Định nghĩa Mạng Máy Tính Mạng máy tính là một nhóm các máy tính, thiết bị ngoại vi được kết nối với nhau thông qua các phương tiện truyền dẫn như cáp, sóng điện từ, tia hồng ngoại…giúp
Trang 1Basic Network Management
Tài liệu chuyên đề mạng căn bản
Trung tâm Đào tạo Tiên Phong
52 Quang Trung, TP Quảng Ngãi Tel: 0553-715.168 Fax: 0553-715.169 Website: http://www.tienphongtech.com
Năm 2010
GV: Bùi Vương Long
MCSE,CCNA,MAC OS
Trang 2Mục lục
Chương 1: Mạng Máy Tính 5
I Định nghĩa Mạng Máy Tính 5
II Lịch sử Mạng máy tính 5
III Tại sao cần có mạng? 6
IV Phân loại mạng máy tính 7
1 Mạng cục bộ LAN (Local Area Network) 7
2 Mạng đô thị MAN (Metropolitan Area Network) 7
3 Mạng diện rộng WAN (Wide Area Network) 8
4 Mạng Internet 8
V Sự phân biệt giữa mạng cục bộ và mạng diện rộng 8
VI Các mô hình xử lý mạng 10
1 Mô hình xử lý mạng tập trung 10
2 Mô hình xử lý mạng phân phối 10
3 Mô hình xử lý mạng cộng tác 11
VII Các mô hình quản lý mạng 11
1 Workgroup 11
2 Domain 11
VIII Các mô hình ứng dụng mạng 11
1 Mạng ngang hàng ( peer to peer ) 11
2 Mạng khách chủ (Client – Server) 12
IX Kiến trúc mạng cục bộ 13
1 Hình trạng mạng (Network Topology) 13
2 Mạng hình sao (Star) 13
3 Mạng trục tuyến tính ( Bus ) 13
4 Mạng hình vòng ( Ring ) 14
Chương 2: TCP/IP VÀ ĐỊA CHỈ IP 14
I Giao thức IP 14
1 Tổng quát 14
2 Các giao thức trong mạng IP 15
3 Các bước hoạt động của giao thức IP 15
II Giao thức điều khiển truyền dữ liệu TCP 16
III Tổng quan về địa chỉ IP 20
IV Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan: 21
V Giới thiệu các lớp địa chỉ 22
1 Lớp A 22
2 Lớp B 23
3 Lớp C 24
4 Lớp D và E 24
5 Ví dụ cách triển khai đặt địa chỉ IP cho một hệ thống mạng 24
6 Chia mạng con (subnetting) 25
7 Địa chỉ riêng (private address) và cơ chế chuyển đổi địa chỉ mạng (Network Address Translation –NAT ) 27
Chương 3: CÁC THIẾT BỊ MẠNG 27
I Card giao tiếp mạng (NIC – Network Interface Card) 27
1 Khái niệm 27
2 Các chức năng chính của NIC 28
3 Giới thiệu các dạng NIC hiện nay đang được sử dụng 28
II Transceiver 31
III Repeater 31
IV Hub 32
Trang 3V Bridge 33
VI Switch 35
VII Router 36
VIII Brouter 37
IX Gateway 38
X Modem 38
XI Các phương tiện truyền dẫn 39
1 Các loại Cáp 40
2 Môi trường Vô tuyến 46
Chương 4: THIẾT KẾ MẠNG LAN 47
I Các vấn đề cần lưu ý 47
II Những yêu cầu chung của việc thiết kế mạng 47
III Khảo sát hiện trạng 47
1 Sơ đồ cấu trúc các phòng của toà nhà 48
2 Cách phân phối các máy tính 48
3 Mô hình Logic các phòng máy 49
4 Sơ đồ vật lý 50
5 Lựa chọn mô hình mạng 50
6 Thiết bị phần cứng 51
Chương 5: MẠNG DIỆN RỘNG & Wi-fi 54
Phần 1: Các dịch vụ mạng diện rộng 54
I Mạng chuyển mạch (Circuit Swiching Network) 54
II Mạng thuê bao (Leased line Network) 56
1 Phương thức ghép kênh theo tần số 56
2 Phương thức ghép kênh theo thời gian 57
III Mạng chuyển gói tin (Packet Switching NetWork) 57
Phần 2: Các công nghệ mạng diện rộng 58
I Tổng quan về ISDN 58
1 Nguyên lý ISDN 58
2 Sự phát triển của ISDN 59
3 Giao diện người sử dụng 59
4 Mục tiêu của ISDN 60
5 Lợi ích từ ISDN 60
II Tổng quan về FrameRelay 61
1 FrameRelay một công nghệ tiên tiến 62
2 FrameRelay có phải là một công nghệ cuối cùng? 62
3 Các lý do để sử dụng FrameRelay 63
III Tổng quan về Wi-fi 64
Chương 6: BẢO MẬT MẠNG 67
I Virus 67
II Các loại Virus 67
1 Virus Boot 67
2 Virus File 68
3 Virus Macro 68
4 Con ngựa Thành Tơ-roa - Trojan Horse 68
III Bức Tường lửa 69
IV PC-Cillin 70
1 Giới thiệu tác dụng phần mềm PC-cillin 70
2 Cài đặt phầm mềm PC-cillin 70
3 Sử dụng chức năng firewall, Network virus Emergency Centre và URL filter của PC-cillin 71 Chapter 7: Hướng dẫn cài đặt phòng Net (Sử dụng mạng ngang hàng) 73
Trang 4I Yêu cầu 73
II Lắp đặt 73
1 Lắp đặt cáp trong mạng 73
2 Lắp đặt thiết bị chống sét 74
3 Lắp đặt bộ lọc 74
4 Lắp đặt máy điện thoại và Modem 74
III Cài đặt Modem và máy tính (xây dựng mạng ngang hàng) 74
1 Cài đặt cho máy tính 74
2 Cấu hình modem Zyxel 76
Chương 8: Tổng quan mô hình OSI 78
I Giới thiệu 78
1 Tổ Chức Tiêu Chuẩn&Hệ Mở OSI(Open Systems Interconnection Reference Model)78 II Mô Hình Tham Chiếu OSI 79
III Khái Niệm Các Tầng OSI 82
Trang 5Chương 1: Mạng Máy Tính
I Định nghĩa Mạng Máy Tính
Mạng máy tính là một nhóm các máy tính, thiết bị ngoại vi được kết nối với nhau thông qua các
phương tiện truyền dẫn như cáp, sóng điện từ, tia hồng ngoại…giúp cho các thiết bị này có thể
trao đổi dữ liệu với nhau một cách dễ dàng
II Lịch sử Mạng máy tính
Vào giữa những năm 50 một số nhà chế tạo máy tính đã nghiên cứu thành công những thiết bị
truy cập từ xa tới máy tính của họ Một trong những phương pháp thâm nhập từ xa được thực
hiện bằng việc cài đặt một thiết bị đầu cuối ở một vị trí cách xa trung tâm tính toán, thiết bị đầu
cuối này được liên kết với trung tâm bằng việc sử dụng đường dây điện thoại và với hai thiết bị
xử lý tín hiệu (thường gọi là Modem) gắn ở hai đầu và tín hiệu được truyền thay vì trực tiếp thì
thông qua dây điện thoại
Trong lúc đưa ra giới thiệu những thiết bị đầu cuối từ xa, các nhà khoa học đã triển khai một loạt
những thiết bị điều khiển, những thiết bị đầu cuối đặc biệt cho phép người sử dụng nâng cao
được khả năng tương tác với máy tính Một trong những sản phẩm quan trọng đó là hệ thống
thiết bị đầu cuối 3270 của IBM Hệ thống đó bao gồm các màn hình, các hệ thống điều khiển, các
thiết bị truyền thông được liên kết với các trung tâm tính toán Hệ thống 3270 được giới thiệu
vào năm 1971 và được sử dụng dùng để mở rộng khả năng tính toán của trung tâm máy tính tới
các vùng xa Ðể làm giảm nhiệm vụ truyền thông của máy tính trung tâm và số lượng các liên kết
giữa máy tính trung tâm với các thiết bị đầu cuối, IBM và các công ty máy tính khác đã sản xuất
một số các thiết bị sau:
Thiết bị kiểm soát truyền thông: Có nhiệm vụ nhận các bit tín hiệu từ các kênh truyền thông,
gom chúng lại thành các byte dữ liệu và chuyển nhóm các byte đó tới máy tính trung tâm để xử
lý, thiết bị này cũng thực hiện công việc ngược lại để chuyển tín hiệu trả lời của máy tính trung
tâm tới các trạm ở xa Thiết bị trên cho phép giảm bớt được thời gian xử lý trên máy tính trung
tâm và xây dựng các thiết bị logic đặc trưng
Thiết bị kiểm soát nhiều đầu cuối: Cho phép cùng một lúc kiểm soát nhiều thiết bị đầu cuối
Máy tính trung tâm chỉ cần liên kết với một thiết bị như vậy là có thể phục vụ cho tất cả các thiết
bị đầu cuối đang được gắn với thiết bị kiểm soát trên Ðiều này đặc biệt có ý nghĩa khi thiết bị
kiểm soát nằm ở cách xa máy tính vì chỉ cần sử dụng một đường điện thoại là có thể phục vụ cho
nhiều thiết bị đầu cuối
Hình 1.1: Mô hình trao đổi mạng của hệ thống 3270
Trang 6Vào giữa những năm 1970, các thiết bị đầu cuối sử dụng những phương pháp liên kết qua đường cáp nằm trong một khu vực đã được ra đời Với những ưu điểm từ nâng cao tốc độ truyền dữ liệu
và qua đó kết hợp được khả năng tính toán của các máy tính lại với nhau Ðể thực hiện việc nâng cao khả năng tính toán với nhiều máy tính các nhà sản xuất bắt đầu xây dựng các mạng phức tạp Vào những năm 1980 các hệ thống đường truyền tốc độ cao đã được thiết lập ở Bắc Mỹ và Châu
Âu và từ đó cũng xuất hiện các nhà cung cấp các dịnh vụ truyền thông với những đường truyền
có tốc độ cao hơn nhiều lần so với đường dây điện thoại Với những chi phí thuê bao chấp nhận được, người ta có thể sử dụng được các đường truyền này để liên kết máy tính lại với nhau và bắt đầu hình thành các mạng một cách rộng khắp Ở đây các nhà cung cấp dịch vụ đã xây dựng những đường truyền dữ liệu liên kết giữa các thành phố và khu vực với nhau và sau đó cung cấp các dịch vụ truyền dữ liệu cho những người xây dựng mạng Người xây dựng mạng lúc này sẽ không cần xây dựng lại đường truyền của mình mà chỉ cần sử dụng một phần các năng lực truyền thông của các nhà cung cấp
Vào năm 1974 công ty IBM đã giới thiệu một loạt các thiết bị đầu cuối được chế tạo cho lĩnh vực ngân hàng và thương mại, thông qua các dây cáp mạng các thiết bị đầu cuối có thể truy cập cùng một lúc vào một máy tính dùng chung Với việc liên kết các máy tính nằm ở trong một khu vực nhỏ như một tòa nhà hay là một khu nhà thì tiền chi phí cho các thiết bị và phần mềm là thấp Từ
đó việc nghiên cứu khả năng sử dụng chung môi trường truyền thông và các tài nguyên của các máy tính nhanh chóng được đầu tư
Vào năm 1977, công ty DataPoint Corporation đã bắt đầu bán hệ điều hành mạng của mình là
"Attached Resource Computer Network" (hay gọi tắt là Arcnet) ra thị trường Mạng Arcnet cho phép liên kết các máy tính và các trạm đầu cuối lại bằng dây cáp mạng, qua đó đã trở thành là hệ điều hành mạng cục bộ đầu tiên
Từ đó đến nay đã có rất nhiều công ty đưa ra các sản phẩm của mình, đặc biệt khi các máy tính
cá nhân được sử dụng một cánh rộng rãi Khi số lượng máy vi tính trong một văn phòng hay cơ quan được tăng lên nhanh chóng thì việc kết nối chúng trở nên vô cùng cần thiết và sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho người sử dụng
III Tại sao cần có mạng?
Ngày nay với một lượng lớn về thông tin, nhu cầu xử lý thông tin ngày càng cao Mạng máy tính hiện nay trở nên quá quen thuộc đối với chúng ta, trong mọi lĩnh vực như khoa học, quân sự, quốc phòng, thương mại, dịch vụ, giáo dục Hiện nay ở nhiều nơi mạng đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được Người ta thấy được việc kết nối các máy tính thành mạng cho chúng ta những khả năng mới to lớn như:
Sử dụng chung tài nguyên: Những tài nguyên của mạng (như thiết bị, chương trình, dữ liệu) khi
được trở thành các tài nguyên chung thì mọi thành viên của mạng đều có thể tiếp cận được mà không quan tâm tới những tài nguyên đó ở đâu
Tăng độ tin cậy của hệ thống: Người ta có thể dễ dàng bảo trì máy móc và lưu trữ (backup) các
dữ liệu chung và khi có trục trặc trong hệ thống thì chúng có thể được khôi phục nhanh chóng Trong trường hợp có trục trặc trên một trạm làm việc thì người ta cũng có thể sử dụng những trạm khác thay thế
Nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác thông tin: Khi thông tin có thể được dùng chung
thì nó mang lại cho người sử dụng khả năng tổ chức lại các công việc với những thay đổi về chất như:
Ðáp ứng những nhu cầu của hệ thống ứng dụng kinh doanh hiện đại
Cung cấp sự thống nhất giữa các dữ liệu
Trang 7 Tăng cường năng lực xử lý nhờ kết hợp các bộ phận phân tán
Tăng cường truy nhập tới các dịch vụ mạng khác nhau đang được cung cấp trên thế
giới
IV Phân loại mạng máy tính
1 Mạng cục bộ LAN (Local Area Network)
Mạng LAN là một nhóm các máy tính và các thiết bị truyền thông mạng được nối kết với nhau
trong một khu vực nhỏ như một toà nhà cao ốc, khuôn viên trường đại học, khu giải trí…
Các mạng LAN thường có các đặc điểm sau đây:
Băng thông lớn có khả năng chạy các ứng dụng trực tuyến như xem phim, hội thảo
qua mạng
Kích thước mạng bị giới hạn bởi các thiết bị
Chi phí các thiết bị mạng LAN tương đối rẻ
Quản trị đơn giản
Hình 1.2
2 Mạng đô thị MAN (Metropolitan Area Network)
Mạng MAN gần giống như mạng LAN nhưng giới hạn của nó là một thành phố hay một quốc
gia Mạng MAN nối kết các mạng LAN lại với nhau thông qua các phương tiện truyền dẫn khác
nhau (cáp quang, cáp đồng, sóng…) và các phương thức truyền thông khác nhau
Đặc điểm của mạng MAN :
Băng thông mức trung bình, đủ để phục vụ các ứng dụng cấp thành phố hay quốc gia
như chính phủ điện tử, thương mại điện tử, các ứng dụng của các ngân hàng…
Do MAN nối kết nhiều LAN với nhau nên độ phức tạp cũng tăng đồng thời việc quản
lý sẽ khó khăn hơn
Trang 8 Chi phí các thiết bị mạng MAN tương đối đắt tiền
3 Mạng diện rộng WAN (Wide Area Network)
Mạng WAN bao phủ vùng địa lý rộng lớn có thể là một quốc gia, một lục địa hay toàn cầu Mạng WAN thường là mạng của các công ty đa quốc gia hay toàn cầu điển hình là mạng Internet Do phạm vi rộng lớn của mạng WAN nên thông thường mạng WAN là tập hợp các mạng LAN, MAN nối lại với nhau bằng các phương tiện như: vệ tinh (satellites), sóng viba (microwave), cáp quang, cáp điện thoại
Đặc điểm của mạng WAN:
Băng thông thấp, dễ mất kết nối thường chỉ phù hợp với các ứng dụng online như mail, web, ftp…
e- Phạm vi hoạt động rộng lớn không giới hạn
Do kết nối của nhiều LAN, MAN lại với nhau nên mạng rất phức tạp và có tính toàn cầu nên thường là các tổ chức quốc tế đứng ra qui định và quản lý
Chi phí cho các thiết bị và các công nghệ mạng WAN rất đắt tiền
Hình 1.3
4 Mạng Internet:
Mạng Internet là trường hợp đặc biệt của mạng WAN, nó chứa các dịch vụ toàn cầu như Mail, Web, Chat, FTP và phục vụ miễn phí cho mọi người
V Sự phân biệt giữa mạng cục bộ và mạng diện rộng
Mạng cục bộ và mạng diện rộng có thể được phân biệt bởi: địa phương hoạt động, tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền, chủ quản của mạng, đường đi của thông tin trên mạng, dạng chuyển giao thông tin
Địa phương hoạt động: Liên quan đến khu vực địa lý thì mạng cục bộ sẽ là mạng liên kết các
máy tính nằm ở trong một khu vực nhỏ Khu vực có thể bao gồm một tòa nhà hay là một khu nhà Điều đó hạn chế bởi khoảng cách đường dây cáp được dùng để liên kết các máy tính của mạng cục bộ (hạn chế đó còn là hạn chế của khả năng kỹ thuật của đường truyền dữ liệu) Ngược lại mạng diện rộng là mạng có khả năng liên kết các máy tính trong một vùng rộng lớn như là
Trang 9một thành phố, một miền, một đất nước, mạng diện rộng được xây dựng để nối hai hoặc nhiều
khu vực địa lý riêng biệt
Tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền: Do các đường cáp của mạng cục bộ được
xây dựng trong một khu vực nhỏ cho nên nó ít bị ảnh hưởng bởi tác động của thiên nhiên (như là
sấm chớp, ánh sáng ) Điều đó cho phép mạng cục bộ có thể truyền dữ liệu với tốc độ cao mà
chỉ chịu một tỷ lệ lỗi nhỏ Ngược lại với mạng diện rộng do phải truyền ở những khoảng cách
khá xa với những đường truyền dẫn dài có khi lên tới hàng ngàn km Do vậy mạng diện rộng
không thể truyền với tốc độ quá cao vì khi đó tỷ lệ lỗi sẽ trở nên khó chấp nhận được
Mạng cục bộ thường có tốc độ truyền dữ liệu từ 4 đến 16 Mbps và đạt tới 100 Mbps nếu dùng
cáp quang Còn phần lớn các mạng diện rộng cung cấp đường truyền có tốc độ thấp hơn nhiều
như T1 với 1.544 Mbps hay E1 với 2.048 Mbps
(Ở đây bps (Bit Per Second) là một đơn vị trong truyền thông tương đương với 1 bit được truyền
trong một giây, ví dụ như tốc độ đường truyền là 1 Mbps tức là có thể truyền tối đa 1 Megabit
trong 1 giây trên đường truyền đó)
Thông thường trong mạng cục bộ tỷ lệ lỗi trong truyền dữ liệu vào khoảng 1/107-108 còn trong
mạng diện rộng thì tỷ lệ đó vào khoảng 1/106 - 107
Chủ quản và điều hành của mạng: Do sự phức tạp trong việc xây dựng, quản lý, duy trì các
đường truyền dẫn nên khi xây dựng mạng diện rộng người ta thường sử dụng các đường truyền
được thuê từ các công ty viễn thông hay các nhà cung cấp dịch vụ truyền số liệu Tùy theo cấu
trúc của mạng những đường truyền đó thuộc cơ quan quản lý khác nhau như các nhà cung cấp
đường truyền nội hạt, liên tỉnh, liên quốc gia Các đường truyền đó phải tuân thủ các quy định
của chính phủ các khu vực có đường dây đi qua như: tốc độ, việc mã hóa
Còn đối với mạng cục bộ thì công việc đơn giản hơn nhiều, khi một cơ quan cài đặt mạng cục bộ
thì toàn bộ mạng sẽ thuộc quyền quản lý của cơ quan đó
Đường đi của thông tin trên mạng: Trong mạng cục bộ thông tin được đi theo con đường xác
định bởi cấu trúc của mạng Khi người ta xác định cấu trúc của mạng thì thông tin sẽ luôn luôn đi
theo cấu trúc đã xác định đó Còn với mạng diện rộng dữ liệu cấu trúc có thể phức tạp hơn nhiều
do việc sử dụng các dịch vụ truyền dữ liệu Trong quá trình hoạt động các điểm nút có thể thay
đổi đường đi của các thông tin khi phát hiện ra có trục trặc trên đường truyền hay khi phát hiện
có quá nhiều thông tin cần truyền giữa hai điểm nút nào đó Trên mạng diện rộng thông tin có thể
có các con đường đi khác nhau, điều đó cho phép có thể sử dụng tối đa các năng lực của đường
truyền hay nâng cao điều kiện an toàn trong truyền dữ liệu
Dạng chuyển giao thông tin: Phần lớn các mạng diện rộng hiện nay được phát triển cho việc
truyền đồng thời trên đường truyền nhiều dạng thông tin khác nhau như: video, tiếng nói, dữ
liệu Trong khi đó các mạng cục bộ chủ yếu phát triển trong việc truyền dữ liệu thông thường
Điều này có thể giải thích do việc truyền các dạng thông tin như video, tiếng nói trong một khu
vực nhỏ ít được quan tâm hơn như khi truyền qua những khoảng cách lớn
Các hệ thống mạng hiện nay ngày càng phức tạp về chất lượng, đa dạng về chủng loại và phát
triển rất nhanh về chất Trong sự phát triển đó số lượng những nhà sản xuất từ phần mềm, phần
cứng máy tính, các sản phẩm viễn thông cũng tăng nhanh với nhiều sản phẩm đa dạng Chính vì
vậy vai trò chuẩn hóa cũng mang những ý nghĩa quan trọng Tại các nước các cơ quan chuẩn
quốc gia đã đưa ra các những chuẩn về phần cứng và các quy định về giao tiếp nhằm giúp cho
các nhà sản xuất có thể làm ra các sản phẩm có thể kết nối với các sản phẩm do hãng khác sản
xuất
Trang 10xử lý dữ liệu Mô hình xử lý mạng trên có thể triển khai trên hệ thống phần cứng hoặc phần mềm được cài đặt trên Server
Ưu điểm: dữ liệu được bảo mật an toàn, dễ backup và diệt virus Chi phí các thiết bị thấp
Khuyết điểm: khó đáp ứng được các yêu cầu của nhiều ứng dụng khác nhau, tốc độ truy xuất
chậm
Hình 1.4
2 Mô hình xử lý mạng phân phối :
Các máy tính có khả năng hoạt động độc lập, các công việc được tách nhỏ và giao cho nhiều máy tính khác nhau thay vì tập trung xử lý trên máy trung tâm Tuy dữ liệu được xử lý và lưu trữ tại máy cục bộ nhưng các máy tính này được nối mạng với nhau nên chúng có thể trao đổi dữ liệu và dịch vụ
Ưu điểm: truy xuất nhanh, phần lớn không giới hạn các ứng dụng
Khuyết điểm: dữ liệu lưu trữ rời rạc khó đồng bộ, backup và rất dễ nhiễm virus
Trang 11Hình 1.5
3 Mô hình xử lý mạng cộng tác:
Mô hình xử lý mạng cộng tác bao gồm nhiều máy tính có thể hợp tác để thực hiện một công việc
Một máy tính có thể mượn năng lực xử lý bằng cách chạy các chương trình trên các máy nằm
trong mạng
Ưu điểm: rất nhanh và mạnh, có thể dùng để chạy các ứng dụng có các phép toán lớn
Khuyết điểm: các dữ liệu được lưu trữ trên các vị trí khác nhau nên rất khó đồng bộ và backup,
khả năng nhiễm virus rất cao
VII Các mô hình quản lý mạng
1 Workgroup
Trong mô hình này các máy tính có quyền hạng ngang nhau và không có các máy tính chuyên
dụng làm nghiệp vụ cung cấp dịch vụ hay quản lý Các máy tính tự bảo mật và quản lý tài
nguyên của riêng mình Đồng thời các máy tính cục bộ này cũng tự chứng thực cho người dùng
cục bộ
2 Domain
Ngược lại với mô hình Workgroup, mô hình Domain thì việc quản lý và chứng thực người dùng
mạng tập trung tại máy tính Primary Domain Controller Các tài nguyên mạng cũng được quản lý
tập trung và cấp quyền hạn cho từng người dùng Lúc đó trong hệ thống có các máy tính chuyên
dụng làm nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ và quản lý các máy trạm
VIII Các mô hình ứng dụng mạng
1 Mạng ngang hàng (peer to peer)
Mạng ngang hàng cung cấp việc kết nối cơ bản giữa các máy tính nhưng không có bất kỳ một
máy tính nào đóng vai trò phục vụ Một máy tính trên mạng có thể vừa là Client vừa là Server
Trong môi trường này người dùng trên từng máy tính chịu trách nhiệm điều hành và chia sẻ tài
nguyên của máy tính mình Mô hình này chỉ phù hợp với tổ chức nhỏ, số người giới hạn (thông
thường nhỏ hơn 10 người) và không quan tâm đến vấn đề bảo mật
Mạng ngang hàng thường dùng các hệ điều hành sau: Win95, Windows for Workgroup, WinNT
Workstation, Win2000 Proffessional, OS/2…
Trang 12Ưu điểm: Do mô hình mạng ngang hàng đơn giản nên dễ cài đặt, tổ chức và quản trị, chi phí
thiết bị cho mô hình này thấp
Khuyết điểm: Không cho phép quản lý tập trung nên dữ liệu phân tán, khả năng bảo mật thấp rất
dễ bị xâm nhập Các tài nguyên không được sắp xếp nên rất khó định vị và tìm kiếm
Hình 1.6
2 Mạng khách chủ (Client – Server)
Trong mô hình mạng khách chủ có một hệ thống máy tính cung cấp các tài nguyên và dịch vụ cho cả hệ thống mạng sử dụng gọi là các máy chủ (Server) Một hệ thống máy tính sử dụng các tài nguyên và dịch vụ này được gọi là máy khách (Client) Các Server thường có cấu hình mạnh (tốc độ xử lý nhanh, kích thước lưu trữ lớn) hoặc là các máy chuyên dụng
Hệ điều hành mạng dùng trong mô hình Client - Server là WinNT, Novell Netware, Unix,Win2K…
Ưu điểm: Do các dữ liệu được lưu trữ tập trung nên dễ bảo mật, backup và đồng bộ với nhau
Tài nguyên và dịch vụ được tập trung nên dễ chia sẻ và quản lý và có thể phục vụ cho nhiều người dùng
Khuyết điểm: Các Server chuyên dụng rất đắt tiền, phải có nhà quản trị cho hệ thống
Hình 1.7
Trang 13IX Kiến trúc mạng cục bộ
1 Hình trạng mạng (Network Topology)
Topology mạng: Cách kết nối các máy tính với nhau về mặt hình học mà ta gọi là tô pô của
mạng
Có 2 kiểu nối mạng chủ yếu đó là:
Nối kiểu điểm – điểm (point – to – point)
Nối kiểu điểm – nhiều điểm (point – to – multipoint hay broadcast)
- Point to Point: Các đường truyền nối từng cặp nút với nhau và mỗi nút đều có trách nhiệm lưu
trữ tạm thời sao đó chuyển tiếp dữ liệu đi cho tới đích Do cách làm việc như vậy nên mạng kiểu
này còn được gọi là mạng “lưu và chuyển tiếp“ (store and forward)
- Point to multipoint: Tất cả các nút phân chia nhau một đường truyền vật lý chung Dữ liệu gửi
đi từ một nút nào đó sẽ được tiếp nhận bởi tất cả các nút còn lại trên mạng, bởi vậy chỉ cần chỉ ra
địa chỉ đích của dữ liệu để căn cứ vào đó các nút tra xem dữ liệu đó có phải gửi cho mình không
2 Mạng hình sao (Star):
Mạng hình sao có tất cả các trạm được kết nối với một thiết bị trung tâm có nhiệm vụ nhận tín
hiệu từ các trạm và chuyển đến trạm đích Tuỳ theo yêu cầu truyền thông trên mạng mà thiết bị
trung tâm có thể là Switch, router, hub hay máy chủ trung tâm Vai trò của thiết bị trung tâm là
thiết lập các liên kết Point to Point
Ưu điểm: Thiết lập mạng đơn giản, dễ dàng cấu hình lại mạng (thêm, bớt các trạm), dễ dàng
kiểm soát và khắc phục sự cố, tận dụng được tối đa tốc độ truyền của đường truyền vật lý
Khuyết điểm: Độ dài đường truyền nối một trạm với thiết bị trung tâm bị hạn chế (trong vòng
100m, với công nghệ hiện nay)
Hình 1.8
3 Mạng trục tuyến tính (Bus):
Tất cả các trạm phân chia một đường truyền chung (bus) Đường truyền chính được giới hạn hai
đầu bằng hai đầu nối đặc biệt gọi là terminator Mỗi trạm được nối với trục chính qua một đầu
nối chữ T (T-connector) hoặc một thiết bị thu phát (transceiver)
Trang 14Mô hình mạng Bus hoạt động theo các liên kết Point to Multipoint hay Broadcast
Ưu điểm: Dễ thiết kế, chi phí thấp
Khuyết điểm: Tính ổn định kém, chỉ một nút mạng hỏng là toàn bộ mạng bị ngừng hoạt động
Hình 1.9
4 Mạng hình vòng (Ring):
Trên mạng hình vòng tín hiệu được truyền đi trên vòng theo một chiều duy nhất Mỗi trạm của mạng được nối với nhau qua một bộ chuyển tiếp (repeater) có nhiệm vụ nhận tín hiệu rồi chuyển tiếp đến trạm kế tiếp trên vòng Như vậy tín hiệu được lưu chuyển trên vòng theo một chuỗi liên tiếp các liên kết Point to Point giữa các repeater
Mạng hình vòng có ưu, nhược điểm tương tự như mạng hình sao, tuy nhiên mạng hình vòng đòi hỏi giao thức truy nhập mạng phức tạp hơn mạng hình sao
Ngoài ra còn có các kết nối hỗn hợp giữa các kiến trúc mạng trên như: Star Bus, Star Ring
Chương 2: TCP/IP VÀ ĐỊA CHỈ IP
Giao thức TCP/IP được phát triển từ mạng ARPANET và Internet và được dùng như giao thức mạng và vận chuyển trên mạng Internet TCP (Transmission Control Protocol) là giao thức thuộc tầng vận chuyển và IP (Internet Protocol) là giao thức thuộc tầng mạng của mô hình OSI Họ giao thức TCP/IP hiện nay là giao thức được sử dụng rộng rãi nhất để liên kết các máy tính và các mạng
Hiện nay các máy tính của hầu hết các mạng có thể sử dụng giao thức TCP/IP để liên kết với nhau thông qua nhiều hệ thống mạng với kỹ thuật khác nhau Giao thức TCP/IP thực chất là một
họ giao thức cho phép các hệ thống mạng cùng làm việc với nhau thông qua việc cung cấp phương tiện truyền thông liên mạng
I Giao thức IP
1 Tổng quát
Trang 15Nhiệm vụ chính của giao thức IP là cung cấp khả năng kết nối các mạng con thành liên kết mạng
để truyền dữ liệu, vai trò của IP là vai trò của giao thức tầng mạng trong mô hình OSI Giao thức
IP là một giao thức kiểu không liên kết (connectionless) có nghĩa là không cần có giai đoạn thiết
lập liên kết trước khi truyền dữ liệu
2 Các giao thức trong mạng IP
Để mạng với giao thức IP hoạt động được tốt người ta cần một số giao thức bổ sung, các giao
thức này đều không phải là bộ phận của giao thức IP và giao thức IP sẽ dùng đến chúng khi cần
Giao thức ARP (Address Resolution Protocol): Ở đây cần lưu ý rằng các địa chỉ IP được dùng
để định danh các host và mạng ở tầng mạng của mô hình OSI, và chúng không phải là các địa chỉ
vật lý (hay địa chỉ MAC) của các trạm trên đó một mạng cục bộ (Ethernet, Token Ring) Trên
một mạng cục bộ hai trạm chỉ có thể liên lạc với nhau nếu chúng biết địa chỉ vật lý của nhau
Như vậy vấn đề đặt ra là phải tìm được ánh xạ giữa địa chỉ IP (32 bits) và địa chỉ vật lý của một
trạm Giao thức ARP đã được xây dựng để tìm địa chỉ vật lý từ địa chỉ IP khi cần thiết
Giao thức RARP (Reverse Address Resolution Protocol): Là giao thức ngược với giao thức
ARP Giao thức RARP được dùng để tìm địa chỉ IP từ địa chỉ vật lý
Giao thức ICMP (Internet Control Message Protocol): Giao thức này thực hiện truyền các
thông báo điều khiển (báo cáo về các tình trạng các lỗi trên mạng) giữa các gateway hoặc một
nút của liên mạng Tình trạng lỗi có thể là: một gói tin IP không thể tới đích của nó, hoặc một
router không đủ bộ nhớ đệm để lưu và chuyển một gói tin IP, một thông báo ICMP được tạo và
chuyển cho IP IP sẽ "bọc" (encapsulate) thông báo đó với một IP header và truyền đến cho
router hoặc trạm đích
3 Các bước hoạt động của giao thức IP
Khi giao thức IP được khởi động nó trở thành một thực thể tồn tại trong máy tính và bắt đầu thực
hiện những chức năng của mình, lúc đó thực thể IP là cấu thành của tầng mạng, nhận yêu cầu từ
các tầng trên nó và gửi yêu cầu xuống các tầng dưới nó
Đối với thực thể IP ở máy nguồn, khi nhận được một yêu cầu gửi từ tầng trên, nó thực hiện các
bước sau đây:
1 Tạo một IP datagram dựa trên tham số nhận được
2 Tính checksum và ghép vào header của gói tin
3 Ra quyết định chọn đường: hoặc là trạm đích nằm trên cùng mạng hoặc một gateway
sẽ được chọn cho chặng tiếp theo
4 Chuyển gói tin xuống tầng dưới để truyền qua mạng
Đối với router, khi nhận được một gói tin đi qua, nó thực hiện các động tác sau:
1 Tính chesksum, nếu sai thì loại bỏ gói tin
2 Giảm giá trị tham số Time - to Live Nếu thời gian đã hết thì loại bỏ gói tin
3 Ra quyết định chọn đường
4 Phân đoạn gói tin, nếu cần
5 Kiến tạo lại IP header, bao gồm giá trị mới của các vùng Time - to -Live,
Fragmentation và Checksum
6 Chuyển datagram xuống tầng dưới để chuyển qua mạng
Trang 16Cuối cùng khi một datagram nhận bởi một thực thể IP ở trạm đích, nó sẽ thực hiện bởi các công việc sau:
1 Tính checksum Nếu sai thì loại bỏ gói tin
2 Tập hợp các đoạn của gói tin (nếu có phân đoạn)
3 Chuyển dữ liệu và các tham số điều khiển lên tầng trên
II Giao thức điều khiển truyền dữ liệu TCP
TCP là một giao thức "có liên kết" (connection - oriented), nghĩa là cần phải thiết lập liên kết giữa hai thực thể TCP trước khi chúng trao đổi dữ liệu với nhau Một tiến trình ứng dụng trong một máy tính truy nhập vào các dịch vụ của giao thức TCP thông qua một cổng (port) của TCP
Số hiệu cổng TCP được thể hiện bởi 2 bytes
Hình 2.1: Cổng truy nhập dịch vụ TCP Một cổng TCP kết hợp với địa chỉ IP tạo thành một đầu nối TCP/IP (socket) duy nhất trong liên mạng Dịch vụ TCP được cung cấp nhờ một liên kết logic giữa một cặp đầu nối TCP/IP Một đầu nối TCP/IP có thể tham gia nhiều liên kết với các đầu nối TCP/IP ở xa khác nhau Trước khi truyền dữ liệu giữa 2 trạm cần phải thiết lập một liên kết TCP giữa chúng và khi không còn nhu cầu truyền dữ liệu thì liên kết đó sẽ được giải phóng
Các thực thể của tầng trên sử dụng giao thức TCP thông qua các hàm gọi (function calls) trong
đó có các hàm yêu cầu: để yêu cầu, để trả lời Trong mỗi hàm còn có các tham số dành cho việc trao đổi dữ liệu
Các bước thực hiện để thiết lập một liên kết TCP/IP: Thiết lập một liên kết mới có thể được
mở theo một trong 2 phương thức: chủ động (active) hoặc bị động (passive)
Phương thức bị động, người sử dụng yêu cầu TCP chờ đợi một yêu cầu liên kết gửi đến từ xa thông qua một đầu nối TCP/IP (tại chỗ) Người sử dụng dùng hàm passive Open có khai báo cổng TCP và các thông số khác (mức ưu tiên, mức an toàn)
Với phương thức chủ động, người sử dụng yêu cầu TCP mở một liên kết với một đầu nối TCP/IP ở xa Liên kết sẽ được xác lập nếu có một hàm Passive Open tương ứng đã được thực hiện tại đầu nối TCP/IP ở xa đó
Trang 17Bảng liệt kê một vài cổng TCP phổ biến
Trang 18Khi người sử dụng gửi đi một yêu cầu mở liên kết sẽ được nhận hai thông số trả lời từ TCP
Thông số Open ID được TCP trả lời ngay lập tức để gán cho một liên kết cục bộ (local connection name) cho liên kết được yêu cầu Thông số này về sau được dùng để tham chiếu tới liên kết đó (Trong trường hợp nếu TCP không thể thiết lập được liên kết yêu cầu thì nó phải gửi tham số Open Failure để thông báo)
Khi TCP thiết lập được liên kết yêu cầu nó gửi tham số Open Sucsess được dùng để thông báo liên kết đã được thiết lập thành công Thông báo này được chuyển đến trong
cả hai trường hợp bị động và chủ động Sau khi một liên kết được mở, việc truyền dữ liệu trên liên kết có thể được thực hiện
Các bước thực hiện khi truyền và nhận dữ liệu: Sau khi xác lập được liên kết người sử dụng
gửi và nhận dữ liệu Việc gửi và nhận dữ liệu thông qua các hàm Send và Receive
Hàm Send: Dữ liệu được gửi xuống TCP theo các khối (block) Khi nhận được một khối dữ liệu, TCP sẽ lưu trữ trong bộ đệm (buffer) Nếu cờ PUSH được dựng thì toàn
bộ dữ liệu trong bộ đệm được gửi, kể cả khối dữ liệu mới đến sẽ được gửi đi Ngược lại cờ PUSH không được dựng thì dữ liệu được giữ lại trong bộ đệm và sẽ gửi đi khi
có cơ hội thích hợp (chẳng hạn chờ thêm dữ liệu nữa để gửi đi với hiệu quả hơn)
Hàm receive: Ở trạm đích dữ liệu sẽ được TCP lưu trong bộ đệm gắn với mỗi liên kết Nếu dữ liệu được đánh dấu với một cờ PUSH thì toàn bộ dữ liệu trong bộ đệm (kể
cả các dữ liệu được lưu từ trước) sẽ được chuyển lên cho người sử dụng Còn nếu dữ liệu đến không được đánh dấu với cờ PUSH thì TCP chờ tới khi thích hợp mới chuyển
dữ liệu với mục tiêu tăng hiệu quả hệ thống
Nói chung việc nhận và giao dữ liệu cho người sử dụng đích của TCP phụ thuộc vào việc cài đặt
cụ thể Trường hợp cần chuyển gấp dữ liệu cho người sử dụng thì có thể dùng cờ URGENT và đánh dấu dữ liệu bằng bit URG để báo cho người sử dụng cần phải xử lý khẩn cấp dữ liệu đó
Các bước thực hiện khi đóng một liên kết: Việc đóng một liên kết khi không cần thiết được
thực hiên theo một trong hai cách: dùng hàm Close hoặc dùng hàm Abort
Hàm Close: Yêu cầu đóng liên kết một cách bình thường Có nghĩa là việc truyền dữ liệu trên liên kết đó đã hoàn tất Khi nhận được một hàm Close TCP sẽ truyền đi tất cả
dữ liệu còn trong bộ đệm thông báo rằng nó đóng liên kết Lưu ý rằng khi một người
sử dụng đã gửi đi một hàm Close thì nó vẫn phải tiếp tục nhận dữ liệu đến trên liên kết
đó cho đến khi TCP đã báo cho phía bên kia biết về việc đóng liên kết và chuyển giao hết tất cả dữ liệu cho người sử dụng của mình
Hàm Abort: Người sử dụng có thể đóng một liên kết bất kỳ và sẽ không chấp nhận
dữ liệu qua liên kết đó nữa Do vậy dữ liệu có thể bị mất đi khi đang được truyền đi TCP báo cho TCP ở xa biết rằng liên kết đã được hủy bỏ và TCP ở xa sẽ thông báo cho người sử dụng của mình
Trang 19Hình 2.2 Dạng thức của segment TCP
Source Port (16 bits): Số hiệu cổng TCP của trạm nguồn
Destination Port (16 bits): Số hiệu cổng TCP của trạm đích
Sequence Number (32 bits): số hiệu của byte đầu tiên của segment trừ khi bit SYN
được thiết lập Nếu bit SYN được thiết lập thì Sequence Number là số hiệu tuần tự
khởi đầu (ISN) và byte dữ liệu đầu tiên là ISN+1
Acknowledgment Number (32 bits): số hiệu của segment tiếp theo mà trạm nguồn
đang chờ để nhận Ngầm ý báo nhận tốt (các) segment mà trạm đích đã gửi cho trạm
nguồn
Data offset (4 bits): số lượng bội của 32 bit (32 bits words) trong TCP header (tham số
này chỉ ra vị trí bắt đầu của nguồn dữ liệu)
Reserved (6 bits): dành để dùng trong tương lai
Control bit (các bit điều khiển):
o URG: Vùng con trỏ khẩn (Urgent Poiter) có hiệu lực
o ACK: Vùng báo nhận (ACK number) có hiệu lực
o PSH: Chức năng PUSH
o RST: Khởi động lại (reset) liên kết
o SYN: Đồng bộ hóa số hiệu tuần tự (sequence number)
o FIN: Không còn dữ liệu từ trạm nguồn
Window (16 bits): cấp phát credit để kiểm soát nguồn dữ liệu (cơ chế cửa sổ) Đây
chính là số lượng các byte dữ liệu, bắt đầu từ byte được chỉ ra trong vùng ACK
number, mà trạm nguồn đã sẵn sàng để nhận
Checksum (16 bits): mã kiểm soát lỗi cho toàn bộ segment (header + data)
Urgemt Poiter (16 bits): con trỏ này trỏ tới số hiệu tuần tự của byte đi theo sau dữ liệu
khẩn Vùng này chỉ có hiệu lực khi bit URG được thiết lập
Options (độ dài thay đổi): khai báo các option của TCP, trong đó có độ dài tối đa của
vùng TCP data trong một segment
Paddinh (độ dài thay đổi): phần chèn thêm vào header để đảm bảo phần header luôn
kết thúc ở một mốc 32 bits Phần thêm này gồm toàn số 0
Trang 20 TCP data (độ dài thay đổi): chứa dữ liệu của tầng trên, có độ dài tối đa ngầm định là
536 bytes Giá trị này có thể điều chỉnh bằng cách khai báo trong vùng options
III Tổng quan về địa chỉ IP
Trước khi khảo sát cấu tạo, tính chất, nhiệm vụ của địa chỉ IP ta xét những tiền đề tạo nên nó: Đơn vị thông tin cơ bản trong máy tính được biểu diễn dưới dạng số nhị phân bao gồm 2 giá trị đếm là 0 và 1 Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khác nó còn được biểu diễn bằng số bát phân, hay số thập lục phân
Hệ thống số đó được miêu tả ở bảng dưới đây lấy số thập phân làm so sánh tường minh:
Thập phân Nhị phân Bát phân Thập lục phân
Trang 2113/2 = 6 dư 1
Ta lấy số dư của phép chia cho 2 theo thứ tự từ dưới lên trên
Vậy ta được số nhị phân của số 13 thập phân là: 11012
Với các hệ số khác ta cũng thực hiện như vậy
Cấu trúc địa chỉ IP gồm 32bits, được chia thành 4 nhóm, mỗi nhóm 8 bits được biểu diễn như
sau:
Vậy giá trị 8 bits khi tất cả được bật lên 1, hiểu ở giá trị thập phân là: 255
Vậy những giá trị thập phân mà ta có thể gán 4 nhóm của 32 Bit là:
Vậy địa chỉ IP có cấu trúc được chia làm hai hoặc ba phần là network_id & host_id hoặc
network_id & subnet_id & host_id
Là một con số có kích thước 32 bits Khi trình bày người ta chia con số 32 bits này thành bốn
phần, mỗi phần có kích thước 8 bits, gọi là octet hoặc byte Có các cách trình bày sau:
Ký pháp thập phân có dấu chấm (dotted-decimal notation) Ví dụ: 172.16.30.56
Ký pháp nhị phân Ví dụ: 10101100 00010000 00011110 00111000
Ký pháp thập lục phân Ví dụ: 82 39 1E 38
Không gian địa chỉ IP (gồm 232 địa chỉ) được chia thành 5 lớp (class) để dễ quản lý đó là: A, B,
C, D và E Trong đó các lớp A, B và C được triển khai để đặt cho các host trên mạng Internet,
lớp D dùng cho các nhóm multicast, còn lớp E phục vụ cho mục đích nghiên cứu
IV Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan:
Địa chỉ host là địa chỉ IP có thể dùng để đặt cho các interface của các host Hai host nằm cùng
một mạng sẽ có network_id giống nhau và host_id khác nhau
Địa chỉ mạng (network address): là địa chỉ IP dùng để đặt cho các mạng Phần host_id của địa
chỉ chỉ chứa các bit 0 Địa chỉ này không thể dùng để đặt cho một Interface Ví dụ 172.29.0.0
Trang 22Địa chỉ Broadcast: là địa chỉ IP được dùng để đại diện cho tất cả các host trong mạng Phần host
id chỉ chứa các bit 1 Địa chỉ này cũng không thể dùng để đặt cho một host được Ví dụ 172.29.255.255
Các phép toán làm việc trên bit :
Mặt nạ mạng (Network Mask): là một con số dài 32 bits, là phương tiện giúp máy xác định
được địa chỉ mạng của một địa chỉ IP (bằng cách AND giữa địa chỉ IP với mặt nạ mạng) để phục
vụ cho công việc routing Mặt nạ mạng cũng cho biết số bit nằm trong phần host_id Được xây dựng bằng cách bật các bit tương ứng vớp phần network_ id và tắt các bit tương ứng với phần host_id
Mặt nạ mặc định của các lớp không chia mạng con
Lớp A 255.0.0 Lớp B 255.255.0.0 Lớp C 255.255.255.0
V Giới thiệu các lớp địa chỉ:
1 Lớp A
Dành một byte cho phần network_id và ba byte cho phần host_id
Trang 23Hình 2.3
Để nhận biết lớp A, bit đầu tiên của byte đầu tiên phải là bit 0 Dưới dạnh nhị phân, byte này có
dạng 0XXXXXXX Vì vậy, những địa chỉ IP có byte đầu tiên nằm trong khoảng từ 0
(00000000) đến 127 (01111111) sẽ thuộc lớp A Ví dụ : 50.14.32.8
Byte đầu tiên này cũng chính là network_id, trừ đi bit đầu tiên làm ID nhận dạng lớp A, còn lại 7
bits để đánh thứ tự các mạng, ta được 128 (27) mạng lớp A khác nhau Bỏ đi hai trường hợp đặc
biệt là 0 và 127 Kết quả là lớp A chỉ còn 126 địa chỉ mạng, 1.0.0.0 đến 126.0.0.0
Phần host_id chiếm 24 bits, tức có thể đặt địa chỉ cho 16,777,216 host khác nhau trong mỗi
mạng Bỏ đi địa chỉ mạng (phần host_id chứa toàn các bit 0) và một địa chỉ Broadcast (phần
host_id chứa toàn các bit 1) như vậy có tất cả 16,777,214 host khác nhau trong mỗi mạng lớp A
Ví dụ đối với mạng 10.0.0.0 thì những giá trị host hợp lệ là 10.0.0.1 đến 10.255.255.254
Hình 2.4
2 Lớp B
Dành 2 bytes cho mỗi phần network_id và host_id
Hình 2.5 Dấu hiệu để nhận dạng địa chỉ lớp B là byte đầu tiên luôn bắt đầu bằng hai bit 10 Dưới dạng nhị
phân, octet có dạng 10XXXXXX Vì vậy những địa chỉ nằm trong khoảng từ 128 (10000000)
đến 191 (10111111) sẽ thuộc về lớp B Ví dụ 172.29.10.1 là một địa chỉ lớp B
Phần network_id chiếm 16 bits bỏ đi 2 bits làm ID cho lớp, còn lại 14 bits cho phép ta đánh thứ
tự 16,384 (214) mạng khác nhau (128.0.0.0 d8ến 191.255.0.0)
Phần host_id dài 16 bits hay có 65536 (216) giá trị khác nhau Trừ đi 2 trường hợp đặc biệt còn
lại 65534 host trong một mạng lớp B Ví dụ đối với mạng 172.29.0.0 thì các địa chỉ host hợp lệ là
từ 172.29.0.1 đến 172.29.255.254
Trang 24Hình 2.6
3 Lớp C
Dành 3 bytes cho phần network_id và một byte cho phần host_id
Hình 2.7 Byte đầu tiên luôn bắt đầu bằng 3 bits 110 và dạng nhị phân của octet này là 110XXXXX Như vậy những địa chỉ nằm trong khoảng từ 192 (11000000) đến 223 (11011111) sẽ thuộc về lớp C
Trang 25Hình 2.9
6 Chia mạng con (subnetting)
Giả sử ta phải tiến hành đặt địa chỉ IP cho hệ thống có cấu trúc như sau:
Hình 2.10 Theo hình trên, ta bắt buộc phải dùng đến tất cả là 6 đường mạng riêng biệt để đặt cho hệ thống
mạng của mình, mặc dù trong mỗi mạng chỉ dùng đến vài địa chỉ trong tổng số 65,534 địa chỉ
hợp lệ -> một sự phí phạm to lớn Thay vì vậy, khi sử dụng kỹ thuật chia mạng con, ta chỉ cần
sử dụng một đường mạng 150.150.0.0 và chia đường mạng này thành sáu mạng con theo hình
bên dưới:
Trang 26Hình 2.11
Rõ ràng khi cấp phát địa chỉ cho các hệ thống mạng lớn, người ta phải sử dụng kỹ thuật chia mạng con trong tình hình địa chỉ IP ngày càng khan hiếm Xét về khía cạnh kỹ thuật, chia mạng con chính là việc dùng một số bit trong phần host_id ban đầu để đặt cho các mạng con Lúc này cấu trúc của địa chỉ IP gồm 3 phần: network_id, subnet_id và host_id Số bit dùng trong subnet_id bao nhiêu là tuỳ thuộc và chiến lược chia mạng con của người quản trị, có thể là con số tròn byte (8 bits) hoặc một số bit lẻ vẫn được Tuy nhiên, ta không để subnet_id chiếm trọn số bit
có trong host_id ban đầu, cụ thể là subnet_id ≤ host_id -2
Hình 2.12
Số lượng host trong mỗi mạng con được xác định bằng số bit trong phần host_id;
2x-2 (trường hợp đặc biệt) là số địa chỉ hợp lệ có thể đặt cho các host trong mạng con Tương tự
số bit trong phần subnet_id xác định số lượng mạng con Giả sử số bit là y -> 2y là số lượng mạng con có được
Một số khái niệm mới:
Địa chỉ mạng con (địa chỉ đường mạng): Bao gồm cả phần network_id và subnet_id, phần host_id chỉ chứa các bit 0 Theo hình trên thì ta có các địa chỉ mạng con sau: 150.150.1.0, 150.150.2.0,…
Trang 27 Địa chỉ broadcast trong một mạng con: Bật tất cả các bit trong phần host_id lên 1 Ví
dụ địa chỉ broadcast của mạng con 150.150.1.0 là 150.150.1.255
Mặt nạ mạng con (subnet mask): Giúp máy tính xác định được địa chỉ mạng con của
một địa chỉ host Để xây dựng mặt nạ mạng con cho một hệ thống địa chỉ, ta bật các
bit trong phần host_id thành 0 Ví dụ mặt nạ mạng con dùng cho hệ thống mạng trong
mô hình trên là 255.255.255.0
Vấn đề đặt ra là khi xác định được một địa chỉ IP (ví dụ 172.29.8.230) ta không thể biết được
host này nằm trong mạng nào (không thể biết mạng này có chia mạng con hay không, và có nếu
chia thì dùng bao nhiêu bit để chia) Chính vì vậy khi ghi nhận địa chỉ IP của một host, ta cũng
phải cho biết subnet mask là bao nhiêu, ví dụ 12.29.8.230/255.255.255.0 hoặc 172.29.8.230/24
6 Địa chỉ riêng (private address) và cơ chế chuyển đổi địa chỉ mạng (Network
Address Translation –NAT)
Tất cả các IP host khi kết nối vào mạng Internet đều phải có một địa chỉ IP o tổ chức IANA
(Internet Assigned Numbers Authority) cấp phát – gọi là địa chỉ hợp lệ (hay là được đăng ký)
Tuy nhiên số lượng host kết nối vào mạng ngày càng gia tăng dẫn đến tình trạng khan hiếm địa
chỉ IP Một giải pháp đưa ra là sử dụng cơ chế NAT kèm theo RFC 1918 quy định danh sách địa
chỉ riêng Các địa chỉ này sẽ không được IANA cấp phát – hay còn gọi là địa chỉ không hợp lệ
Bảng sau liệt kê danh sách các địa chỉ này:
10.0.0.0 đến 10.255.255.255
172.16.0.0 đến 172.32.255.255
B 16
192.168.0.0 đến 192.168.255.255
C 256
Chương 3: CÁC THIẾT BỊ MẠNG
I Card giao tiếp mạng (NIC – Network Interface Card)
1 Khái niệm:
Card giao tiếp mạng là một loại card mở rộng được gắn thêm trên máy tính, cung cấp giao tiếp
vật lý và logic giữa máy tính với các thiết bị mạng, hệ thống mạng thông qua phương tiện truyền
dẫn
NIC được gắn trên bo mạch chính của máy tính thông qua các khe cắm mở rộng như: ISA
(Industry Standard Architecture), PCI (Peripheral Component Interconnect), USB (Universal
Serial Bus), PCMCIA (Personal Computer Memory Card International Association)-chức năng
Plug and Play, PCI-Express hoặc được tích hợp sẵn trên bo mạch chính
Trang 28Trước khi nói về việc giao tiếp của NIC với các phương tiện truyền dẫn ta xét đến môi trường truyền dẫn trong mạng máy tính Môi trường truyền trong mạng máy tính được chia làm hai loại:
Vô tuyến, Hữu tuyến
Ở môi trường truyền Hữu tuyến ứng với phương tiện truyền là Cáp dẫn điện
Ở môi trường truyền Vô tuyến ứng với phương tiện truyền là Sóng điện từ (từ tần số Radio đến tần số Hồng ngoại)
Phần giao tiếp với các dạng Cáp dùng các chuẩn đầu nối: BNC, RJ-45, RJ-11, AUI, USB, Fiber connectors - đầu nối cáp quang
Phần giao tiếp với các dạng sóng điện từ được thực hiện bởi 1 card Wireless có Angten tích hợp trên bo mạch của NIC hoặc card wireless rời sử dụng giao tiếp PCMCIA
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của công nghệ không dây, đặc biệt là sự ra đời của công nghệ Centrino dành cho Laptop-máy tính xách tay đã làm cho các quan niệm kết nối mạng trước đây trở nên mờ nhạt theo năm tháng
Ứng với mỗi loại mạng riêng biệt, như Ethernet, Token Ring, FDDI, ARCNET ta có những loại NIC khác nhau được thiết kế phù hợp với các loại mạng đó dựa trên các chuẩn công nghệ đặc thù của loại mạng
Ứng với mỗi loại đầu nối (BNC, RJ-45, AUI…) có những loại Cáp khác nhau để đấu nối
Trên mỗi NIC có một mã số được in ngay trên bề mặt của card Mã số này gọi là địa chỉ MAC (Media Access Control) hay còn gọi địa chỉ vật lý của NIC Địa chỉ này do IEEE-Viện Công Nghệ Điện và Điện Tử cấp cho các nhà sản xuất NIC Do đó đối với mỗi NIC địa chỉ này là duy nhất trên thế giới, bao gồm 6 bytes có dạng XX-XX-XX-XX-XX-XX trong đó 3 bytes đầu là mã
số của nhà sản xuất, 3 bytes sau là serial của NIC do hãng đó sản xuất Mã số này được ghi vĩnh viễn vào trong ROM của NIC
Trên hầu hết các NIC đều được thiết kế sẵn 1 khe cắm PROM remote-boot lưu trữ các chương trình khởi động từ xa Dùng cho các máy trạm không có ổ cứng, chúng được khởi động từ một máy chủ hỗ trợ dịch vụ này
2 Các chức năng chính của NIC:
Chuẩn bị dữ liệu đưa lên mạng: trước khi đưa lên mạng, dữ liệu phải được chuyển từ dạng byte, bit sang tín hiệu điện để có thể truyền đi trên cáp, tín hiệu sóng điện từ để truyền ra không trung Gởi và thỏa thuận các quy tắc truyền dữ liệu giữa máy tính với các thiết bị mạng
Kiểm soát luồng dữ liệu giữa máy tính và hệ thống cáp
3 Giới thiệu các dạng NIC hiện nay đang được sử dụng:
Trang 29Hình 3.1: NIC PCI tích hợp 3 cổng giao tiếp BNC,AUI,RJ-45 trên cùng 1 card
Hình 3.2: NIC ISA tích hợp RJ-45 và ST,SC để nối cáp quang
Hình 3.3: NIC PCI giao tiếp Wireless tích hợp trên bo mạch của NIC
Trang 30Hình 3.4: NIC PCI với Card Wireless giao tiếp PCMCIA
Hình 3.5: NIC PCMCIA Wireless cho Laptop
Hình 3.6: NIC USB WiFi 54Mbps
Ứng dụng:
Trước khi quyết định chọn 1 loại NIC để dùng cho 1 hệ thống mạng, bạn cần nắm rõ những thông tin quan trọng sau đây:
Công nghệ mạng: Ethernet, Token Ring, FDDI…
Phương tiện truyền dẫn: Cáp xoắn đôi UTP, STP, cáp Đồng trục, cáp quang, wireless
Chuẩn giao tiếp với bo mạch chính của máy tính
Trang 31II Transceiver:
Còn được gọi là MAU-Medium Access Unit (Đơn vị truy cập trung gian) Được dùng để chuyển
giao diện kết nối của một thiết bị không tương thích với giao diện kết nối một loại cáp nào đó trở
Đơn giản chỉ là một bộ khuếch đại tín hiệu giữa hai cổng của hai phân đoạn mạng
Repeater được dùng trong mô hình mạng Bus nhằm mở rộng khoảng cách tối đa trên
một đường cáp
Repeater làm việc tại tầng 1- tầng Vật lý (Physical) trong mô hình OSI
Khi cường độ tín hiệu điện được truyền trên đoạn cáp dài có chiều hướng yếu đi mà
muốn tín hiệu đó phải truyền đi tiếp, Repeater là giải pháp hiệu quả nhất Tín hiệu sẽ
được khuếch đại trong nó và truyền đến phân đoạn mạng kế tiếp
Tuy nhiên cơ chế làm việc của Repeater là khuếch đại bất cứ thứ gì nó nhận được và
truyền đi tiếp Do không phân biệt được tín hiệu mà nó phải xử lý là gì, có thể là một
khung dữ liệu hỏng hay thậm chí cả tín hiệu nhiễu nên Repeater không phải là lựa
chọn cho việc truyền tin cậy về chất lượng đường truyền Repeater không thích hợp
cho quy tắc truy cập CSMA/CD Ethernet vì nó không biết lắng nghe tín hiệu trên
đường truyền trước khi tín hiệu đó được truyền đi tiếp
Với những khuyết điểm như vậy nhưng Repeater vẫn là lựa chọn cho việc mở rộng
mạng dựa vào các yếu tố sau: rẻ tiền, phù hợp nhu cầu mở rộng độ dài của cáp mạng
Khái niệm Repeater không chỉ được đề cập trong môi trường cáp dẫn mà còn phải kể
đến môi trường sóng điện từ Sau đây là một vài minh họa về Repeater và các ứng
dụng thực tiễn của nó:
Trang 32Hình 3.8
IV Hub:
Là thiết bị có chức năng giống như Repeater nhưng nhiều cổng giao tiếp hơn cho phép nhiều thiết bị mạng kết nối tập trung với nhau tại một điểm Hub thông thường có từ 4 đến 24 cổng giao tiếp, thường sử dụng trong những mạng Ethernet 10BaseT Thật ra Hub chỉ là Repeater nhiều cổng Hub lặp lại bất kỳ tín hiệu nào nhận được từ một cổng bất kỳ và gửi tín hiệu đó đến tất cả các cổng còn lại trên nó
Hub làm việc tại tầng 1-tầng Vật lý (Physical) trong mô hình OSI
Hub được chia làm hai loại chính: Hub Thụ Passive Hub và Hub Chủ Active Hub
động- Passive Hub: Kết nối tất cả các cổng giao giao tiếp mạng lại với nhau trên nó, chuyển tín hiệu điện từ cổng giao tiếp này qua cổng giao tiếp khác Không có chức năng khuếch đại tín hiệu và xử lý tín hiệu do cấu tạo không chứa các linh kiện điện tử và nguồn cung cấp điện
Active Hub: Cấu tạo có các linh kiện điện tử và nguồn cung cấp điện riêng trên nó Do
đó tín hiệu sẽ được khuếch đại và làm sạch trước khi gửi đến các cổng giao tiếp khác Trong các loại Active Hub có 1 loại được gọi là Hub Thông minh- Intelligent Hub
Intelligent Hub được cấu tạo thêm bộ vi xử lý và bộ nhớ cho phép người quản trị có thể điều khiển mọi hoạt động của hệ thống mạng từ xa, ngoài ra còn có chức năng chuyển tín hiệu đến đúng cổng cần chuyển, và chức năng định tuyến đường truyền
Trang 33Hình 3.9: Hub 4 ports
V Bridge:
Là thiết bị dùng để nối những cấu trúc liên kết mạng giống nhau hoặc khác nhau, hay
để phân chia mạng thành những phân đoạn mạng nhằm giảm lưu thông trên mạng
Là thiết bị hoạt động ở tầng 2-tầng Liên kết dữ liệu-Data Link trong mô hình OSI
Có 2 loại Bridge: Bridge vận chuyển và Bridge biên dịch
Bridge vận chuyển: sử dụng để nối 2 mạng cục bộ sử dụng cùng giao thức truyền
thông ở tầng Data Link Không có khả năng thay đổi cấu trúc gói tin mà chỉ xem xét
địa chỉ nhận và gửi rồi chuyến gói đó đến đích cần chuyển
Bridge biên dịch: nối 2 mạng cục bộ sử dụng 2 công nghệ mạng khác nhau Ví dụ
Ethernet và Token Ring
Kiểm soát lưu thông mạng tại điểm giao nhau giữa hai phân đoạn mạng Điều này làm
giảm cơ hội phát sinh lỗi trong 1 phân đoạn, tránh ảnh huởng đến các phân đoạn khác
Khi tiếp nhận những gói dữ liệu, Bridge sẽ lọc những gói dữ liệu đó và chỉ chuyển
những gói cần thiết Điều này thực hiện được nhờ vào việc Bridge lưu bảng địa chỉ
MAC của các máy trạm ở mỗi đầu kết nối, khi nhận được gói dữ liệu nó phân tích và
xác nhận được địa chỉ nơi gửi, nơi nhận của gói đó Dựa trên bảng địa chỉ phía nhận
nó sẽ quyết định có gửi gói đó đi hay không
Nếu địa chỉ nơi gửi chưa có trong bảng địa chỉ MAC của Bridge, nó sẽ lưu địa chỉ đó
vào trong bảng MAC
Nếu địa chỉ nơi nhận có trong danh sách bảng địa chỉ MAC ở đầu nhận thì nó cho là
địa chỉ ở phần mạng phía gửi nên nó không chuyển, nếu khác nó sẽ chuyển gói dữ liệu
sang phần mạng bên kia
Trang 34Hình 3.10: Cơ chế làm việc của Bridge
Ngoài khái niệm Bridge mà ta biết là 1 thiết bị phần cứng còn có Bridge phần mềm Bridge phần mềm ta dùng một máy tính kết nối mạng và cấu hình cho máy tính đó hoạt động với chức năng như một Bridge
Hình 3.11: Mô hình ứng dụng của Bridge
Trang 35Hình 3.12
VI Switch:
Switch là sự kết hợp hài hòa về kỹ thuật giữa Bridge và Hub Cơ chế hoạt động của
Switch rất giống Hub bởi vì là thiết bị tập trung các kết nối mạng lại trên nó Lý thú
thay những cổng giao tiếp trên Switch cứ như thể là những Bridge thu nhỏ được xây
dựng trên mỗi cổng giao tiếp đó
Là thiết bị hoạt động ở tầng 2-tầng Liên kết dữ liệu-Data Link trong mô hình OSI
Switch cũng dựa vào bảng địa chỉ MAC để định ra đường đi tốt nhất cho dữ liệu
truyền qua nó
Số lượng các cổng giao tiếp từ 4 đến 48 cổng
Không như Hub gửi tín hiệu nhận được đến tất cả các cổng giao tiếp còn lại trên nó,
Switch sẽ cố gắng theo dõi những địa chỉ MAC được gán trên mỗi cổng giao tiếp của
nó và định ra đường đi chỉ dành cho một địa chỉ nào đó đã định trước đến chính xác
một cổng nào đó mà nó cho là thích hợp, giải quyết tình trạng giảm băng thông khi
thông lượng mạng tăng lên Điều này mở ra cho thấy một ống dẫn ảo giữa các cổng
giao tiếp mà nó có thể sử dụng băng thông tối đa của kiến trúc mạng
Trang 36Hình 3.13: Switch và kiểu kết nối Switch-Switch
Không chỉ có những tính năng cơ bản trên, Switch còn có những tính năng mở rộng khác:
o Store and Forward: Đọc toàn bộ nội dung của một gói dữ liệu vào bộ nhớ và sẽ truyền đi sau khi việc đọc hoàn tất
o Cut Through: Chỉ cần phân tích 14 bytes đầu tiên gói dữ liệu (chỉ header mà thôi) và ngay lậo tức switch quyết định truyền gói dữ liệu đến nơi mà nó cần gởi tới
o Trunking: Hỗ trợ việc tăng tốc truyền giữa hai Switch cùng loại kết nối với nhau;
o Spanning Tree: Tạo ra những đường truyền dự phòng khi đường truyền chính
bị mất kết nối;
o VLAN: Tạo những mạng ảo nhằm nâng cao tính bảo mật giữ những vùng trong toàn hệ thống mạng, cũng như với những hệ thống khác Điều này không còn phụ thuộc vào các yếu tố cấu trúc vật lý của mạng
Mô hình chia VLAN
VII Router
Trang 37 Là Bộ định tuyến dùng để kết nối nhiều phân đoạn mạng, hay nhiều kiểu mạng
(thường là không đồng nhất về kiến trúc và công nghệ) vào trong cùng một mạng
tương tác
Thông thường có một bộ xử lý, bộ nhớ, và hai hay nhiều cổng giao tiếp ra/vào
Là thiết bị định tuyến đường đi cho việc truyền thông trên mạng, khả năng vận chuyển
dữ liệu với mức độ thông minh cao bằng cách xác định đường đi ngắn nhất cho việc
gửi dữ liệu Nó có thể định tuyến cho 1 gói dữ liệu đi qua nhiều kiểu mạng khác nhau
và dùng bảng định tuyến lưu những địa chỉ đường mạng để xác định đường đi tốt nhất
để đến đích
Router làm việc ở tầng 3-tầng Mạng-Network trong mô hình OSI
Lợi thế của việc dùng Router hơn Bridge (vì Routers là sự kết hợp của Bridge và
Switch) đó là vì Router có thể xác định đường đi tốt nhất cho dữ liệu đi từ điểm bắt
đầu đến đích của nó Cũng giống như Bridge, Router có khả năng lọc nhiễu tuy nhiên
nó làm việc chậm hơn Bridge vì nó thông minh hơn do phải phân tích mỗi gói dữ liệu
qua nó Do những tính năng thông minh như thế nên giá thành của Router cao hơn các
thiết bị khác rất nhiều
Ứng dụng trong các kết nối LAN-LAN, LAN-WAN, WAN-WAN, ví dụ kết nối giữa
mạng LAN của bạn với ISP mà bạn đang sử dụng (có thể là đường truyền Dial-up,
Leasline, xDSL, ISDN…), xây dựng một mạng WAN (từ 2 router trở lên), kết nối 2
mạng LAN vật lý thành một LAN logic, kết nối giữa 2 ISP với nhau
Các loại Router Mô hình ứng dụng thực tế của Router
VIII Brouter:
Brouter thật sự là một ý tưởng tài tình vì nó là sự kết hợp các tính năng tốt nhất của
Bridge và Router Được dùng để kết nối những phân đoạn mạng khác nhau và cũng
chỉ định tuyến cho 1 giao thức cụ thể nào đó
Cần nhắc lại Bridge làm việc tại tầng Data Link,Router làm việc tại tầng Network của
mô hình OSI
Trang 38 Đầu tiên Brouter kiểm tra những gói dữ liệu đi vào, xác định xem giao thức của gói đó
có thể định tuyến hay không, ví dụ TCP/IP thì có thể, ngược lại giao thức NetBEUI của Microsoft thì không thể Nếu Router xác định gói dữ liệu đó có thể định tuyến nó
sẽ dựa vào bảng định tuyến để định ra đường đi cho gói đó, ngược lại nó sẽ dựa vào bảng địa chỉ MAC để xác định nơi nhận thích hợp
IX Gateway:
Là thiết bị trung gian dùng để nối kết những mạng khác nhau cả về kiến trúc lẫn môi trường mạng Gateway được hiểu như cổng ra vào chính của một mạng nội bộ bên trong kết nối với mạng khác bên ngoài Có thể đó là thiết bị phần cứng chuyên dụng nhưng thường là một server cung cấp kết nối cho các máy mà nó quản lý đi ra bên ngoài giao tiếp với một mạng khác
Gateway là thiết bị mạng phức tạp nhất vì nó xử lý thông tin ở tất cả các tầng trong mô hình OSI nhưng thường thì ở tầng 7 Ứng dụng (Application) vì ở đó nó chuyển đổi dữ liệu và đóng gói lại cho phù hợp với những yêu cầu của địa chỉ đích đến Điều này làm cho Gateway chậm hơn những thiết bị kết nối mạng khác và tốn kém hơn
Gateway kiểm soát tất cả các luồng dữ liệu đi ra và vào bên trong mạng, nhằm ngăn chặn những kết nối bất hợp pháp, cho phép người quản trị chia sẻ một số dịch vụ trên
nó (cho chia sẻ internet)
từ viết tắt được ghép bởi những chữ cái đầu tiên của MOdulator/DEModulator –Bộ điều biến/Bộ giải điều biến
Trang 39 Việc giao tiếp của Modem với máy tính được chia làm hai loại: Internal-gắn trong và
External-gắn ngoài
Loại Internal: giao tiếp với máy tính bằng các khe cắm mở rộng trên Bo mạch chính
của máy tính như khe ISA, PCI Trong khi đó loại External giao tiếp với máy tính
bằng các cổng như COM, USB Cả 2 loại đều hỗ trợ tốc độ truy cập lên đến 56Kb/s
Phương tiện truyền dẫn của Modem là cáp điện thoại, sử dụng đầu RJ-11 để giao tiếp
Dùng để kết nối Internet bằng kết nối Dial-up-dịch vụ quay số thông qua mạng điện
thoại công cộng
Kết nối các mạng LAN ở những khu vực địa lý khác nhau tạo thành một mạng WAN
Hỗ trợ công tác quản trị từ xa bằng dịch vụ RAS-Remote Access Service (Dịch vụ
truy cập từ xa) , giúp cho nhà quản trị mạng quản lý dễ dàng hệ thống mạng của mình
từ xa
Chi phí cho việc sử dụng Modem là rất thấp, xong mạng lại hiệu quả rất lớn
Sơ đồ kết nối của Modem Internal và External
XI Các phương tiện truyền dẫn:
Phương tiện truyền dẫn là những phương tiện vật lý cung cấp môi trường truyền dẫn
cho các thiết bị mạng truyền thông với nhau trên nó Được chia làm 2 loại là Hữu
tuyến và Vô tuyến Tín hiệu truyền thông trên nó là tín hiệu Số và tín hiệu Tương tự
Các thuộc tính của phương tiện truyền dẫn:
o Chi phí;
o Phương thức thiết kế, lắp đặt;
o Băng tầng cơ sở-Baseband;
o Băng thông-Bandwidth;
o Độ suy giảm của tín hiệu- Signal Attenuation;
o Nhiễu điện từ- Electronmagnetic Interference(EMI);
o Nhiễu xuyên kênh
Trang 401 Các loại Cáp:
1.1 Cáp đồng trục (coaxial):
Là loại cáp đầu tiên được dùng trong các LAN
Cấu tạo của Cáp đồng trục gồm:
Dây dẫn trung tâm: lõi đồng hoặc dây đồng bện;
Một lớp cách điện giữa dây dẫn phía ngoài và dây dẫn trung tâm;
Dây dẫn ngoài: bao quanh lớp cách điện và dây dẫn trung tâm dưới dạng dây đồng bện hoặc lá Dây này có tác dụng bảo vệ dây dẫn trung tâm khỏi nhiễu điện từ và được kết nối để thoát nhiễu;
Ngoài cùng là một lớp vỏ nhựa-plastic bảo vệ cáp
Cấu tạo của cáp đồng trục
Có 2 loại cáp đồng trục: Cáp đồng trục mỏng và Cáp đồng trục dày
Cáp đồng trục mỏng (Thin cable/Thinnet):
Được dùng trong mạng Ethernet 10Base2;
Có đường kính khoảng 6 mm, thuộc họ RG-58;
Chiều dài tối đa cho phép truyền tín hiệu là 185m;
Dùng đầu nối: BNC, T connector;
Số node tối đa trên 1 đoạn cáp là 30;
Tốc độ : 10Mbps;
Chống nhiễu tốt;
Độ tin cậy: trung bình
Độ phức tạp cho việc lắp đặt: trung bình;
Khắc phục lỗi kém;