1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các tổ chức tài chính phi ngân hàng

25 3,9K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Tác giả Võ Khắc Biên, Võ Trường Thọ, Võ Văn Xanh, Nguyễn Phú Thịnh, Trà Xuân Thỏa, Lưu Công Quyền
Người hướng dẫn GVHD: Hoàng Thọ Phú
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Đại Học Kinh Tế - Luật
Chuyên ngành Lý thuyết tài chính tiền tệ
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 67,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các tổ chức tài chính phi ngân hàng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá trình phát triển nền kinh tế, bên cạnh các tổ chức ngân hàng thì còn cómột bộ phận không kém phần quan trọng trong việc tạo ra dòng luân chuyển vốn từngười tiết kiệm – cho vay đến người chi tiêu – đi vay, đó là các tổ chức tài chính phi ngânhàng Ngoài ra, vai trò của các tổ chức tài chính phi ngân hàng còn được nâng cao trongquá trình sáng tạo và đổi mới trong hệ thống tài chính Hiện nay, các tổ chức tài chính phingân hàng đang cạnh tranh trực tiếp với các tổ chức tài chính tín dụng ngân hàng thôngqua việc cung cấp thêm dịch vụ ngân hàng cho khác hàng của mình Để phần nào giúpchúng ta hiểu hơn về các tổ chức phi ngân hàng, từ hệ thống các tổ chức, đặc điểm từngloại công ty, đến vai trò của chúng, nhóm chúng tôi thực hiện tiểu luận về đề tài:” Các tổchức phi ngân hàng” Tuy nhiên, với thời lượng cho phép, cộng với khả năng nghiên cứucòn hạn chế, nên trong quá trình thực hiện đề tài còn nhiều thiếu sót, mong thầy và cácbạn thông cảm và nhóm chúng tôi cũng hy vọng nhận được những ý kiến đóng góp từphía thầy và các bạn để bài tiểu luận có thể hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn

Nhóm thực hiện Nhóm 12.1

Trang 3

MỤC LỤC

1 Khái niệm về tổ chức tài chính phi ngân hàng 4

2 Công ty bảo hiểm 5

2.1 Công ty bảo hiểm nhân thọ 6

2.2 Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn 7

3 Các tính chất cơ bản của ngành công nghiệp bảo hiểm 8

3.1 Hợp đồng và phí bảo hiểm 8

3.1.1 Hợp đồng bảo hiểm 8

3.1.2 Phí bảo hiểm 9

3.2 Các nguyên tắc quản trị bảo hiểm 9

3.2.1 Sàng lọc 10

3.2.2 Phí bảo hiểm rủi ro hợp lý 11

3.2.3 Các điều khoản cam kết 11

3.2.4 Phòng ngừa gian lận 11

3.2.5 Hủy bỏ hợp đồng 12

3.2.6 Khấu trừ 12

3.2.7 Đồng bảo hiểm 12

3.2.8 Giới hạn số tiền thanh toán bảo hiểm 12

3.3 Thặng dư và các khoản dự trữ 13

3.4 Doanh thu của công ty bảo hiểm 14

3.4.1 Thu phí bảo hiểm 14

3.4.2 Thu nhập đầu tư 15

3.5 Bảo đảm Chính phủ 15

3.6 Chính sách điều hành tác động lên các quyết định đầu tư của công ty bảo hiểm 16

4 Quỹ hưu trí 16

4.1 Định nghĩa 16

4.2 Đặc điểm 16

4.3 Phân loại quỹ hưu trí: 20

Trang 4

4.3.2 Quỹ mới 21

4.4 Quỹ hưu trí ở Việt Nam: là một phần của bảo hiểm xã hội, do các cơ quan nhà nước quản lí 21

5 Công ty tài chính 22

5.1 Khái quát về công ty tài chính 22

5.2 Phân loại công ty tài chính 23

5.2.1 Các công ty tài chính bán hàng (Sale finance company) 23

5.2.2 Công ty tài chính tiêu dùng (Consumer finance company) 24

5.2.3 Công ty tài chính doanh nghiệp (business finance company) 24

6 Kết luận 24

Tài liệu tham khảo: 26

Trang 5

1 Khái niệm về tổ chức tài chính phi ngân hàng

Đây là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như lànội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn,không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính,công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác

2 Công ty bảo hiểm

Trong sản xuất kinh doanh cũng như trong đời sống của con người luôn chịu sự tácđộng của thiên nhiên, xã hội Do quy luật của tự nhiên rất phức tạp, con người không thểmột sớm một chiều có thể nhận thức đầy đủ về nó như: bão lụt, động đất, hạn hán, bệnhdịch…có thể gây ra những tổn thất đối với nhà cửa, súc vật , mùa màng, tư liệu sản xuất

và con người Để hạn chế tổn thất do thiên tai gây ra, con người một mặt áp dụng nhữngbiện pháp phòng ngừa như xây dựng đê đập, hệ thống thủy nông,dự báo thời tiết…Mặtkhác, để khắc phục những hậu quả do thiên tai gậy ra, con người hình thành và hoàn thiệndần việc áp dụng biện pháp kinh tế: thành lập quỹ dự trữ bảo hiểm nhằm dảm bảo về mặttài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của con người được tiến hànhliên tục bình thường

Trong đời sống ngày nay, con người có thể gặp những rủi ro khách quan như tainạn, mất việc làm, mất người nuôi dưỡng, bị phá sản, bị bệnh Những rủi ro đó có thể làmcho cuộc sống của bản thân và gia đình họ sống trong sự sợ hãi của sự suy sụp về tàichính Để giảm bớt áp lực tài chính nặng nề đó,đảm bảo đời sống ổn định,quỹ dự trữ bảohiểm của hộ gia đình đã được hình thành Ở AI Cập khoảng 2500 TCN, những công nhânxây dựng kim tự tháp đã biết lập ra các quỹ chung để trợ giúp lẫn nhau khi có tai nạn trêncông trường

Các nhu cầu về bảo hiểm xuất hiện từ rất sớm, những mầm mống đầu tiên của việc

dự trữ bảo hiểm xuất hiện từ cuối công xã nguyên thủy Quỹ dự trữ bảo hiểm ban đầu vớihình thức rất đơn giản cùng với sự phát triển của xã hội loài người, hình thức bảo hiểmđược hoàn thiện dần và các loại hình bảo hiểm xuất hiện ngày càng đa dạng đáp ứng nhu

Trang 6

một tất yếu khách quan vì nhu cầu duy trì một cuộc sống tốt đẹp của các tầng lớp dân cư,nhu cầu duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế và còn vì

nó là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt để thu lợi nhuận

Để bảo vệ bản thân khỏi rủi ro chúng ta cần phải mua các hợp đồng bảo hiểm Vớicác khoản phí đống góp theo hợp đồng, các công ty bảo hiểm sẽ thanh toán cho chúng tamột khoản tiền để chi trả chi phí nếu rủi ro xảy ra

Các công ty bảo hiểm là các trung gian tài chính thực hiện nhiệm vụ chi trả cho các

sự kiện không mong đợi xảy ra(với khoản phí hay giá cả nhất định)

Có 2 dạng công ty bảo hiểm:

2.1 Công ty bảo hiểm nhân thọ

Công ty bảo hiểm nhân thọ phát hành bảo hiểm chủ yếu cho cái chết và sức khỏe

của người chủ sở hữu bảo hiểm Công ty bảo hiểm nhân thọ cam kết chi trả một lần haynhiều lần cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm Thực sự bảo hiểm nhân mạng chưa hẳn

là sản phẩm tài chính chủ chốt của các công ty bảo hiểm, phần lớn công việc kinh doanhcủa Công ty bảo hiểm nhân thọ là cung cấp các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm liên quan đếnquỹ hưu trí và sức khỏe

- Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential Việt Nam) với cácsản phẩm bảo hiểm nhân thọ như:

+ Phú - Hưng phúc Định kỳ (Mới)

+ Phú - Hưng thịnh (Mới)

+ Phú-An Bình

+ Phú-An Hưởng Thịnh Vuợng

+ Phú-An Gia Hưu Trí

+ Phú-Bảo gia Đầu tư

+ Phú-An Gia Tích Lũy Định Kỳ

Trang 7

+ Phú-An Gia Thành Tài

+ An sinh giáo dục toàn diện

+ An sinh tích lũy trọn đời

+ An khang linh hoạt trọn đời

2.2 Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn

Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn bảo hiểm cho một loạt các sự kiện không định

trước khác nhau liên quan đến tài sản như:

- Mất mát hư hỏng tài sản

- Mất hay thiệt hại khả năng tạo thu nhập của tài sản

- Thiệt hại hay thương tật gây ra cho chủ thể khác thứ 3

- Thiệt hại hay thương tật do tai nạn nghề nghiệp

* Vd: Ở Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam thì cung cấp nhữngsản phẩm bảo hiểm tài sản và tai nạn như:

+ Bảo hiểm nhà chung cư

+ Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khi có rủi ro về tài sản

+ Bảo hiểm Mọi rủi ro tài sản

+ Bảo hiểm Cháy, nổ bắt buộc

Trang 8

+ Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt.

+ Bảo hiểm xe ôtô

+ Bảo hiểm môtô – xe máy…

Điểm khác biệt chủ chốt giữa công ty bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tài sản là mức

độ khó khăn trong việc quyết định chi trả cho người giữ hợp đồng bảo hiểm hay không vànếu có thì chi trả bao nhiêu và như thế nào Đối với bảo hiểm nhân thọ thì phương diệnxác suất thống kê rủi ro là tương đối dễ dàng.Việc tính toán xác định quy mô và thời hạnnghĩa vụ của công ty bảo hiểm tài sản là khó hơn do tính ngẫu nhiên thaát thường của các

sự kiện rủi ro,của thiên tai…Do vậy, tính không ổn định về quy mô và thời gian của cáckhoản chi trả tiền để đáp ứng các nghĩa vụ có tác động lớn đến quyết định đầu tư của cáccông ty bảo hiểm Trong thực tế, phần lớn các công ty bảo hiểm lớn thường bán cả haisản phẩm dịch vụ bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tài sản

3 Các tính chất cơ bản của ngành công nghiệp bảo hiểm

3.1 Hợp đồng và phí bảo hiểm

3.1.1 Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có bảo đảm luật pháp trong đó người giữ hợp đồng

hay người được bảo hiểm đóng các khoản phí nhất định để các công ty bảo hiểm ( haynhà phát hành bảo hiểm ) chi trả một khoản tiền bảo đảm cho các trường hợp rủi ro cụ thể

trong tương lai Hoặc Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng giao kết về các quyền lợi và trách

nhiệm giữa Công ty và Chủ hợp đồng bảo hiểm cũng như các Thành viên được bảo hiểmtham gia sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ nhóm Hợp đồng bảo hiểm bao gồm nhưngkhông hạn chế các văn bản sau: Giấy chứng nhận bảo hiểm, Điều khoản bảo hiểm, Danhsách các Thành viên được bảo hiểm, các giấy tờ và phụ lục khác có liên quan

- Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh

nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là ngườiđược bảo hiểm hoặc người thụ hưởng

Trang 9

- Doanh nghiệp bảo hiểm: là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động

theo quy định của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm

Công ty bảo hiểm đứng ra gánh chịu rủi ro một phần hay toàn bộ đối với những sựkiện rủi ro không định trước được trong cuộc sống Tuy nhien bên cạnh việc đứng ragánh chịu rủi ro đó thì các công ty bảo hiểm cũng rất quan tâm đến những điệu kiện cụthể của các cá nhân, tổ chức sử dụng bảo hiểm; đánh giá những rủi ro có thể xảy ra cũngnhư xác suất xảy ra của các rủi ro để có thể ký những hợp đồng bảo hiểm có lợi cho mìnhcũng như người sử dụng bảo hiểm

Hình thức của hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản Bằng chứng giaokết hợp đồng là giấy chứng nhận bảo hiểm hay đơn bảo hiểm

3.1.2 Phí bảo hiểm

Khi công ty chấp nhận hợp đồng bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm trở thành tài sảncho người được bảo hiểm (là khách hàng của công ty bảo hiểm) và là khoản nghĩa vụ đốivới công ty bảo hiểm

Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo

hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm Phíbảo hiểm có thể được chi trả cho công ty một lần hay nhiều lần

Tương tự như các loại hợp đồng khác, hợp đồng bảo hiểm sẽ bị hủy bỏ khi ngườiđược bảo hiểm không đóng phí, đóng phí không đủ, hoặc không đúng thời hạn

3.2 Các nguyên tắc quản trị bảo hiểm

Với chức năng hoạt động tương tự như các ngân hàng, các công ty bảo hiểm là trunggian tài chính chuyển từ một dạng tài sản tài chính này sang một dạng tài sản tài chínhkhác Sản phẩm của các công ty bảo hiểm là cá dịch vụ bảo hiểm, để thay vào đó cáccông ty bảo hiểm nhận được phí bảo hiểm từ các hợp đồng và dùng chính phí bảo hiểm

đó để đầu tư vào các tài sản khác với mục tiêu lợi nhuận: chứng khoán, trái phiếu…rồi lạidùng tài sản này để thanh toán hợp đồng bảo hiểm

Trang 10

Trong nguyên tắc quản trị ngành công nghệp bảo hiểm cần quan tâm tới nguyên tắcrủi ro lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.

- Rủi ro lựa chọn nghịch là một tình trạng kinh tế có thể nảy sinh do tồn tại tình

trạng thông tin phi đối xứng, người lựa chọn thứ tốt lại chọn phải thứ không tốt, đây làmột loại thất bại thị trường.Bên cung cấp dịch vụ bảo hiểm chấp nhận mức trả bảo hiểmcao cho khách hàng ít nguy cơ Song họ lại có ít thông tin về thứ họ được đề nghị bảohiểm hơn so với người mua bảo hiểm Nếu người mua bảo hiểm cung cấp những thôngtin không trung thực, thì công ty bảo hiểm có thể sẽ có thể ký hợp đồng trả tiền cao chođối tượng bảo hiểm nhiều nguy cơ Ví dụ, người mua bảo hiểm nhân thọ có thể dấu thôngtin về tình trạng sức khỏe tồi (ung thư) của mình, cam đoan với công ty bảo hiểm rằngmình có sức khỏe tốt, dẫn tới công ty bảo hiểm có thể đi ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọcho một người sắp chết

- Rủi ro đạo đức là một thuật ngữ kinh tế học và tài chính được sử dụng để chỉ một

loại rủi ro phát sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái Rủi ro đạo đức xảy rasau khi hợp đồng bảo hiểm đã được ký Rủi ro đạo đức là một kiểu thất bại thị trường nảysinh trong môi trường thông tin phi đối xứng.Trong hợp đồng bảo hiểm, rủi ro đạo đứcxảy ra khi hợp đồng bảo hiểm khuyến khích được bên nhận lấy rủi ro để tăng khả năngđược thanh toán tiền bảo hiểm theo hợp đồng Hầu hết những người mua bảo hiểm đềumua những hợp đồng có lợi cho mình nhất, nghĩa là khi họ gặp rủi ro thì đa phần rủi rođược chuyển cho các công ty bảo hiểm Nên khi bán hợp đồng bảo hiểm cho nhữngngười này, công ty bảo hiểm có khả năng tổn thất tiềm năng lớn Rủi ro lựa chọn nghịch

và rủi ro đạo đức tạo ra các khoản chi phí thanh toán hợp đồng cao từ khiếu nại đòi bồithường bảo hiềm

Do vậy, để có thể giảm thiểu rủi ro đối với các công ty bảo hiểm, cần có ác nguyêntắc chung sau:

3.2.1 Sàng lọc

Công ty bảo hiểm tập hợp bằng nhiều phương pháp, phân tích thông tin để có thểchọn lọc những khách hàng tốt khỏi các đối tác kém, để có thể quyết định chấp nhận haybác bỏ yêu cầu bảo hiểm từ phía người mua Tùy theo từng loại bảo hiểm thì có những

Trang 11

phương pháp cũng như cách tiếp cận khác nhau để lấy thông tin, nhưng tất cả đều vì mụcđích tránh rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn nghịch.

3.2.2 Phí bảo hiểm rủi ro hợp lý

Đối với công ty bảo hiểm, việc thu phí đối với từng mức độ rủi ro của người đượcbảo hiểm là nguyên tắc quản lý bắt buộc Lựa chọn mức thu phí tương ứng với từng mức

độ rủi ro ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của công ty bảo hiểm Vd mức giá bảo hiểmtrách nhiệm xe cơ giới hiện nay được pháp luật bảo hiểm (Bộ Tài Chính) quy định vớicác loại xe cơ giới khác nhau là khác nhau như:

+ Xe ôtô không kinh doanh vận tải dưới 6 chỗ là 379.500 VNĐ, trên 6 chỗ là759.000 VNĐ (đã có VAT)

+ Xe máy 50cc là 55.000 VNĐ, trên 50cc là 66.000 (đã có VAT)…

3.2.3 Các điều khoản cam kết

Các điều khoản cam kết có thể áp đặt nhằm đòi hỏi hành vi cư xử hợp lý từ phíangười được bảo hiểm, làm cho người giữ hợp đồng bảo hiểm nản lòng mà không thựchiện các hoạt động rủi ro để khó xảy ra khiếu nại đòi bồi thường và các công ty bảo hiểmphải bồi thường VD về nguyên tắc người mua bảo hiểm không được đàm phán, thỏathuận về việc sửa đổi, bổ sung điều khoản của hợp đồng bảo hiểm; hoặc người được bảohiểm phải để ý, sao cho sự việc bảo hiểm không xảy ra và làm tất cả để nó không xảy rahoặc làm giảm đến mức tối đa hậu quả của nó (đặc biệt là không chậm chễ đi khám bácsĩ); hoặc phải cung cấp cho hãng bảo hiểm tất cả những thông tin trung thực về sự hìnhthành, quá trình và hậu quả của sự vụ có bảo hiểm và trong trường hợp có nghi ngờ,chứng minh cho hãng bảo hiểm quyền đòi bồi thường bảo hiểm

3.2.4 Phòng ngừa gian lận

Để giảm thiểu rủi ro, ngoai các biện pháp trên các công ty bảo hiểm cũng cần phảiquan tâm đến gian lận của bên mua bảo hiểm để có biện pháp phòng ngừa, chỉ có nhữngngười được bảo hiểm hợp lý và có căn cứ mới được thanh toán Tránh những trường hợpnhư không thực hiên đúng hợp đồng mà vẫn đòi bồi thường, hoặc khiếu nại đòi bồi

Trang 12

thường với những việc mà thực tế không xảy ra, hoặc rủi ro nhỏ thiệt hai không đáng kểnhưng làm phóng đại lên để đòi được bồi thường lớn hơn…

3.2.5 Hủy bỏ hợp đồng

Các công ty bảo hiểm luôn sẵn sàng hủy bỏ hợp đồng khi có sự vi phạm các điềukhoản của hợp đồng bảo hiểm Tuy nhiên đây là chỉ biện pháp hạn chế rủi ro đạo đúcbằng cách đe dọa, nó mang y nghĩa là biện pháp chủ động phòng ngừa hơn là biện phápchế tài để đối phó Nó phần nào làm người sử dụng bảo hiểm giảm bớt vi phạm các diềukhoản của hợp đồng bảo hiểm

3.2.6 Khấu trừ

Công ty bảo hiểm sẽ khấu trừ một phần tiền bảo hiểm dưới dạng số tiền cố định hay

là phần trăm của số tiền bảo hiểm Biện pháp này phần nào đó thể hiện chế tài của công

ty bảo hiểm đối với các vi phạm của bên tham gia bảo hiểm với các điều khoản trong hợpđồng mà chưa đến mức phải hủy bỏ hợp đồng, biện pháp này làm cho người tham gia bảohiểm cùng gánh chịu với công ty khi thực hiện hợp đồng, làm cho người được bảo hiểmcùng thực hiện hoạt động phù hợp với hướng của hoạt động công ty, vì nếu có hành độnggây tổn thất đến hoạt động của công ty bảo hiểm thì cũng chính họ phải chung chịu tráchnhiệm do sự khấu trừ của công ty bảo hiểm

3.2.7 Đồng bảo hiểm

Cũng tương tự như khấu trừ bảo hiểm, đồng bảo hiểm là khi có sự dàn xếp giữangười được bảo hiểm va bên bảo hiểm để người được bảo hiểm cùng gánh chịu một tỷ lệphần trăm tổn thất với công ty bảo hiểm

3.2.8 Giới hạn số tiền thanh toán bảo hiểm

Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong quản trị bảo hiểm cần phải quy định sốtiền bảo hiểm để công ty tránh phải thanh toán những số tiền bảo hiểm vượt quá khả năng

có thể dẫn đến phá sản Dễ xảy ra rủi ro đạo đức cho công ty Đồng thời làm cho nhữngngười được bảo hiểm cẩn thận hơn với chính mình, vì khi họ co rủi ro thiệt hại lớn đếnthế nào thì số tiền bảo hiểm vẫn là cố định Trong khi đó các công ty bảo hiểm luôn bảođảm rằng tiền bồi thường bảo hiểm có thể nằm trong khả năng của họ và nó không caođến mức làm cho rủi ro đạo đúc có thể xảy ra

Ngày đăng: 26/03/2013, 20:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w