Đúc hẫng thuộc phương pháp thi công phân đoạn trong đó kết cấu nhịp được chia thành nhiều đốt gồm đốt đỉnh trụ gọi là đốt K0, và những đốt còn lại đối xứng với nhau qua mặt cắt đỉnh trụ
Trang 1chương V- Thi công đúc liền khối kết cấu nhịp
dầm liên tục bê tông cốt thép theo phương pháp phân đoạn
5.1- biện pháp thi công đúc hẫng cân bằng
5.1.1-Khái niệm về biện pháp đúc hẫng cân bằng
Phương pháp hẫng nói chung và đúc hẫng nói riêng được áp dụng đối với những loại nhịp có mô men âm tại mặt cắt gối như khung T, dầm giản đơn mút thừa và dầm liên tục
Đúc hẫng thuộc phương pháp thi công phân đoạn trong đó kết cấu nhịp được chia thành nhiều đốt gồm đốt đỉnh trụ gọi là đốt K0, và những đốt còn lại đối xứng với nhau qua mặt cắt đỉnh trụ các đốt được đúc lần lượt nối tiếp vào nhau trên đà giáo treo di động kéo dài dần
về hai phía do đó biện pháp này gọi là đúc hẫng cân bằng Trong giai đoạn thi công, kết cấu nhịp làm việc như khung T sử dụng cốt thép thớ trên của dầm để chịu tĩnh tải bản thân và các tải trọng thi công
5.1.2- Đặc điểm cấu tạo của cầu dầm liên tục thi công theo biện pháp đúc hẫng cân bằng
Cầu dầm liên tục thi công theo biện pháp đúc hẫng được thiết kế để có thể áp dụng
được biện pháp đúc cân bằng, nhịp biên có chiều dài bằng (0,6ữ0,7) chiều dài nhịp chính, cấu tạo của nhịp biên gồm hai phần, phần đầu nhịp có chiều cao không đổi nối tiếp với phần chiều cao thay đổi Đoạn có chiều cao không đổi bằng (0,15ữ 0,2) chiều dài nhịp chính và không nhỏ hơn 9m Đoạn chiều cao thay đổi có chiều dài bằng một nửa chiều dài nhịp chính
và đối xứng với nửa phía bên kia qua mặt cắt đỉnh trụ, đáy dầm có dạng đường cong parabol hoặc đường cong bậc ba Sơ đồ cầu có thể liên tục nhiều nhịp, khi số lượng nhịp lớn hơn ba người ta bố trí một nhịp khung có trụ liên kết với dầm thay cho gối cố định gọi là cầu khung-dầm
Mặt cắt ngang của dầm có tiết diện hình hộp gồm bản nắp có hai bên côngxon mở về hai phía cho đủ chiều rộng mặt cầu, bản đáy hẹp hơn có chiều rộng tương đương với chiều rộng của đỉnh trụ, hai bên thành hộp có dạng thẳng đứng hoặc xiên nghiêng ra phía ngoài, nếu mặt cầu quá rộng có thể có vách trung gian
Bản nắp hộp có chiều dày thay đổi theo phương ngang để phù hợp với sơ đồ chịu lực
và đảm bảo việc bố trí các bó cốt thép dự ứng lực thớ trên, theo phương dọc cầu bản nắp có cấu tạo không đổi
Bản đáy có chiều dày thay đổi theo phương dọc cầu, tại mặt cắt gối thường rất dày do nằm trong thớ chịu nén lớn, chiều dày thay đổi giảm dần cho đến giữa nhịp do đó mặt trên của bản đáy cũng có hình dạng đường cong, theo phương ngang cầu bản đáy có chiều dày không đổi
Theo yêu cầu chịu lực thành hộp có chiều dày thay đổi nhưng do điều kiện thi công chiều dày này không đổi trên một đoạn dài, tại đoạn gần mặt cắt gối dày 60ữ70 cm, tiếp theo là 50ữ60 cm và ở đoạn giữa nhịp dày 35ữ40 cm, chuyển tiếp chiều dày giữa các đoạn bằng vút nối
Vị trí nách hộp là nơi tiếp giáp giữa bản nắp và thành bên được mở rộng bằng vút có kích thước lớn để bố trí neo cốt thép thớ trên Tất cả các bó cốt thép thớ trên đều tập trung neo tại vị trí nách hộp
Tại mặt cắt đỉnh trụ và hai đầu nhịp có vách ngăn dày cắt ngang mặt cắt dầm chỉ chừa cửa đi hẹp phục vụ thi công và khai thác
Trang 2Toàn bộ chiều dài dầm chia thành nhiều đốt bao gồm : đốt đúc trên đỉnh trụ có chiều dài 10 ữ 12m gọi là khối K0, các đốt tiếp theo là khối K1, K2, đối xứng nhau qua mặt cắt
đỉnh trụ Nhịp chính chỉ bao gồm các đốt K nằm ở hai bên nửa nhịp, nối lại với nhau bằng một đốt nối ngắn ở giữa gọi là đốt hợp long Nhịp biên gồm các khối K đối xứng với các đốt của nửa nhịp chính ở phía bên kia của đỉnh trụ và đoạn có chiều cao không đổi cấu tạo thành một đốt riêng gọi là đốt biên Nối giữa đốt biên với các khối K cũng bằng đốt hợp long Để phân biệt người ta gọi là hợp long nhịp biên và hợp long nhịp giữa Đốt hợp long là một dạng mối nối uớt, chiều dài đốt hợp long 1ữ2m
Cốt thép dự ứng lực của dầm chủ gồm cốt thép thớ trên và cốt thép thớ dưới Các bó cốt thép bố trí trong rãnh kín tạo bằng ống ghen ruột gà đặt sẵn trong bê tông, cốt thép thớ trên nằm trong bản nắp và lần lượt neo lại theo từng cặp ở cuối mỗi đốt tại mặt gương ở hai bên nách hộp và được bê tông của đốt dầm đúc sau lấp kín, cốt thép thớ dưới chạy dọc trong bản đáy cũng lần lượt kéo lên neo từng cặp vào ụ neo đúc nổi bên trong lòng hộp ở nhịp biên cốt thép thớ trên kết thúc ở cuối đốt K cuối cùng, đốt hợp long và đốt biên không có cốt thép thớ trên, cốt thép thớ dưới neo không đối xứng: một đầu các bó neo ở mặt gương đầu nhịp, những đầu còn lại lần lượt neo từng cặp ở các ụ neo đúc nổi ở gần vị trí mối nối giữa các đốt Trong các nhịp chính cốt thép thớ trên bố trí ở tất cả các đốt K, đốt hợp long không
có cốt thép thớ trên, cốt thép thớ dưới bố trí đối xứng với mặt cắt giữa nhịp và kết thúc ở mặt cắt cách gối khoảng 1/5 chiều dài nhịp
Cốt thép thường của từng đốt dựng thành khung riêng nhưng các loại cốt thép dọc
đều để chờ nối với đốt tiếp theo ống ghen của các bó cốt thép DƯL cũng đặt theo từng đốt
và để chờ nối tiếp với đốt sau
Gối cầu thường sử dụng gối chậu, đôi khi có thể thay thế bằng gối cao su đệm thép kích thước lớn
5.1.3 - Biện pháp thi công đúc hẫng cân bằng :
Với những đặc điểm cấu tạo như trên, cầu dầm liên tục BTCT được thiết kế để thi công theo phương pháp đúc hẫng cân bằng Quá trình đúc hẫng cân bằng chia thành bốn giai đoạn chính gồm : giai đoạn đúc khối K0 trên đỉnh trụ, giai đoạn đúc hẫng cân bằng các khối K, giai đoạn đúc đốt biên, giai đoạn hợp long nhịp biên và giai đoạn hợp long nhịp giữa
Khối K0 được đúc đầu tiên trên đà giáo cố định mở rộng mặt bằng đỉnh trụ Đối với nhịp cầu dầm gối cầu đặt sẵn và thớt trên của gối liên kết với bê tông dầm, sát với hai bên mép của mặt bằng đỉnh trụ đặt hai hàng gối tạm là các cục bê tông hình khối đặt liền sát nhau kê trục tiếp vào đáy đốt K0 Trụ chính của cầu dầm liên tục BTCT kết cấu hình hộp thường không có xà mũ vì tiết diện của thân trụ đủ lớn để bố trí gối cầu
Chiều dài đốt K0 từ 10 ữ12m đủ để lắp hai xe đúc dầm xuất phát từ đỉnh trụ Trên chiều dài này phần thẳng với đỉnh trụ vừa phải kê trên gối chính và gối tạm nên thường
được thiết kế là một vách ngăn dày 3m nối liền với nắp hộp có một cửa đi ở giữa, chiều dày này bằng với chiều rộng của thân trụ nên vách ngăn được đúc trên mặt bằng đỉnh trụ, phần còn lại đúc trên đà giáo, ván đáy hộp đặt nghiêng theo qui luật thay đổi của đường cong đáy dầm
Trong vách ngăn đỉnh trụ có chứa các thanh Maccalloy nối từ các thanh cùng loại chôn sẵn trong thân trụ kéo lên trên mặt hộp gọi là các thanh neo tạm, những thanh này phải lắp trước khi dựng khung cốt thép của vách ngăn và được bao bọc trong ống ghen giữ không cho bê tông tiếp xúc với thanh neo tạm, khi đổ bê tông đốt K0 phải lưu ý không để vữa bê tông trôi vào các ống ghen này
Ván khuôn thành ở cả bên ngoài và bên trong thường gắn liền với ván khuôn của bản
Trang 3nắp hộp nên cùng được dỡ khi bê tông đạt 50% cường độ thiết kế
Sau khi bê tông đốt K0 đạt 70% cường độ tiến hành luồn và căng kéo các bó cốt thép neo ở hai bên mặt gương của đốt K0 , ống ghen chứa cốt thép sau kết thúc căng kéo
được bơm lấp vữa ngay bởi vì các đầu neo cốt thép sẽ bị lấp kín khi đổ bê tông đốt tiếp theo
Sau khi kéo các bó cốt thép ở trên bản thì tiến hành kéo dự ứng lực và neo các thanh neo tạm vào với đỉnh trụ làm cho kết cấu nhịp và trụ cầu làm việc tạm thời như kết cấu khung T Lúc này mới tháo hẫng đà giáo ra khỏi đáy dầm và dỡ ván khuôn đáy
Đà giáo mở rộng trụ có thể tháo dỡ ngay để sử dụng ở trụ khác hoặc để lại tạo mặt bằng để phá dỡ gối tạm nếu chưa cần đến nó nhưng không được để kết cấu nhịp tựa lên trên kết cấu ở những bước tiếp theo
Những đốt tiếp theo đúc trên đà giáo treo di động gọi là xe đúc Từng bộ phận xe
đúc được vận chuyển ra và lắp ráp trên mặt bằng của đốt K0 bằng cần cẩu tay với Xe
đúc lắp ngay tại vị trí để đúc hẫng khối K1, trên mặt hộp phải bố trí sẵn lỗ để lắp các thanh neo cho xe đúc đảm bảo ổn định chống lật khi đúc hẫng và khi di chuyển Hai xe
đúc lắp hướng ra hai phía, sàn xe neo vào mặt hộp, phần hẫng nhô ra ngoài treo hệ thống đà giáo
Các đốt đúc hẫng có chiều dài 3,5 ữ 4,5m , bản nắp hộp có cấu tạo và kích thước không đổi còn thành hộp và bản đáy thay đổi tạo nên mặt đáy dầm có đường cong theo thiết kế Để đơn giản cho thi công và thực tế đáy dầm sau khi hoàn thành vẫn có hình dạng đường cong, trong phạm vi mỗi đốt đáy dầm không làm cong mà là mặt phẳng nghiêng và đường đáy dầm thực tế là một đường gẫy khúc
Lắp ván khuôn đáy của đốt dầm trước và điều chỉnh theo cao độ đã được tính toán sau đó dựng ván khuôn thành ngoài Trong lòng ván khuôn tiến hành lắp dựng khung cốt thép của hộp dầm và đặt ống ghen cho cốt thép ƯST, những bó cốt thép neo tại mặt hộp được lắp sẵn vỏ neo vào đầu ống ghen Ván khuôn của hộp dầm gồm ván khuôn
đáy, ván khuôn ngoài ván khuôn trong và ván khuôn đầu đốc là mặt ván chắn ở đầu hộp Do đúc nối tiếp với đốt trước nên ván đầu đốc chỉ chặn ở một đầu ngoài của hộp
Đổ bê tông bản đáy xong mới tiến hành lắp dựng ván khuôn trong và đổ bê tông tiếp những bộ phận còn lại của hộp dầm
Ván khuôn đáy và ván khuôn ngoài của hai đốt được lắp đối xứng nhưng bê tông
có thể không đổ đồng thời ở cả hai mà lần lượt đổ từng phía
Trong vữa bê tông của dầm đúc hẫng sử dụng phụ gia làm tăng độ sụt và đông cứng nhanh, chỉ sau ba ngày có thể tiến hành luồn và căng kéo cốt thép thớ trên, nối hai
đốt K1 vào với đốt K0 đã đúc
Dỡ ván khuôn và di chuyển xe đúc lên phía trước, di chuyển từng xe một và neo sàn xe với mặt dầm và tiến hành các bước như đối với với đốt K1 Những đốt tiếp theo lặp các công đoạn thi công cũng lặp lại tương tự, thời gian hoàn thành một đốt hết từ
5 ữ 7 ngày phụ thuộc vào loại phụ gia đông cứng nhanh
Trong thời gian đúc hãng cân bằng, đồng thời tiến hành các công đoạn đúc đốt biên trên đà giáo cố định Đốt biên tựa ngay lên gối, tại mặt cắt gối có vách ngăn dày và
bố trí cửa để ra vào trong lòng hộp Nếu nhịp biên gối lên mố thì mố chỉ thi công đến xà
mũ, tường đỉnh chờ đến sau khi hoàn thành nhịp mới thi công tiếp Trong đốt biên không có cốt thép ƯST thớ trên, cốt thép thớ dưới bố trí sẵn lỗ chờ luồn cáp
Sau khi hoàn thành giai đoạn đúc hẫng cân bằng cũng là lúc kết thúc giai đoạn thi công đốt biên, đốt cuối cùng đã căng cốt thép thớ trên neo vào cánh T nên không cần
Trang 4đến đà giáo và ván khuôn được dỡ ra khỏi đáy dầm nhưng xe đúc vẫn phải giữ nguyên
ở vị trí để đảm bảo cố định vị trí của cánh T
Thông thường tiến hành hợp long nhịp biên trước Đốt hợp long đúc trên đà giáo treo vào hai đầu của đốt hẫng và đốt biên hoặc đúc trên đoạn kéo dài thêm của đà giáo
cố định Xe đúc không làm nhiệm vụ gì trong giai đoạn hợp long nhịp biên
Sau khi bê tông đốt hợp long đạt cường độ, dỡ ván khuôn của đốt này, tiến hành luồn và căng kéo cốt thép thớ dưới của nhịp biên Lúc này nhịp đã đủ điều kiện ổn định nên các xe đúc có thể dỡ đi
Tháo dỡ đà giáo cố định ra khỏi đốt biên và tháo bỏ các thanh neo tạm trên đỉnh trụ, phần nhịp đã đúc làm việc theo sơ đồ dầm mút thừa Các khối bê tông làm gối tạm phá dỡ ngay sau đó nếu cần di chuyển đà giáo mở rộng trụ đi chỗ khác
Về tổ chức thi công có thể thực hiện các giai đoạn này lần lượt trên từng trụ theo
hình thức tổ chức thi công cuốn chiếu hoặc đồng thời trên tất cả các trụ theo hình thức
tổ chức thi công song song
Dù tổ chức thi công theo hình thức cuốn chiếu hay song song thì các giai đoạn hợp long phải thực hiện theo một thứ tự nhất định phù hợp với chỉ dẫn của thiết kế
Hợp long nhịp giữa bằng một xe đúc, sử dụng xe đúc để điều chỉnh vị trí của đầu hẫng hoặc/và treo đà giáo của đốt hợp long
Sau khi hợp long nhịp giữa, luồn và căng kéo các cốt thép thớ dưới của nhịp giữa Chỉ sau khi kéo cốt thép thớ dưới mới được di chuyển xe đúc đi chỗ khác
Ví dụ khi thi kết cấu nhịp một cầu dầm liên tục ba nhịp tổ chức theo hình thức cuốn chiếu, đúc hẫng cân bằng trên trụ P1 trước, hợp long nhịp biên sau đó hợp long nhịp giữa, trình tự các bước thi công như sau ( hình 5.1) :
Bước 1: Đúc đốt đỉnh trụ K0 trên đà giáo mở rộng trụ P1 Neo đốt K0 vào đỉnh trụ bằng các thanh cường độ cao và các gối tạm Kết cấu nhịp làm việc như khung T
Bước 2: Lắp ráp đồng thời hai xe đúc trên mặt bằng đốt K0, mỗi xe đúc một hướng
về hai phía nhịp Xe đúc được neo vào khối K0 và treo đà giáo, ván khuôn dùng cho
đúc hẫng các đốt tiếp theo
Bước 3: Đúc hẫng đối xứng qua mặt cắt đỉnh trụ lần lượt từng đốt dầm, đúc đến
đâu căng các bó cốt thép DƯL đến đó để neo vào với phần nhịp đã đúc trước Trong khi
đó tiến hành đúc tại chỗ đốt biên phía mố A0 trên đà giáo cố định Thời gian hoàn thành một đốt dầm là 6-7 ngày
Bước 4: Hợp long nhịp biên, kéo cốt thép thớ dưới của nhịp biên
Bước 5: Tháo dỡ đà giáo cố định, tháo bỏ neo tạm, phá dỡ gối tạm và chuyển đà giáo sang trụ P2
Bước 6 : Tiến hành đúc đốt K0 trên đà giáo mở rộng trụ P2 tương tự như đúc trên
đỉnh trụ P1
Bước 7: Tháo chuyển hai xe đúc trên nửa cầu đã thi công lắp sang mặt bằng đốt K0
đỉnh trụ P2
Bước 8 : Đúc hẫng cân bằng qua mặt cắt đỉnh trụ P2 tương tự như nửa phía trụ P1,
đồng thời đúc đốt biên phía mố A4 trên đà giáo cố định
Bước 9: Hợp long nhịp biên, kéo cốt thép thớ dưới của nhịp biên
Bước 10: Tháo dỡ đà giáo cố định, tháo bỏ kết cấu neo tạm trên đỉnh trụ, đặt kết cấu nhịp lên gối chính
Bước 11: Điều chỉnh cao độ và vị trí của hai đầu hẫng, hợp long nhịp giữa
Bước 12: Căng kéo cốt thép thớ dưới nhịp giữa
Bước 13 : Tháo dỡ xe đúc khỏi nhịp, hoàn thiện mặt cầu
Với hình thức tổ chức thi công cuốn chiếu cần hai bộ xe đúc, một bộ đà giáo mở
Trang 5rộng trụ và đà một bộ giáo cố định Hình thức cuốn chiếu kéo dài tiến độ thi công và chênh lệch thời gian thi công giữa hai nửa cầu dẫn đến đặc trung của vật liệu bê tông ở hai nửa cầu khác nhau nên việc kiểm soát nội lực trong kết cấu nhịp phức tạp
Hình 5.1- Biện pháp đúc hẫng cân bằng kết cấu nhịp dầm liên tục ba nhịp thi công
theo hình thức cuốn chiếu
Trang 6Hình thức tổ chức thi công song song được tiến hành đồng thời từ hai phía bờ đẩy
nhanh đáng kể tiến độ thi công đặc biệt đối với cầu nhiều nhịp Tổ chức thi công song
song cần ít nhất bốn xe đúc, hai bộ đà giáo mở rộng trụ và hai bộ đà giáo cố định
Trường hợp cầu có nhiều nhịp số lượng các thiết bị phụ trợ này sẽ nhiều hơn hoặc phải
kết hợp hai hình thức vừa song song vừa cuốn chiếu
Ví dụ thi công cầu dầm liên tục ba nhịp theo hình thức song song mô tả trong hình
Hình 5.2- Biện pháp đúc hẫng cân bằng cầu dầm liên tục ba nhịp thi công theo
hình thức song song
5.1.3 -Biện pháp công nghệ thi công đúc hẫng cân bằng:
5.1.3.1 - Thiết kế đà giáo mở rộng trụ :
Để đúc tại chỗ đốt K0 cần có đà giáo lắp trên đỉnh trụ đỡ phần hẫng ra của khối
đúc và mở rộng mặt bằng thi công Kết cấu đà giáo lắp ở hai phía của trụ theo phương
dọc cầu
Kích thước đà giáo đảm bảo yêu cầu của mặt bằng thi công :
- Chiều rộng của đà giáo theo phương ngang cầu bằng chiều rộng đáy hộp dầm
cộng thêm về mỗi bên 2,0m
+ Chiều dài của mỗi phía đà giáo theo phương dọc cầu bằng độ mở rộng về mỗi
phía đỉnh trụ đủ để đúc tại chỗ phần hẫng ra của đốt K0 cộng với chiều rộng của sàn
công tác là 2,0 m :
( 0 )
1
22
Trang 7a- Dạng dầm kê trên trụ tạm :
Đà giáo sử dụng kết cấu vạn năng MIK làm trụ tạm và các thanh dầm I định hình làm dầm kê, trụ đặt trên móng khối hoặc móng cọc BTCT căn cứ vào điều kiện địa chất của nền Dầm I một đầu kê lên trụ tạm một đầu kê lên vai kê chôn sẵn vào thân trụ là kết cấu chị lực chính, bên trên đặt các dầm ngang, từ các dầm ngang dùng các giá kê bằng thép kê lên hệ thống nẹp của ván khuôn đáy để tạo cho ván đáy có độ dốc theo độ vát của đáy dầm, giữa giá kê và ván khuôn đặt nêm hai mảnh để chèn và dỡ ván ưu
điểm của kết cấu dạng này là ít phải gia công chế tạo, sơ đồ đơn giản dễ kiểm soát được nội lực trong kết cấu, ổn định chống lật tốt Đà giáo dạng này có nhược điểm khối lượng vật liệu lớn đặc biệt là chi phí cho móng tạm, biến dạng của trụ tạm và móng tạm lớn Kết cấu chôn sẵn trong thân trụ khó che lấp sau khi dỡ đà giáo
Phạm vi áp dụng : trường hợp cầu thấp, mặt bằng thi công không bị ngập nước
Hình 5 3- Những dạng đà giáo mở rộng trụ
(a) Dạng dầm kê trên trụ tạm (b) Dạng chống xiên xuống bệ móng c) Dạng giàn côngxon trên đỉnh trụ
b- Dạng có thanh chống xiên tựa xuống bệ trụ
Sơ đồ kết cấu của đà giáo là giàn côngxon hình tam giác gồm hai khoang có thanh xiên chống tựa xuống đỉnh bệ trụ đỡ một đầu thanh ngang còn một đầu thanh liên kết với đỉnh trụ, các thanh xiên và thanh đứng bên trong giàn tăng cường cho hai thanh chịu lực chính ( hình 5.3, b)
Bên trên thanh ngang cần đặt các dầm ngang để tạo mặt bằng lắp ván khuôn đáy dầm nên thanh ngang chịu uốn và chịu kéo do vậy tiết diện thanh phải là dầm chịu uốn Liên kết thanh ngang với thân trụ vừa chịu cắt vừa bị nhổ, để chống nhổ người ta sử dụng một số thanh bar luồn qua thân trụ kéo giằng kết cấu đà giáo ở hai phía trụ với nhau, lực cắt do phản lực gối ở đầu thanh ngang sẽ truyền xuống thanh chéo trong giàn
và truyền xuống nửa dưới của thanh chống xiên Thanh chống xiên chịu nén do trọng lượng của phần hẫng đốt đúc và có chiều dài tự do lớn đồng thời phải chịu uốn nên thường phải sử dụng dầm I và bổ sung thêm thanh giằng vào thân trụ
Theo phương ngang cầu cần bố trí từ 3ữ4 mặt phẳng giàn, giữa các giàn liên kết với nhau bằng hệ giằng theo mặt phẳng của thanh chống xiên
Trang 8ưu điểm của dạng kết cấu này là độ cứng lớn, biến dạng nhỏ và dễ kiểm soát, trụ cầu không chịu mô men trong giai đoạn thi công đốt K0
Nhược điểm : do đà giáo có cấu tạo riêng biệt, đơn chiếc khó sử dụng cho công trình khác vì vậy có giá thành cao Các bộ phận của đà giáo có trọng lượng và kích thước lớn nên thi công lắp dựng khó khăn
áp dụng trong trường hợp chiều cao trụ không quá 10m , mực nước thi công không ngập bệ trụ
c- Dạng giàn công xon trên đỉnh trụ
Đà giáo là một kết cấu hệ thanh tạo thành hai giàn côngxon hình tam giác lắp vào hai phía đỉnh trụ Kết cấu giàn côngxon có cấu tạo tương tự như loại có thanh chống xiên xuống bệ trụ nhưng thanh xiên ngẵn và thanh mảnh hơn, có thể lắp ở những vị trí trụ cao, trong thời gian thi công bệ trụ ngập sâu trong nước( hình 5.3,c)
Thanh ngang chịu kéo và uốn, đầu thanh ngang liên kết vào nút và nút này liên kết với thân trụ bằng một số thanh bar kéo giằng giữa hai phía trụ Để các thanh bar không chịu cắt và giảm lực gây uốn cho thanh xiên ngoài giữa nút trên và nút dưới bố trí thanh chống đứng Nút dưới liên kết với thân trụ bằng bulông chịu cắt chôn sẵn, trong trường hợp cần thiết dùng một thanh đứng đỡ vào nút đặt sát thân trụ và chống xuống đỉnh bệ
Để sử dụng được nhiều lần phù hợp với nhiều dạng trụ người ta chế tạo sẵn các thanh của giàn và liên kết với nhau bằng chốt hoặc bằng bulông tinh chế (hình 5.4,a), giàn côngxon mở rộng trụ cũng có thể lắp từ các thanh vạn năng UYKM (hình 5.4b)
Hình 5 4 - Đà giáo mở rộng trụ sử dụng kết cấu định hình
a) Lắp từ các thanh chế tạo sẵn b) Lắp từ các thanh vạn năng UYKM
Theo phương ngang cầu giàn côngxon gồm từ 3ữ4 mặt phẳng ghép với nhau bằng liên kết ngang Đối với giàn lắp từ các thanh chế tạo riêng, liên kết ngang bố trí trong mặt phẳng các thanh xiên, đối với giàn lắp từ kết cấu vạn năng UYKM lắp đầy đủ liên kết ngang ở tất cả các nút
Trên thanh ngang của giàn kê các dầm ngang để phân phối lực cho các mặt phẳng
và tạo mặt sàn để kê ván khuôn đáy và làm sàn công tác
Trang 9Để kê ván khuôn đáy sử dụng những giá kê bằng thép hàn sẵn có mặt trên nghiêng
để tạo độ dốc
Hình 5.5- Cấu tạo chi tiết đà giáo mở rộng trụ
1- liên kết nút trên bằng thanh bar 2- liên kết nút dưới bằng bulông chôn sẵn 3- dầm ngang 4- dầm dọc 5- giá kê 6- ván khuôn đáy 7- liên kết ngang
Đà giáo tính toán theo sơ đồ phẳng, tải trọng tác dụng được phân cho mỗi mặt phẳng dàn với hệ số phân bố ngang tính theo phương pháp đòn bẩy
Tải trọng tác dụng lên đà giáo mở rộng trụ bao gồm :
Nội dung tính duyệt đà giáo bao gồm :
- Tính theo cường độ vật liệu kết cấu đà giáo
Trang 10- Tính duyệt độ võng của đà giáo
- Tính duyệt liên kết đà giáo với thân trụ
được neo vào bê tông nắp hộp nhờ các thanh Maccaloy
Dạng dàn treo trên có hai kiểu : kiểu hình thoi và kiểu dàn tam giác
Hình 5.7- Cấu tạo xe đúc giàn treo trên dạng hình thoi 1-giàn chủ 2-dầm ngang giữa 3-neo cụm sau xe đúc 4-bánh xe 5- kích đẩy 6-dầm ray 7-neo dầm ray 8- kích nâng xe đúc 9-móc treo dầm ray 10-các thanh treo đà giáo 11- dầm dọc trên 12-dầm đáy 13-thanh treo sàn công tác 14-ván khuôn đáy 15-
đòn gánh đà giáo 16-tăngđơ điều chỉnh ván đáy 17-sàn công tác 18-ván khuôn ngoài 19- ván khuôn trong
Xe đúc dạng giàn treo trên hình thoi là loại phổ biến được nhiều nước trên thế giới
sử dụng do cấu tạo đơn giản ít chi tiết, các bước thao tác rõ ràng Tuy nhiên giàn chủ
có chiều cao kiến trúc lớn, khi di chuyển giàn không có hệ giằng ngang ở bên dưới nên kém ổn định
Dạng giàn chạy trên nhưng kết cấu có dạng tam giác có chiều cao kiến trúc thấp,
về mặt kết cấu hợp lý hơn dạng hình thoi, nhưng có nhiều chi tiết , khi lắp ráp phức tạp hơn
Cả hai dạng xe đúc trên có trọng lượng kể cả ván khuôn khoảng 80T, nếu trừ ván khuôn có trọng lượng 20-25T thì trọng lượng của riêng xe đúc khoảng 55- 60T
Trang 11Hình 5.8- Cấu tạo xe đúc giàn treo trên dạng tam giác
1- giàn chủ 2- dầm ray 3-giàn ngang trước 4- giàn ngang sau 5-neo dầm ray 6- neo giàn chủ 7- thanh treo giàn ngang sau 8-palăng xích 15T 9-đòn gánh 10-ván khuôn đáy 11- dầm đáy 12- dầm đỡ trong 13-móc treo dầm đỡ trong 14- thanh treo giàn ngang trước 15- dầm đỡ ngoài 16-ván khuôn ngoài 17- ván khuôn trong 18- sàn công tác 19- tăng đơ ép giữ ván khuôn ngoài 20- tăng đơ treo ván khuôn ngoài
b- Xe đúc dạng dầm côngxon :
Về nguyên tắc hoạt động các xe đúc đều làm việc giống nhau gồm một kết cấu chịu lực dạng côngxon để treo đà giáo ván khuôn, kết cấu này đặt trên hai dầm thép và trượt trên nó khi di chuyển Xe đúc dầm côngxon cũng có kết cấu tương tự như hai dạng trên chỉ khác ở chỗ thay giàn chủ bằng kết cấu dầm đặc, dầm có chiều cao 1,2m, chiều dài 10,5m Hai dầm chủ liên kết với nhau bằng hệ liên kết ngang, đặc biệt dầm ngang giữa và dầm ngang đầu thanh trên kéo dài vượt khỏi chiều rộng mặt cầu để treo đà giáo Dầm chủ trượt trên dầm ray bằng bánh sắt và nhờ kích đẩy Khi làm việc dầm ray và dầm chủ đều neo vào phần dầm đã đúc bằng các thanh Maccaloy
Trang 125 3
21
16 17
10 25 13
13 23 2
17
6
3
14 25
1
22 2
15
25 13
4
24
12
Hình 5.9- Cấu tạo xe đúc dạng dầm côngxon
1- dầm chủ 2- dầm ray 3-bánh xe trước 4-neo dầm ray 5- neo dầm chủ 6-kích nâng dầm chủ 7-bánh xe trượt dầm ray 8-dầm ngang giữa 9-thanh treo cụt 10- palăng xích 15T 11- thanh CĐC ∅38 12- bulông xuyên giữ ván thành 13-thanh treo đòn gánh sau vào đáy dầm 14- dầm ngang trước 15-thanh treo đòn gánh trước ( ∅32 CĐC) 16-đòn gánh trước 17- đòn gánh sau 18-dầm đáy 19- ván khuôn đáy 20-móc treo dầm dọc trong 21- dầm dọc trong 22- dầm dọc ngoài 23- tăngđơ ép giữ ván khuôn trong 24-tăngđơ ép giữ ván khuôn ngoài, 25- sàn công tác
c- Dạng dàn đỡ dưới :
Cấu tạo của dạng xe đúc này khác hẳn với những loại đã nêu ở trên, nó gồm giàn chịu lực có biên dưới thay đổi, từ giữa vát về hai đầu Giàn chủ có lắp ván khuôn treo dưới đáy dầm, thanh treo liên kết vào vị trí giữa giàn Xe treo giàn chạy trên đường ray
có trang bị kích thủy lực để kéo thanh treo nâng , hạ giàn
Hình 5.10 - Xe đúc dạng giàn đỡ dưới
Khi đúc đốt dầm , kích kéo thanh treo nâng giàn đỡ sát vào đường đáy dầm, phần cuối giàn tựa vào đáy dầm bê tông đã đúc thông qua gối kê, khi di chuyển kích hạ thả cho giàn tụt xuống, giàn xoay ra biên trên ở tư thế nằm ngang, cuối giàn tựa trên bánh lăn, giàn di chuyển sang vị trí đúc đốt mới cùng với xe treo phía trên
Dạng xe đúc này chỉ phù hợp với khung T, khi chiều cao dầm thay đổi theo qui luật tuyến tính, đáy dầm vát theo đường thẳng
5.1.3.3- Đảm bảo ổn định chống lật trong quá trình đúc hẫng :
Tải trọng gây lật cho cánh hẫng của nhịp đúc bao gồm: tải trọng do đúc không
đồng thời giữa hai cánh hẫng, do vượt tải ngẫu nhiên, tải trọng tai biến và tải trọng gió Tải trọng do đúc lệch tác dụng tương tự như tải trọng tai biến do tụt ván khuôn
Trang 13nhưng giá trị nhỏ hơn vì không xét đến lực xung kích nên không không tổ hợp vào tải
trọng tính toan Tải trọng do vượt tải ngẫu nhiên là tải trọng chính thường xuyên xảy ra
được tổ hợp với một trong ba tải trọng gồm tải trọng tai biến là tụt ván khuôn, lật rơi xe
đúc và tải trọng do gió giật
Hình 5.11- Các trường hợp xảy ra mất ổn định của dầm trong giai đoạn đúc hẫng
a) Tổ hợp vượt tải ngẫu nhiên và lật rơi xe đúc
b) Tổ hợp vượt tải ngẫu nhiên và tụt ván khuôn rơi đốt đúc
c) Tổ hợp vượt tải ngẫu nhiên và gió giật
Tải trọng do vượt tải ngẫu nhiên xét ở giai đoạn thi công đốt hẫng sát với đốt cuối
cùng, cả hai phía hẫng đã đổ bê tông như nhau nhưng một bên trọng lượng bê tông cộng
thêm giá trị vượt tải 10% trên toàn bộ cánh hẫng gây nên mômen lật và tính về phía cánh
hẫng mà tác dụng của nó được cộng với mômen lật do những nguyên nhân khác:
Tải trọng tai biến xét sự cố tụt ván khuôn và đốt đúc cuối cùng bị rơi xuống gây ra
lực xung kích bằng 2 lần trọng lượng đốt đúc và ván khuôn Lực này gây ra mô men lật
Trang 14ln - chiều dài đốt cuối Kn
Mô men lật gây ra do tải trọng tai biến xét sự cố bị đổ xe đúc khi di chuyển xe đến
vị trí để đúc đốt cuối cùng trước khi hợp long Trọng lượng xe đúc bao gồm ván khuôn
ngoài gây ra lực xung kích bằng 2 lần tải trọng tai biến Nội lực do tải trọng tai biến tổ
hợp cùng với tải trọng do chênh lệch ngẫu nhiên của trọng lượng giữa hai nửa đúc hẫng
xét ở giai đoạn chưa đổ bê tông đốt cuối cùng Tổ hợp này gây nên mô men lật do tai
biến 2 và tính theo công thức :
M tb2 =M p +2Q xe L (5-5)
L- chiều dài từ điểm tì trước của xe đến vị trí thanh neo ở phía bị đổ xe
QXe- trọng lượng xe đúc cùng ván khuôn, có thể lấy bằng 80T
Mômen lật do tải trọng của thành phần hướng lên theo phương thẳng đứng của gió
thổi dọc cầu theo hướng xiên góc α =100 so với phương nằm ngang tác dụng ở một phía
cánh hẫng với cường độ áp lực gió 1,25kN/m2, thành phần áp lực thẳng đứng pw= 0,22
kN/m2, tải trọng gió giật tổ hợp với vượt tải ngẫu nhiên ở trạng thái đã đúc xong cả hai
phía hẫng chờ hợp long :
So sánh ba trường hợp Mtb1; Mtb2 và Mw, lấy giá trị mô men lớn nhất để kiểm tra
điều kiện ổn định của dầm trong giai đoạn đúc hẫng
Biện pháp đảm bảo ổn định chống lật là neo dầm vào đỉnh trụ bằng hai gối kê tạm
và các thanh thép CĐC Macalloy ( thanh bar) Liên kết dầm với đỉnh trụ trở thành liên
kết ngàm và kết cấu nhịp cùng với trụ làm việc như khung T
σ
σ σ
σ =0
Đỉnh khối Ko Thanh PC38 ống ghen 69/72
Đỉnh trụ Thanh PC38 cút nối (đoạn dưới)
đầu neo chôn vào
Trang 15Các thanh bar có tác dụng neo kết cấu nhịp vào đỉnh trụ, chống được lực nhổ lên
do mô men lật quanh điểm tựa là gối tạm và còn được kéo ứng suất trước để dự ứng lực
chống nứt cho trụ Các thanh này có đường kính ∅32 (PC32), chia làm hai đoạn : đoạn
đặt trong thân trụ và đoạn xuyên qua vách ngăn đốt K0 kéo lên mặt hộp Hai đoạn này
nối với nhau bằng cút nối nằm cách đỉnh trụ 5cm Thanh PC32 được chế tạo có đường
ren lớn chạy suốt chiều dài thanh và ở trên đầu có đai ốc chỏm cầu Riêng ở đầu chôn
trong thân trụ còn có đai ốc phẳng để hãm Để phân bố áp lực do lực kéo trong thanh
truyền lên bê tông, ở hai đầu có các bản đệm bằng thép tấm dày 50mm kích thước
200ì200 Các đoạn thanh nằm trong thân trụ đặt trong ống ghen, có đệm xung quanh
để chống chạm mát khi hàn Đoạn nằm trong thân trụ được bơm vữa vào ống ghen sau
khi kéo DƯL và để lại, còn đoạn đi qua khối K0 không bơm vữa sẽ được tháo ra khi hạ
kết cấu nhịp xuống gối chính
Xác định số lượng thanh PC32 ở một phía đỉnh trụ :
pc pu
M n
cA f
A pc – diện tích tiết diện của một thanh bar, có đường kính ∅=32mm
c- khoảng cách giữa hai hàng thanh PC32
fpu - cường độ kéo của thanh PC32, lấy bằng 1035 Mpa
Chiều dài của các thanh CĐC nằm trong thân trụ xác định dựa theo những căn cứ
sau :
1- Lực căng trước DƯL trong thanh gây ra lực nén trước cho phần thân trụ bị
kéo khi xẩy ra mô men lật
2- Chiều sâu của phần thanh chôn vào trong thân trụ phải đảm bảo đủ lực
dính bám chống nhổ khi căng DƯL và toàn bộ chiều dài đoạn nằm trong thân trụ phải
chống được lực nhổ khi xẩy ra mô men lật
3- Đầu chôn của các thanh phải so le nhau để không xảy ra tập trung ứng
suất tại đầu ngàm Khoảng cách này phải lấy tối thiểu là 50cm
Chiều dài của phần thân trụ chịu kéo khi xảy ra mô men lật xác định từ phương
trình chịu nén lệch tâm của trụ :
- Atru : diện tích tiết diện trụ
- Wtru : mô men kháng uốn tiết diện trụ tính theo tim ngang cầu
Phần này của trụ phải được nén trước bởi lực căng các thanh PC32 bằng kích đặt
trên đỉnh khối K0 và neo lại bằng ốc hãm chỏm cầu
Lực căng trước xác định theo ứng suất kéo lớn nhất gây ra cho mặt cắt trụ khi xảy
ra mô men lật
Các thanh bar không được để chịu uốn, không được để chạm mát khi hàn, không
được va chạm mạnh để tránh nứt vỡ các vòng ren vì vậy phải có biện pháp chống uốn và
chống cắt cho các thanh này khi nhịp đúc bị xoay,vặn do những tác động theo phương
ngang Để đáp ứng những yêu cầu trên cần bố trí thêm một số thanh cốt thép chống cắt
đặt song song nhau nằm giữa hai gối chính, những thanh này được tháo bỏ đi cùng với
thời điểm phá dỡ các gối kê tạm
Trang 16Các gối tạm làm bằng các khối bê tông đúc sẵn được đặt trên một lớp vữa dày 3ữ4
cm để dễ dàng khoan phá khi dỡ gối tạm, trên mặt lót lớp vải nhựa dày 1ữ2 cm chống dính Nếu có thanh bar đi qua cần để lỗ sẵn cho các thanh này đi qua
5.1.3.4- Biện pháp đúc đốt K 0 :
Trước khi tiến hành đúc đốt K0 phải đặt gối cầu chính thức, các bulông liên kết với
đá kê đỉnh trụ đã được chôn sẵn nhưng chưa xiết chặt, nối ống ghen và lắp các đoạn thanh liên kết tạm vào cút nối chỡ sẵn ở những đoạn nằm trong thân trụ sau đó mới dựng ván khuôn Ván khuôn của đốt K0 ghép tại chỗ và đặt trên đà giáo mở rộng trụ Phần trên đỉnh trụ ngoài những diện tích đã kê trên gối chính và trên các gối tạm, diện tích còn lại đổ cát vào bên trong đầm kỹ và lắng vữa để làm ván khuôn đáy, dùng hộp gỗ che kín xung quanh gối cầu Phần nằm trên đà giáo mở rộng trụ ván khuôn đáy tạo dốc theo
độ vát của đường cong đáy bằng các giá kê thép hàn sẵn Trên ván đáy phải để lỗ tại vị trí thấp nhất của đáy dầm để thoát nước khỏi lòng hộp trong quá trình thi công cũng như trong khai thác Ván khuôn ngoài dựng trước sau đó lắp đặt các thanh bar của neo tạm , các thanh bar đặt trong ống ghen sau đó dựng khung cốt thép Ván khuôn trong được chia thành ván của vách ngăn và ván thành hộp Ván vách ngăn ghép tại chỗ ngay sau khi đã lắp đặt xong cốt thép của bộ phận này Ván khuôn trong được chống đỡ bằng đà giáo dựng trên mặt đáy hộp đúc trước Ván khuôn thành chống giữ bằng các thanh chống và bu lông giằng Trên bản nắp hộp phải bố trí các lỗ chờ để lắp ráp xe đúc
Hình 5.12- Trình tự đổ bê tông đốt K0
Đốt đỉnh trụ K0 được chia làm 3- 4 đợt đổ bê tông Đợt 1 đổ bê tông bản đáy, đợt
2 dổ bê tông vách ngăn, đợt 3 bê tông thành hộp và cuối cùng là bê tông bản mặt cầu Bê tông được đổ đối xứng so với tim cầu Trong thời gian đổ bê tông nếu nhiệt độ môi trường >320C phải có biện pháp hạ nhiệt cho vữa bê tông như : che nắng cốt liệu, trộn nước đá vào vữa bê tông
5.1.3 5-Lắp ráp và di chuyển xe đúc :
Lắp ráp xe đúc trên mặt khối K0 sau khi đã căng kéo các bó cáp của khối này và các thanh neo tạm Sử dụng cần cẩu đứng trên hệ nổi để lắp ráp, sức nâng của cần cẩu tối thiểu là 15T, tầm cao với tới của móc cẩu căn cứ vào chiều cao cụ thể của trụ Nếu trụ cao >20m có thể phải dựng cần cẩu tháp để phục vụ các công việc cẩu lắp trong quá trình thi công đốt K0 và lắp ráp xe đúc Lắp đặt hệ dầm ray trước, neo dầm ray với mặt hộp , lắp thanh biên dưới cùng với bản nút của giàn và neo với mặt cầu sau đó lắp các bộ phận còn lại của xe đúc Sau khi đã lắp kết cấu chính của xe đúc nhiều bộ phận của đà giáo treo và ván khuôn được lắp ráp bằng palăng xích treo vào giàn chủ của xe
Xe đúc di chuyển đến vị trí mới để đúc khối tiếp theo bằng cách lăn trên mặt dầm ray Thông thường mỗi vị trí đứng của dầm ray xe đúc di chuyển hai lần Khi xe đúc di
Trang 17chuyển tháo thanh neo xe khỏi mặt dầm bê tông còn dầm ray vẫn neo chắc chắn vào mặt dầm bê tông, khung xe đúc nghiêng về phía trước và xe treo sau từa vào cánh trên của dầm ray, dùng kích thủy lực đẩy vào cụm liên kết phía trước xe đúc từ từ tiến lên phía trước cho đến khi tiến sát vào ụ chặn ở phía trước của dầm ray Khi di chuyển dầm ray tháo thanh neo dầm ray và dùng hai đôi kích thủy lực đặt ở hai cụm liên kết trước và cụm liên kết sau nâng xe lên khi đó các bộ xe treo móc vào cánh của dầm ray nâng dầm ray lên theo, neo xe đúc vào dầm bê tông ở vị trí hai cụm liên kết sau đó đẩy dầm ray lăn trên các bánh lăn của móc treo Khi di chuyển đến vị trí các dầm ray phải được kê chắc chắn lên mặt bê tông, không nghiêng lệch và độ dốc không quá 1% và được gông chặt vào mặt cầu bằng các thanh CĐC với lực căng mỗi thanh là 20T
Di chuyển xe đúc di chuyển dầm ray
Hình 5.13- Biện pháp di chuyển xe đúc 1-bánh xe trước 2-móc treo 3-neo dầm ray 4- neo xe đúc 5- kích nâng 6- kích đẩy
5.1.3.6-Đúc hẫng các đốt :
Ván khuôn đốt đúc bao gồm ván khuôn đáy, ván khuôn ngoài và ván khuôn trong Ván khuôn đáy đặt trên hệ dầm đáy của đà giáo, các dầm đáy tựa trên hai đòn gánh ở hai đầu và treo lên xe đúc và bổ sung một số thanh treo vào bản đáy của đốt đã đúc Ván khuôn ngoài gồm ván thành và ván đáy của bản công xon ghép liền với nhau, ván ngoài kẹp bên ngoài ván đáy nên có thể dễ dàng thay đổi chiều cao của hộp dầm , trong khi đó ván đáy của hộp dầm thành xiên có chiều rộng đáy của mỗi đốt sẽ tăng dần và có dạng hình thang, để thay đổi chiều rộng của ván đáy người ta chia ván đáy làm hai nửa và đẩy rộng khe hở giữa hai nửa rồi dùng tấm thép lát kín Ván khuôn trong do năm mảnh ghép lại với nhau, hai mảnh vút đáy có thể tháo rời, hai mảnh thành trong của hộp và mảnh
đáy nắp hộp liên kết với nhau bằng chốt quay để khi dỡ ván khuôn có thể gấp ván thành vào bên trong rồi hạ ván đáy xuống (hình 5.10,b)
Giữa ván khuôn ngoài và ván khuôn trong có bulông xuyên táo giằng với nhau để chịu áp ngang của vữa bê tông, bulông xuyên qua ống thép hoặc ống nhựa chống giữa hai mặt ván để giữ khoảng cách và có thể lấy bulông xuyên táo ra khỏi bê tông dầm Lỗ
để lại trong bê tông không nên trám lấp đi để không khí trong lòng hộp được thoáng
Trang 18Có hai biện pháp chống giữ ván khuôn ngoài và ván khuôn trong : cách thứ nhất là
đỡ bằng giàn giáo chống từ dưới ván đáy và đáy hộp lên ( hình 5.10,c) , cách thứ hai đỡ bằng các dầm dọc một đầu dầm treo vào đáy hộp của đốt trước một đầu còn lại treo lên
xe đúc ( hình 5.10,d)
Hình 5 10- Cấu tạo ván khuôn hộp dầm 1-ván khuôn đáy 2- ván khuôn ngoài 3- ván khuôn trong 4- mảnh ván vút đáy 5,6 -giàn giáo đỡ dưới 7- dầm dọc đỡ dưới
Ghép ván khuôn ngoài trước, trong khuôn hình lòng máng tiến hành dựng khung cốt thép của hộp dầm Trên khung cốt thép buộc những con kê bê tông để duy trì chiều dày bảo vệ Dựng lưới bên dưới và lưới bên trong trước sau đó đặt ống ghen tạo lỗ sau đó dựng các tấm lưới bên trên và bên ngoài Giữa các tấm lưới phải có các cốt thép đai cấu tạo duy trì cự ly của chúng
Lắp đặt các ống ghen tạo lỗ : các ống ghen phải được đặt đúng vị trí trên mặt
bằng và cao độ Chiều dài cần thiết của đoạn ống ghen phải tính và cắt sẵn trước bằng cưa ống ghen được cố định vị trí bằng các mối buộc ∅6 quàng vào khung cốt thép thường, cự ly giữa các mối buộc là 1m Đối với cốt thép neo tại mặt gương của đốt đúc, một đầu ống ghen nối với đầu chờ ở đốt đúc trước một đầu lắp vào vỏ neo Đối với đoạn cốt thép đi qua đốt đúc một đầu ống ghen nối với đầu chờ ở đốt đúc trước đầu còn lại chờ ra khỏi mặt gương của đốt đúc 60cm và luồn vào đầu ống này một đoạn ống nhựa PVC để chống móp méo do va chạm trong thi công sau này sẽ rút bỏ đi Nối đoạn ống ghen của đốt đúc với đầu ống ghen chờ sẵn bằng kiểu nối măngxông, tức là dùng ống nhựa mỏng có đường kính vừa lọt vào trong ống ghen luồn vào hai đầu ống và ghép lại dùng băng keo chất lượng cao quấn quanh để che kín mối nối Các ống ghen có bố trí
Trang 19một số ống thoát khí để kiểm tra việc bơm vữa sau này bằng ống nhựa mềm, các ống này dẫn lên bề mặt của nắp hộp
Lắp đặt vỏ neo cốt thép ƯST: cốt thép thường uốn cong trước khi neo và mặt tấm
neo phải đặt vuông góc với hướng kéo của bó cốt thép vì vậy neo cốt thép phải đặt trong hốc neo ăn lõm vào mặt gương của đốt đúc Kích thước của hốc đặt neo theo kích thước của mặt vỏ neo và qui định của đầu kích sử dụng khi căng kéo cốt thép Tạo hốc neo bằng ván khuôn đầu đốc, ván đầu đốc có thể làm phẳng, phần hố chờ làm thành một hộp riêng lắp vào vỏ neo bằng bulông bắt vào các lỗ ren trên mặt đế neo
B+60
A 5
10
0
3 7
6
4
5
8
Hình 5.11- Biện pháp tạo hốc đặt neo và kích thướccủa nó A,B kích thước của mặt
đế neo mm ( theo loại neo cụ thể)
1-ống ghen 2- vòng cốt thép lò xo 3- mặt đế của vỏ neo 4-lỗ bơm vữa 5- lỗ có ren để bắt bulông 6- hộp tạo hốc đặt neo 8- ván khuôn đầu đốc
Bề mặt tiếp giáp giữa hai đốt phải được đục nhám và rửa bằng nước sạch Thông thường người ta quét một lớp vữa phụ gia làm chậm ninh kết lên bề mặt ván khuôn đầu
đốc, cho đến thời điểm trước khi ghép ván khuôn của đốt sau có một lớp mỏng bê tông của bề mặt mối nối có thể dùng vòi nước xối rửa trôi đi để trơ lớp đá và bê tông đông cứng Biện pháp này giảm đáng kể nhân công và thời gian đục nhám bề mặt
Vữa bê tông được chuyển ra và rót vào khuôn bằng máy bơm vữa Khi đổ bê tông bản đáy và thành hộp phải dẫn vữa bê tông xuống bằng ống vòi voi cao su
Bê tông hộp dầm trộn phụ gia hóa dẻo giảm nước và làm cho bê tông đạt cường độ sớm, độ sụt của vữa duy trì từ 12-24cm , rót dễ dàng vào khuôn
Đổ bê tông hộp dầm chia thành 2 đợt : đợt 1 đổ bê tông bản đáy và 50cm chiều cao thành hộp bao gồm vút đáy tính từ mặt trong lòng hộp, đợt hai phần thành hộp còn lại và bản nắp Khi rót vữa cao độ vữa giữa hai bên thành không chênh nhau quá 0,5m
Trong đúc hẫng cân bằng, hai đốt đối xứng nhau qua đỉnh trụ thực tế không đổ bê tông đồng thời mà đổ bê tông từng đốt một, đổ một đốt trước sau đó mới quay sang đổ
Trang 20cáp Nối từ máy đẩy với mặt đế neo bằng ống luồn mềm dẫn tao cáp vòng xuống, khi
đầu tao cáp đi ra khỏi máy đẩy phải dùng băng keo quấn bịt đầu để đầu cáp không làm hỏng ống luồn, khi đầu tao cáp ra khỏi ống luồn thì bóc băng dính ra và thay bằng đầu bịt các đầu sợi không bị tước ra khỏi tao trong khi đẩy
Đẩy cho đến khi đầu tao cáp ra khỏi đầu neo đối diện thì điều khiển máy đẩy chạy chậm để đo chiều dài cắt cáp Chiều dài dư ra ở đầu cáp bị động, không kéo là 600mm,
ở đầu chủ động là 1200mm tính từ mặt dế neo Đầu tao cáp cắt bằng máy cắt, không
được cắt bằng lửa Sau khi cắt lắp ngay đầu bịt để bảo vệ tao cáp và tiếp tục luồn tao tiếp theo
Hình 5.12- Cuộn tao cáp và máy đẩy dùng cho luồn cáp
5.1.4.2- Kéo căng cốt thép ƯST
Đối với một số đốt như K0 , K1 và K2 thực hiện căng một đầu, đóng các chấu neo ở phía neo bị động và lắp kích ở phía đầu chủ động Kích treo lên khung của xe đúc bằng palăng xích, và kiểm tra toàn bộ hệ thống kích, bơm và ống dẫn dầu Lắp con trỏ để đo
độ dãn dài của cáp ở cả hai phía bị động và chủ động, phía bị động đo từ mặt đế nao đến một điểm trên một tao cáp, phía chủ động đo từ một điểm trên vỏ kích đến mặt trước của tấm neo công cụ Bơm kích lên ở áp suất 0,1Pkt và đóng lại các nêm ở phía bị động; bơm lên 0,2Pkt để đánh dấu vị trí các con trỏ lấy làm điểm "0" qui ước Lần lượt từng bước bơm lên ở các cấp lực tiếp theo là 0,4Pkt; 0,6 Pkt; 0,8 Pkt và 1,05 Pkt thì đóng neo Sau mỗi cấp lực phải theo dõi áp lực bơm, độ dãn dài ở hai đầu cáp và kiểm tra lực căng thực tế
so với lực căng kiểm tra Pkt ngay tại chỗ để kịp thời xử lý những hiện tượng bất thường
Đối với những đốt tiếp theo thực hiện căng cả hai đầu Kích thủy lực được lắp vào hai đầu cáp và đồng loạt thực hiện các thao tác căng kéo như đối với trường hợp căng một đầu cáp
5.1.4.3- Bơm vữa lấp ống ghen
Bơm vữa ximăng lấp kín các ống ghen nhằm hai mục đích quan trọng: liên kết giữa cốt thép và bê tông của dầm để cốt thép và bê tông cùng làm việc theo mô hình dự ứng lực trong; bảo vệ cốt thép chống các tác nhân ăn mòn Sau khi căng cáp phải tiến hành bơm vữa ngay sau đó để bảo vệ và để kết cấu có đủ thời gian tham gia chịu lực tiếp theo
Vữa bơm là vữa ximăng có phụ gia chống co ngót và tăng độ linh động, độ nhớt của vữa tính bằng thời gian chảy của 1lít vữa qua phễu rót Marsch là 12-14 s, nếu để sau
Trang 213h độ nhớt cũng không được vượt quá 25s
Trước khi bơm vữa tiến hành kiểm tra mức độ thông suốt của ống ghen bằng biện
pháp bơm khí nén và kiểm tra mức độ thông hơi qua các ống thoát giữa bằng nhựa mềm
đã bố trí từ khi đặt ống ghen, kiểm tra đến đâu gấp đầu ống lại và buộc bằng dây thép và
kiểm tra ống tiếp theo, cuối cùng đóng kín tất cả các lỗ thoát để kiểm tra độ kín của ống
ghen
Dùng máy bơm vữa bơm với áp suất 5-6 bar, lưu lượng bơm 16-20m/ph Trong khi
bơm vữa các ống thoát khí phải được mở hết và theo dõi vữa chảy ra từ các ống thoát ở
mỗi vị trí ống thoát khí kiểm tra vữa chảy ra cho đến khi thấy chất lượng vữa đồng nhất,
không có bọt khí và lượng vữa chảy ra từ 3-6l thì bịt ống thoát khí lại ở đầu thoát cuối
cùng lượng vữa tháo ra phải từ 6-10 l mới đóng kín ống và ngừng bơm vữa, giữ áp suất
bơm ở mức 5bar trong vòng 1 phút sau đó đóng van và kết thúc
5.1.5-Kiểm soát độ vồng trong quá trình đúc hẫng
5.1.5.1 -Chuyển vị của cầu dầm liên tục đúc hẫng sau khi kết thúc thi công
Tính đến thời điểm kết thúc thi công, kết cấu nhịp tích lũy những chuyển vị sau:
Độ võng tĩnh gồm độ võng do tĩnh tải giai đoạn 1 và tĩnh tải giai đoạn 2 Độ võng
tĩnh do tĩnh tải giai đoạn 1 xảy ra trong giai đoạn thi công và xác định theo sơ đồ dầm
mút thừa tại thời điểm trước khi hợp long nhịp giữa Độ võng tĩnh giai đoạn 2 xuất hiện
ở thời đỉểm đã hợp long và căng cốt thép chịu mômen dương ở nhịp chính và tính theo
sơ đồ cầu dầm liên tục
Sau khi đúc mỗi đốt dầm thực hiện căng kéo một số cặp bó cốt thép ứng suất trước,
lực căng trước gây nên lực dọc và mômen uốn do điểm đặt lực lệch tâm cho mỗi mặt cắt
của cánh hẫng, kết quả đầu hẫng bị vồng lên
Thời gian đúc hẫng kéo dài hàng tháng, tại mỗi thời điểm thi công đầu mút của
cánh hẫng bị võng xuống một khoảng do biến dạng từ biến và co ngót của bê tông Độ
võng này thuộc loại độ võng thưonừg xuyên cộng với độ võng do tĩnh tải 1 và tĩnh tải
giai đoạn 2
Độ võng do xe đúc và tải trọng thi công gây ra tuy là tải trọng tạm thời nhưng do
dỡ xe đúc ở giai đoạn đã hợp long nên dầm có hiệu ứng vồng lên
Chuyển vị ( độ võng) của dầm sau khi kết thúc thi công là tổng đại số của các
chuyển vị thành phần kể trên so với vị trí đường chuẩn 0-0 nối giữa hai đỉnh gối ở trên
trụ biên Võng xuống mang dấu dương (+) còn vồng lên mang dấu âm (-), tính cho vị trí
các mặt cắt cuối đốt đúc :
fi = fp i1, + fp i2, + fε,i + fdxe i, + yi (5-9)
fp1,i - độ võng do trọng lượng bản thân dầm bê tông (tĩnh tải giai đoạn 1) tính tại
đầu đốt thứ i, tính theo sơ đồ dầm mút thừa
fp2,i - độ võng tại điểm i do tĩnh tải giai đoạn 2, tính theo sơ đồ dầm liên tục
fε ,i - độ võng tại điểm i do từ biến và co ngót, tính với sơ đồ dầm côngxon
fdxe,i - độ vồng tại điểm i do hiệu ứng dỡ xe đúc gây ra tính theo sơ đồ dầm liên tục
yi - độ vồng lên do kéo các bó cốt thép ƯST thớ trên, tính đối với dầm công xon
5.1.5.2- Tính toán các thành phần chuyển vị của dầm đúc hẫng trong thi công
Độ võng do tĩnh tải giai đoạn 1 xác định tại thời điểm trước khi hợp long nhịp
giữa, tính theo sơ đồ dầm mút thừa Tải trọng tác dụng tính với trọng lượng bản thân
của phần dầm bê tông đã đúc, tác dụng của xe đúc là lực tập trung đặt tại điểm tì của
chân trước bao gồm trọng lượng xe đúc và một nửa trọng lượng của đốt hợp long
Môđuyn đàn hồi xác định theo kết quả thí nghiệm tại thời điểm tk, nếu không có số
liệu thí nghiệm có thể tính theo công thức :
Trang 22Độ võng do tĩnh tải giai đoạn 2 tính tại thời điểm hoàn thiện cầu và môđuyn đàn
hồi tính theo (5-10) nhưng fck xác định tại thời điểm thi công lớp phủ mặt cầu
Từ biến là tính chất biến dạng thay đổi theo thời gian của bê tông, để xét ảnh
hưởng của từ biến người ta sử dụng đại lượng đặc trưng cho từ biến đó là hệ số từ biến ϕ
là tỉ số giữa biến dạng do từ biến và biến dạng đàn hồi
tb
dh
εϕε
Những yếu tố ảnh hưởng đến từ biến bao gồm : tuổi của bê tông, thời gian chất tải,
độ ẩm của môi trường,tỉ lệ nước/ximăng, hình dạng và kích thước của kết cấu Quan hệ
giữa các yếu tố này với biến dạng do từ biến thông qua công thức với các hệ số thực
nghiệm Đối với Tiêu chuẩn thiết kế của mỗi nước công thức xác định hệ số từ biến
khác nhau, trong tính toán đúc hẫng có thể áp dụng các công thức tính hệ số từ biến và
biến dạng co ngót theo hướng dẫn của ACI 209 (1998)
( ) ( )
0,6
* 0,6
,10
t t
trong đó : t- tuổi bê tông kết thúc từ biến lấy bằng 50x365 ngày
τ - tuổi bê tông tính đến thời điểm đặt tải ( hoàn thành đúc đốt) ngày φ*(τ)- hệ số từ biến cuối cùng đối với bê tông đặt tải vào tuổi τ
φ τ∗( )=2, 35γ γ γ γ γ γ1 2 3 4 5 6 (5-13)
γ1 - hệ số phụ thuộc vào tuổi của bê tông tại thời điểm đặt tải
γ1=1, 25τư0,118 khi τ >7 ngày, bảo dưỡng tưới ẩm
γ2 - hệ số phụ thuộc độ ẩm của môi trường, khi λ >40%
Trang 23γ5 - hệ số phụ thuộc vào tỉ số giữa trọng l−ợng cốt liệu nhỏ trên tổng trọng l−ợng cốt liệu bê tông ψ (%)
( ) ( , ) ( ) ( ) ( , ) ( ) ( )
n
j i
j i
t t
σσ
Δ
Độ võng do biến dạng từ biến tại mỗi vị trí đốt đúc bằng tổng độ võng đàn hồi tại
vị trí đó do từng lần chất tải thêm gây ra nhân với hệ số từ biến φ(tn,τj) , cơ cấu của độ võng tóm tắt trong bảng sau:
trong đó : li - chiều dài đốt thứ i đanng xét mm
Ec(τi) - môduyn đàn hồi của bê tông có tuổi τi xác định theo (5-10) Mpa
Ii - mômen quán tính tiết diện mặt cắt tại i mm4
Li,Li-1,Ll - chiều dài cánh hẫng tính từ điểm ngàm đến các mặt cắt i-1,i
Trang 24Vì là dầm côngxon nên chuyển vị của đốt sau bằng chuyển vị của đốt đó so với vị trí đốt trước cộng với chuyển vị riêng của các đốt trước đó
Tính độ vồng lên của cánh hẫng do kéo căng cốt thép thớ trên khi xét tác dụng của lực căng như là ngoại lực Lực căng cốt thép gây ra cho cánh hẫng lực nén dọc trục và mômen dương do vị trí neo lệch tâm so với trọng tâm mặt cắt, trong đó chỉ có thành phần mômen gây ra chuyển vị thẳng đứng
Chuyển vị của mặt cắt thứ i do các bó cốt thép neo tại mặt cắt này và những bó kéo và neo ở những mặt cắt sau đó gồm từ i+1 đến bó cuối cùng của mặt cắt n
Mômen uốn do kéo cốt thép được tính bằng lực căng nhân với cánh tay đòn Lực
căng trong cốt thép lấy bằng 0,65fpy trừ đi các mất mát tức thời nhân với diện tích của tiết diện bó cáp
Cánh tay đòn của lực căng cốt thép tính từ điểm neo đến trọng tâm của mặt cắt i tính như sau: đối với các bó neo ngay tại mặt cắt lấy bằng độ lệch tâm ei, đối với các bó neo ở những mặt cắt của những đốt đúc sau đó bằng độ lệch tâm ei cộng với độ vồng tương đối của đốt đúc sau thứ j so với vị trí đốt i
Ban đầu tính với độ vồng xác định theo công thức (5-9) với yi =0 , sau khi tính
được yi' thay vào ( 5-9) để xác định lại vi và tính yi lần cuối
Độ vồng lên của dầm do hiệu ứng dỡ tải tính cho nhịp biên và cho nhịp giữa khác nhau
Khi tính cho nhịp biên độ võng của phần nhịp đúc hẫng do trọng lượng xe đúc theo sơ đồ dầm côngxon, sau khi dỡ xe đúc cả nhịp vồng lên tương tự như tác dụng lên nhịp một lực tương đương trọng lượng xe đúc nhưng theo hướng ngược lên và tính theo sơ đồ dầm mút thừa Hiệu ứng dỡ tải nhịp biên chỉ gây ra độ vồng trở lại mà không phát sinh nội lực
do kéo cốt thép d) Độ vồng do dỡ tải xe đúc ở nhịp biên e) Độ vồng do dỡ tải xe
đúc ở nhịp chính
Trang 25Đối với nhịp chính tính với sơ đồ dầm đã hợp long nhịp giữa và kéo cốt thép thớ
dưới, tải trọng tác dụng gồm trọng lượng xe đúc và tải trọng thi công hướng từ dưới lên,
Hiệu ứng dỡ tải không những gây ra sự vồng lên của các nhịp mà còn phát sinh nội lực
Môduyn đàn hồi của bê tông xác định tại thời điểm dỡ tải
5.1.5.3- Điều chỉnh độ vồng trong quá trình đúc hẫng
Cầu dầm liên tục được tạo độ dốc dọc dưới dạng đường cong đứng Những điểm kê
trên gối bố trí theo cao độ đã tính của đường cong và không thay đổi trong quá trình đúc
hẫng, còn các điểm khác trên nhịp cao độ luôn thay đổi trong quá trình đúc hẫng nhưng
sau khi thi công lớp phủ và những bộ phận khác trên cầu thì cao độ của các điểm này
phải trùng với cao độ của đường cong thiết kế
Để sau khi kết thúc thi công phải tạo độ vồng trước cho dầm trong quá trình thi
công khắc phục độ võng thường xuyên, đối với cầu dầm đúc hẫng độ vồng trước được
tạo bằng cách điều chỉnh cao độ ván khuôn của mỗi đốt đúc
Đường đích để điều chỉnh là đường cong của mặt nắp hộp dầm sau khi hợp long
kết thúc thi công, đường cong có tung độ hi so với đường chuẩn 0-0, ở vị trí nào đường
cong nằm trên đường chuẩn thì mang dấu dương (+) còn ở dưới thì mang dấu âm (-)
Độ vồng của dầm tại mỗi vị trí bằng tung độ đường chuẩn cộng với độ võng của
dầm sau khi kết thúc thi công, cũng theo dấu của chúng :
f v f
Hình 5.14- Độ vồng cần tạo và độ võng xuất hiện trong quá trình đúc hẫng
Tại mỗi vị trí lắp ván khuôn, chuyển vị của đầu hẫng đã bao gồm một phần độ
võng do trọng lượng của những đốt đã đúc, độ võng tức thời do trọng lượng xe đúc và
độ vồng lên của phần hẫng do những bó đã kéo gây ra Độ vồng vi tính theo độ võng tĩnh
của cả cánh hẫng nên khi đúc đến đốt nào phải trừ đi độ võng do những đốt trước nó gây
ra cho đến khi đúc đốt cuối cùng thì độ vồng trước đã trừ đi hết độ võng do trọng lượng
của các đốt, độ võng do xe đúc gây ra ở mỗi vị trí đúc là độ võng tạm thời nó sẽ thay đổi
sau mỗi lần di chuyển xe đúc, tại mỗi vị trí xác định cao độ xe đúc đã đứng sẵn trên đó
nên độ vồng phải trừ đi độ võng do nó gây ra Độ vồng lên của đầu cánh hẫng do kéo cốt
thép đã được tính khi kéo đầy đủ các bó, khi đúc đến đốt Ki mới chỉ có độ vồng do kéo
Trang 26những bó trước đó gây ra, tương tự như độ vồng trước phải trừ dần độ võng thì độ vồng trước do vồng lên phải cộng dần Mặt khác độ vồng của đốt Ki đo tại mặt ván đáy ván khi chưa đổ bê tông nên phải cộng độ võng của dầm do trọng lượng của đốt này sẽ gây
ra và biến dạng của xe đúc và thanh treo Như vậy cao độ vị trí của ván khuôn đáy hộp dầm tại mép trước được xác định như sau:
H i =H0+ ưv i f p i01, 1ư + f pi0 +δpi xe+v i0ư1ưh d i, (5-17)
H0-cao độ mặt cầu tại đỉnh trụ
vi - độ vồng của đốt Ki
f 0
p1,i-1- độ võng do tĩnh tải giai đoạn 1 của cánh hẫng khung T ở thời
điểm đúc xong đốt Ki-1
v0i-1 - độ vồng lên của đầu cánh hẫng khi kéo cốt thép ở đốt Ki-1
h d,i–chiều cao của tiết diện hộp dầm tại mặt cắt i trừ chiều dày bản đáy Các số liệu trên lấy theo giá trị tuyệt đối được tính toán trước trong quá trình thi công dựa vào kết quả đo đạc thực tế có thể hiệu chỉnh Kết quả đo đạc thực tế bao gồm : môđuyn đàn hồi của bê tông, biến dạng của xe đúc, biến dạng của trụ
Tọa độ những vị trí đặt ván khuôn của dầm đúc hẫng có thể mô tả theo biểu đồ sau
Trong quá trình thi công việc quản lý độ vồng của dầm đúc hẫng được thực hiện bằng biện pháp đo đạc thường xuyên và có hệ thống, so sánh kết quả đo đạc thực tế với
số liệu tính toán và điều khiển công tác cố định xe đúc và lắp dựng ván khuôn
Mỗi khối đúc phải có 1 điểm mốc nằm trên tim dọc cầu, 2 điểm kiểm soát cao độ
và độ thẳng hàng ở mặt trên và 2 điểm ở mặt đáy Riêng khối K0 số lượng điểm mốc kiểm soát tim dọc là 3 trong đó có một điểm ở vị trí đỉnh trụ, mỗi phía cánh hẫng có 4
điểm kiểm soát cao độ
Kết quả đo đạc tại hiện trường chịu ảnh hưởng của biến dạng do nhiệt độ bao gồm biến dạng nhiệt của ván khuôn, của hệ thống xe đúc và chênh lệch nhiệt độ giữa bản nắp
và bản đáy của hộp dầm Để khắc phục ảnh hưởng này nên tiến hành đo đạc vào các thời
điểm có nhiệt độ đặc trưng trong ngày, sau đó so sánh số liệu và áp dụng phương pháp
Trang 27ngoại suy vị trí điểm đo, lấy vị trí điểm chuẩn theo tính toán là số liệu đo lúc sáng sớm chưa có ánh mặt trời
5.1.6- Thi công đốt biên:
Đốt biên đúc tại chỗ trên đà giáo cố định Chiều dài đốt biên từ 9-15m , mặt cắt hộp dầm có chiều cao không đổi Đốt biên chỉ có các bó cốt thép thớ dưới kéo sau và các bó chủ yếu neo tại đầu nhịp
Đầu đốt biên đúc gối lên mố hoặc trụ nhịp dẫn, phần còn lại do đà giáo đỡ Nếu gối lên mố, tường đỉnh của mố sẽ xây sau khi hoàn thành tho công nhịp, nếu nhịp biên tiếp giáp với nhịp dẫn thì nên tiến hành thi công nhịp dẫn trước
Kết cấu của đà giáo cố định phụ thuộc vào chiều cao của nhịp biên, phụ thuộc vào
địa hình mặt bằng bãi sông và điều kiện thủy văn trong giai đoạn thi công
Nếu nhịp dẫn nằm trên cạn, bãi sông tương đối bằng phẳng, đà giáo sử dụng kết cấu vạn năng đặt dày trên móng khối là tấm BTCT đổ trực tiếp trên nền Trường hợp địa chất nền không tốt phải sử dụng móng cọc khi đó có thể sử dụng đà giáo dạng dầm, một
đầu kê vào mố, một đầu kê trên trụ tạm dựng trên móng cọc
Nếu địa hình bãi sông dốc sử dụng rọ đá làm tường chắn bên trong bơm cát để đắp tạo mặt nền bằng phẳng, trên đó đổ tấm bê tông móng và dùng đà giáo đặt dày Trong trường hợp độ dốc của bãi không lớn, nền đắp thấp có thể dùng bao tải cát để xếp làm tường chắn.( hình 5.16 b)
MNTC
Hình 5.16- Những trường hợp sử dụng đà giáo đặt dày thi công đốt biên
a) Mặt bằng bãi sông bằng phẳng b) Mặt bằng bãi sông dốc 1- móng khối 2- kết cấu vạn năng MYK 3- tường chắn rọ đá 4- nền đắp bằng cát
Trường hợp bãi sông bị ngập nước sử dụng đà giáo dạng dầm gác lên kết cấu mở rộng mố và trụ hoặc trên trụ tạm dựng trên móng cọc bệ cao ( hình 5.17,a)
Khi nhịp biên rất cao thay vì phải dựng trụ tạm cao dễ mất ổn định có thể dùng kết cấu đà giáo dạng giàn côngxon có thanh chống xiên từ dưới đỉnh trụ biên lên, giàn côngxon được liên kết với thân trụ chính nên đảm bảo ổn định tốt, để tăng cường cho
Trang 28trụ bê tông cần thi công nhịp dẫn trước và giằng đỉnh trụ với bệ móng của trụ nhịp dẫn
phía sau ( hình 5.17,b)
Các công đoạn trong thi công đốt biên tiến hành tương tự như thi công đổ bê tông tại chỗ kết cấu nhịp dầm trên đà giáo cố định
Đà giáo phải được thử tải trước khi lắp dựng ván khuôn Biện pháp chất tải đà giáo
đã được trình bày chi tiết trong mục 4.2.4
Đổ bê tông đốt dầm theo phương pháp phân mảnh hoặc phân đoạn Phương pháp phân đoạn tiết kiệm được chi phí ván khuôn nhưng đà giáo bị chất tải lệch, biện pháp thi
công phức tạp Phương pháp phân mảnh được áp dụng phổ biến hơn, đợt đầu đổ bê tông
bản đáy và một phần của thành hộp , đợt sau đổ các bộ phận còn lại
Hình 5.17- Đà giáo thi công đốt biên trong những trường hợp trụ cao
a) Đà giáo dạng dầm kê trên trụ tạm
b) Đà giáo dạng giàn côngxon có thanh chống xiên
1- thanh chống xiên 2- dây neo đỉnh trụ
5.1.6-Biện pháp hợp long :
5.1.6.1- Hợp long nhịp biên:
Thi công mối nối liên kết hai nửa kết cấu nhịp được đúc từ hai phía lại với nhau gọi là hợp long Nối nửa đúc hẫng cân bằng với đốt biên gọi là hợp long nhịp biên, nối
hai nửa đúc hẫng cân bằng từ hai phía gọi là hợp long nhịp giữa
Chiều rộng của đốt hợp long từ 1,5 ữ 2,0m , tại đốt hợp long cốt thép được nối liên
tục, cốt thép thường nối với các thanh cốt thép chờ từ hai phía của đốt dầm, đối với cốt
thép ƯST tiến hành nối các ống ghen trước sau khi bê tông mối nối đạt cường độ kéo cốt
thép thớ dưới tạo ứng suất trước cho bê tông đốt hợp long
Hợp long nhịp biên có thể tiến hành trên đà giáo treo hoặc trên đà giáo cố định Khi nhịp biên thấp, kết cấu của đà giáo cố định không phức tạp, sau khi hoàn thành đúc
hẫng các đốt, nối dài thêm một đoạn đà giáo cố định của đốt biên đỡ phía dưới đốt hợp
long để dựng ván khuôn
Trong giai đoạn hợp long nhịp biên cả hai xe đúc đều đứng trên nhịp giữ nguyên ở
vị trí đúc đốt cuối cùng, xe đúc trên nhịp biên được sử dụng để điều chỉnh cao độ khi đốt
đúc hẫng và đốt biên lệch nhau
Có ba trường hợp phải điều chỉnh cao độ của đốt biên và đầu cánh hẫng: dầm biên
thấp hơn đầu hẫng và thấp hơn cao độ thiết kế, đốt biên thấp hơn đầu hẫng nhưng đúng
cao độ thiết kế và cả đốt biên và đầu hẫng đều thấp hơn cao độ thiết kế
Đối với trường hợp thứ nhất : sử dụng xe đúc để đặt kích trên đầu hẫng của giàn,