo vĩnh viễn; cái tên có thểgọi tên được chẳng phải là cái tên vĩnh viễn Cái “Vô” là cái tên chỉ cái khởi thủy của trờiđất; cái “Hữu” là cái tên chỉ bà mẹ của muôn vật Cho nên (phải xem) Đạo là cái Vô vĩnhviễn nếu như ta muốn nhìn cái huyền diệu của Đạo, (lại phải xem) nó là cái Hữu vĩnh viễnnếu như ta muốn nhìn cái biểu hiện của nó Cả hai cái (mặt Vô và mặt Hữu) này cùng xuấthiện với nhau, mà tên gọi khác nhau Hiện tượng cùng xuất hiện này là cái huyền diệu Đó làcái huyền diệu của sự huyền diệu, cái cửa để bước vào mọi sự huyền diệu.
Trang 10Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ, tư ác dĩ Giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ CốHữu Vô tương sinh, nan dị tương thành; trường đoản tương hình; cao hạ tương khuynh; âmthanh tương hóa; tiền hậu tương tùy Thị dĩ thánh nhân xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chigiáo Vạn vật tác yên nhi bất tử; sinh nhi bất hữu; vi nhi bất thị; công thành nhi phất cư Phù;duy phất cư, thị dĩ bất khứ.
Trang 11Khi thiên hạ đều biết cái tốt là tốt thì đó đã là cái xấu mất rồi Khi thiên hạ đều biết cáithiện là thiện thì đó đã là cái bất thiện rồi Cho nên cái Hữu và cái Vô sinh ra nhau; cái dễ
và cái khó nghiêng vào nhau; cái dài và cái ngắn giao tiếp nhau, âm và thanh chuyển hóacho nhau; cái đi trước và cái đi sau đi theo nhau Chính vì vậy bậc thánh nhân thi hành cáiviệc Vô vi, thực hiện việc dạy không dùng lời Muôn vật xuất hiện mà mình không nói;chúng sinh ra mà mình không chiếm lấy; mình làm mà không cậy công; công lao hoàn thành
mà mình không kể công Chính vì mình không kể công cho nên (công) mới không mất đi
Trang 12Bất thượng hiền, sử dân bất tranh Bất quý nan đắc chi hóa, sử dân bất vi đạo Bất hiệnkhả dục, sử dân tâm bất loạn Thị dĩ thánh nhân chi trị; hư kỳ tâm thực kỳ phúc, nhược kỳchí, cường kỳ cốt Thường sử dân vô tri, vô dục Sử phù trí giả bất cảm vi dã Vi vô vi tắc
vô bất trị
Trang 13Không chuộng cái giỏi khiến cho dân không tranh Không quý những của cải khó kiếmkhiến dân không làm trộm cắp Không để lộ điều ham muốn khiến dân không làm loạn.Chính vì vậy cho nên cách cai trị của bậc thánh là: làm cho lòng dân trống rỗng, bụng dân
no, chí dân mềm yếu, xương dân cứng mạnh Luôn luôn khiến dân không biết, không hammuốn, khiến kẻ khôn không trổ được điều gì Làm cái Vô vi, thì không có việc gì không trịan
Trang 14Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh Uyên hề tự vạn vật chi tông Tỏa kỳ nhuệ; giải kỳphân; hòa kỳ quang; đồng kỳ trần Trạm hề, tự hoặc tồn! Ngô bất tri thùy chi tử, thượng đếchi tiên.
Trang 15A Cái Đạo tuy trống rỗng nhưng công dụng của nó không bao giờ hết Nó sâu xa thay,tựa hồ cái gốc của muôn vật.
B Nó làm cùn cái bén nhọn của mình, tháo gỡ cái rối rắm của mình, làm cho cái sángcủa mình hòa lẫn với cái bụi bặm của mình
C Nó ẩn náu thay, nhưng xem ra vẫn (tự mình) tồn tại Ta không biết nó là con của ai,dường như có trước thượng đế
Trang 16Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu; thánh nhân bất nhân, dĩ bách tính vi sô cẩu.Thiên địa chi gian, kỳ do thác thược hồ? Hư nhi bất khuất; động nhi dũ xuất Đa ngôn sổcùng, bất như thủ trung.
Trang 17A Trời đất chẳng hề (lo đến) nhân, xem muôn vật là con chó rơm; thánh nhân chẳng hề(lo đến) nhân, xem trăm họ là con chó rơm.
B Cái khoảng ở giữa trời và đất phải chăng giống như cái ống bễ? Tuy trống rỗngnhưng lại dùng không hết Càng vận động (muôn vật) càng hiện ra
C Nói lắm hay cùng lý, chẳng bằng giữ lấy cái vừa mức
Trang 18Cốc thần bất tử, thị vị huyền tẫn Huyền tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn Miên miênnhược tồn Dụng chi bất cần.
Trang 19Cái thần diệu của cái hang (/cốc thần/) không chết, cho nên gọi là bà mẹ huyền diệu(/huyền tẫn/) Cái cửa của bà mẹ huyền diệu, đó là cái gốc của trời đất Tồn tại xem ra dằngdặc, dùng mà không hết.
Trang 20Thiên trường địa cửu Thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu giả, dĩ kỳ bất tự sinh cố năngtrường sinh Thị dĩ thánh nhân hậu kỳ thân nhi thân tiền, ngoại kỳ thân nhi thân tồn Phi dĩ kỳ
vô tư da? Cố năng thành kỳ tư
Trang 21A Trời dài đất lâu Trời đất sở dĩ có thể dài và lâu vì nó không sống cho mình Cho nên
Trang 22Thượng thiện nhược thủy Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh Sử chúng nhân chi sở ố,
cố cơ ư Đạo Cư thiện địa, tâm thiện uyên, dữ thiện nhân, ngôn thiện tín, chính thiện trị, sựthiện năng, động thiện thời Phù duy bất tranh cố vô vưu
Trang 23A Kẻ thiện cao nhất giống như nước Nước làm cho muôn vật được lợi mà không tranhgiành Nó ở vào nơi mọi người ghét cho nên gần với Đạo.
B Ở khéo chọn chỗ, lòng khéo chọn nơi sâu, chơi khéo chọn người, nói khéo chọn chữtín, làm chính sự khéo chọn sự yên lành, làm việc khéo chọn năng lực, hành động khéo chọnlúc (nên làm) Ôi! Chỉ vì chỗ chẳng tranh giành cho nên không thể lầm lỗi
Trang 24Trì nhi doanh chi, bất như kỳ dĩ Sủy nhi duệ chi, bất khả trường bảo Kim ngọc mãnđường, mạc chi năng thủ Phú quý nhi kiêu tự di kỳ cữu Công toại thân thối, thiên chi đạo.
Trang 25Nắm lấy làm cho nó đầy, chẳng bằng thôi đi Sờ để mài nó nhọn chẳng thể giữ mãi.Ngọc vàng đầy nhà chẳng ai có thể giữ được Giàu sang mà kiêu căng thì tự chuốc lấy họa.Công đã thành thì thân rút lui, đó là đạo trời.
Trang 26Tải doanh phách, bão nhất, năng vô ly hồ? Chuyên khí trí nhu, năng anh nhi hồ? Địch trừhuyền lãm, năng vô tỳ hồ? Ái dân trị quốc, năng vô tri hồ? Thiên môn khai hợp, năng vô tỳhồ? Minh bạch tứ đạt, năng vô vi hồ? Sinh nhi súc chi, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị;trưởng nhi bất tể, thị vị huyền đức.
Trang 27A Làm cho hồn và phách giữ được “cái Một” (/đây là cái Đạo/) phải chăng có thể khỏichia lìa? Làm cho cái khí đạt đến sự mềm yếu phải chăng có thể thành đứa trẻ sơ sinh? Gạt
bỏ việc ngắm nhìn điều huyền bí phải chăng có thể không nhơ bẩn?
B Phải chăng có thể lấy “Vô tri” để yêu dân, trị nước? Phải chăng có thể lấy sự yên tĩnh
để cho cửa trời (các giác quan) đóng mở? Phải chăng có thể dùng “Vô vi” để biết rõ mọiviệc?
C Cái sinh ra vật và nuôi nấng nó, sinh ra mà không chiếm lấy, làm mà không cậy công,làm cho vật lớn lên mà không làm chủ, đó là cái Đức huyền diệu
Trang 28Tam thập phức cộng nhật cốc, đương kỳ vô, hữu xa chi dụng Duyên thực dĩ vi khí,đương kỳ vô hữu khí chi dụng; tạc hộ dũ dĩ vi thất, đương kỳ vô hữu thất chi dụng Cố hữuchi dĩ vi lợi; vô chi dĩ vi dụng.
Trang 29Trong ba mươi cái nan hoa cùng một bầu xe, ở ngay cái vô của bánh xe có cái côngdụng của xe Nhồi đất làm đồ dùng, ở ngay cái vô của đồ dùng có cái công dụng của đồdùng Khoét cửa lớn, cửa sổ để làm phòng (/người Trung Quốc xưa vẫn quen khoét núi đất
để ở/), ở ngay cái vô của phòng có cái công dụng của phòng Cho nên ta xem nó là cái Hữu
để mưu cái lợi; xem nó là cái Vô để mưu cái công dụng
Trang 30Ngũ sắc lịnh nhân mục manh Ngũ âm lịnh nhân nhĩ lung Ngũ vị lịnh nhân khẩu sảng Trisinh điền liệp, lịnh nhân tâm phát cuồng Nan đắc chi hóa lịnh nhân hành phương Thị dĩthánh nhân vị phúc, bất vị mục Cố khử bỉ thủ thử.
Trang 31Năm màu khiến mắt người ta tối đi Năm âm khiến tai người ta điếc đi Năm mùi khiếnmiệng người ta tê đi Ham theo đuổi săn bắn khiến lòng người ta phát cuồng Hàng hóa khókiếm khiến người ta làm chuyện sai trái Vì vậy bậc thánh nhân lo bụng không lo mắt Chonên bỏ cái thứ hai mà theo cái thứ nhất.
Trang 32Sủng nhục nhược kinh Quý đại hoạn nhược thân Hà vị sủng nhục nhược kinh? Sủng vithượng, nhục vi hạ Đắc chi nhược kinh; thất chi nhược kinh Thị vị sủng nhục nhược kinh.
Hà vị quý đại hoạn nhược thân? Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vị ngô hữu thân Cập ngô vôthân, ngô hữu hà loạn? Cố quý dĩ thân vi thiên hạ, nhược khả ký thiên hạ Ái dĩ thân vi thiên
hạ, nhược khả thác thiên hạ
Trang 33Hãy sợ hãi việc ân sủng cũng như điều nhục nhã Sở dĩ ta lo cái mối lo lớn là vì ta cóthân Tại sao bảo: “Hãy sợ hãi việc ân sủng cũng như điều nhục nhã?” Đó là vì có vinh ởtrên thì có nhục ở dưới Cho nên được nó cũng sợ hãi; mà mất nó cũng sợ hãi Cho nên nói
“Hãy sợ hãi việc ân sủng cũng như điều nhục nhã” Tại sao nói “Ta có mối lo lớn vì ta cóthân?” Đó là vì, ta có thân nên có mối lo lớn, nếu như ta không có thân thì ta có gì phải lo?Cho nên kẻ nào biết quý thân mình mà lo cho thiên hạ thì có thể gửi thiên hạ cho người ấy
Kẻ nào vì yêu thân mình mà lo cho thiên hạ thì có thể giao thiên hạ cho người ấy
Trang 34Thị chi bất kiến, danh viết “Di”; thính chi bất văn viết “Hi”; bác chi bất đắc, danh viết
“Vi” Thử tam giả bất khả trí cật Cố hỗn nhi vi nhất Kỳ thượng bất kiểu, kỳ hạ bất muội.Thằng thằng bất khả danh Phục quy ư vô vật Thị vị vô trạng chi trạng, vô vật chi tượng.Thị vị hốt hoảng Nghinh chi bất kiến kỳ thủ, tùy chi bất kiến kỳ hậu Chấp cổ tri đạo, dĩ ngựkim chi hữu Năng tri cổ thủy, thị vị đạo kỷ
Trang 35Vật mà nhìn không thấy gọi là “Di”; lắng tai mà không nghe thấy gọi là “Hi”; chộp màkhông nắm được thì gọi là “Vi” Ba cái này không thể truy cứu được cho nên hỗn hợp lạilàm một Cái trên của nó không sáng; cái dưới của nó không tối Dằng dặc mà không thể gọitên, lại quay về chỗ không có vật gì hết Cho nên gọi nó là cái hình trạng không có hìnhtrạng, cái hình trạng không có sự vật Cho nên gọi nó là cái thấp thoáng Đón nó thì khôngthấy đầu; đuổi nó thì không thấy phía sau của nó Hãy giữ lại cáo đạo xưa để chế ngự cáitồn tại hiện nay Có thể biết được cái đầu mối xưa, đó gọi là nắm được cái giềng mối củaĐạo.
Trang 36Cố chi thiện vi sĩ giả, vi diệu huyền thông, thâm bất khả thức Phù duy bất khả thức cốcưỡng vi chi dung Dự hề, nhược đông thiệp xuyên; do hề, nhược úy tứ lân; nghiễm hể, kỳnhược khách; hoán hề, nhược băng chi tương thích Đôn hề, kỳ nhược phác; khoáng hể kỳnhược cốc; hỗn hề, kỳ nhược trọc Thục năng trọc dĩ chỉ, tĩnh chi từ thanh? Thục dĩ an dĩcửu, động chi từ sinh? Bảo thử Đạo giả bất dục doanh Phù duy bất doanh, cố năng tế nhibất thành.
Trang 37Con người xưa khéo thực hành cái Đạo thì tinh diệu, huyền ảo, thông suốt, sâu xa khôngthể nhận thức được Vì ta không thể nhận thức được (anh ta), cho nên tạm miêu tả anh ta nhưsau: anh ta rụt rè chừ, như lội qua sông vào mùa đông; lúng túng chừ, như sợ bốn bên hàngxóm; nghiêm chỉnh chừ, như mình là người khách, rã rời chừ, như băng giá đang tan Đônhậu chừ, như khúc gỗ mộc; trống rỗng chừ như cái hang, hỗn độn chừ như nước đục Ai cóthể làm cho cái đục lắng xuống dần đần thành trong? Ai có thể làm cái yên tĩnh kéo dài, dầndần trở nên động? Giữ được cái đạo ấy mà không muốn tự mãn? Vì không tự mãn cho nên
có thể ẩn mình mà không cho người ta biết
Trang 38Trí hư cực, thủ tĩnh dốc Vạn vật tịnh tác ngô dĩ quan phục Phù vật vân vân, các phụcquy kỳ căn Quy căn viết tĩnh Thị vị viết “phục mạng” Phục mạng viết thường Tri thườngviết minh Bất tri thường vọng tác, hung Tri thường dung Dung nãi công Công nãi toàn.Toàn nãi thiên Thiên nãi đạo Đạo nãi cửu Một thân bất đãi.
Trang 39A Hãy đạt đến cái trống không cùng cực; hãy giữ lấy cái hết sức yên tĩnh Muôn vật đềusinh ra, ta qua đó thấy chúng đều trở về gốc Vật tuy nhan nhản, tất cả đều trở về cái gốc củamình Trở về gốc gọi là "hư tĩnh", cái đó gọi là "trở về bản tính"(/phục mạng/) Trở về bảntính gọi là "cái lẽ tự nhiên"(/thường/) Biết được cái lẽ tự nhiên gọi là "sáng suốt"; khôngbiết cái lẽ tự nhiên, làm bậy, là tai hại.
B Biết cái lẽ tự nhiên thì chứa đựng được Chứa đựng được cho nên chung cho mọingười (/công/) Do chung cho mọi người cho nên bao khắp Bao khắp là hợp với trời Hợpvới trời là đúng đạo Theo Đạo thì lâu dài, suốt đời không bị nguy hiểm
Trang 40Thái thượng, hạ tri hữu chi Kỳ thứ, thân nhi dự chi Kỳ thứ, úy chi Kỳ thứ, vũ chi Tínbất túc yên, hữu bất tín yên Du hề, kỳ quý ngôn Công thành sự toại, bách tính giai vị “Ngã
tự nhiên”