Giải thuật định tuyến Giải thuật định tuyến routing algorithm là giải thuật tìm đường đi cho các gói từ một máy nguồn đến một máy đích, trong hầu hết các mạng thì các gói sẽ cần đến n
Trang 1TỔNG QUAN
Ngày nay việc gia tăng các giá trị gia tăng hứa hẹn một tương lai phát triển mạnh mẽ cho hệ thống mạng với các dịch vụ thời gian thực , băng thông rộng hay các dịch vụ liên quan đến tính kinh tế, bảo mật, chất lượng dịch vụ cao như mạng riêng ảo (VPN)
Bên cạnh sự ra đời của các mạng công nghệ cao thì vấn đề là phải làm sao đảm bảo được tốc độ tính toán nhanh nhất và đạt hiệu năng tổng thể cho luồng lưu lượng khác nhau Hơn nữa cải thiện hiệu năng định tuyến là một bài toán được quan tâm hàng đầu trong mạng,
Trong đề tài này chúng ta tập chung tìm hiểu về thuật toán WSP (Widest shortest path alogorithm) Thuật toán này chọn đường đi ngắn nhất dựa trên số bước nhảy, và tìm đường rộng nhất dựa trên độ rộng băng thông Để hiểu thuật toán này trước hết chúng ta phải tìm hiểu về QoS (quality of service) và đi đến định tuyến đảm bảo QoS (chất lượng dịch vụ) qua thuật toán này như thế nào
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 1
Trang 2I khái niệm định tuyến
Mục tiêu cơ bản của các phương pháp định tuyến nhằm sử dụng tối đa tài nguyên mạng, và tối thiểu hoá giá thành mạng Để đạt được điều này kỹ thuật định tuyến phải tối ưu được các số mạng và người sử dụng như : Xác suất tắc ngẽn, băng thông, độ trễ, độ tin cậy, giá thành,v v Vì vậy, một kỹ thuật định tuyến phải thực hiện tốt 2 chức năng chính sau đây:
1.Quyết định chọn đường theo những tiêu chuẩn tối ưu nào đó.
2.Cập nhật thông tin định tuyến, tức là thông tin dùng cho chức năng
Trong các mạng máy tính có rất nhiều các kỹ thuật định tuyến khác nhau đã được đưa ra Sự phân biệt giữa các kỹ thuật định tuyến chủ yếu căn cứ vào các yếu
tố liên quan đến 2 chức năng chính đã chỉ ra trên đây Các yếu tố đó thường là:
(a) Sự phân tán của các chức năng chọn đường trên các nút của mạng.
(b) Sự thích nghi với trạng thái hiện hành của mạng.
(c) Các tiêu chuẩn tối ưu để định tuyến.
Tiêu chuẩn tối ưu để định tuyến được xác định bởi người quản lý hoặc người thiết kế mạng, nó có thể là:
- Độ trễ trung bình của thời gian truyền gói tin
- Số lượng nút trung gian giữa nguồn và đích của gói tin
- Độ an toàn của việc truyền tin
- Nguồn tài nguyên mạng sử dụng cho truyền tin
- v.v
- Tổ hợp của các tiêu chuẩn trên
Việc chọn tiêu chuẩn tối ưu như vậy phụ thuộc vào nhiều bối cảnh mạng (topo, thông lượng, mục đích sử dụng.v.v ) Các tiêu chuẩn có thể thay đổi vì bối cảnh mạng cũng có thể thay đổi theo thời gian hoặc các triển khai ứng dụng trên
Trang 3mạng, chính vì thế mà vấn đề tối ưu hoá định tuyến luôn được đặt ra trong thời gian triển khai mạng, nhất là sự đối lập về quan điểm người sử dụng dịch vụ và nhà khai thác dịch vụ mạng
II Giải thuật định tuyến
Giải thuật định tuyến (routing algorithm) là giải thuật tìm đường đi cho
các gói từ một máy nguồn đến một máy đích, trong hầu hết các mạng thì các gói sẽ cần đến nhiều bước nhảy (nghĩa là phải chuyển qua nhiều bộ định tuyến) để hoàn tất cuộc hành trình Giải thuật định tuyến có nhiệm vụ quyết định đường dây ra nào
mà một gói đến có thể được truyền trên nó Có hai quá trình xảy ra trong một bộ định tuyến, đó là một quá trình quản lí mỗi một gói khi gói này đến, tìm kiếm đường ra cho gói này ở trong các bảng định tuyến, quá trình này gọi là quá trình truyền tiếp Quá trình còn lại có nhiệm vụ cập nhật và điền vào các bảng định tuyến, đó là nơi mà giải thuật định tuyến bắt đầu có hiệu lực
2.1 Yêu cầu của giải thuật định tuyến
Các thuộc tính cần phải có trong giải thuật định tuyến là:
Chính xác (exactitude)
Đơn giản (simple)
Có khả năng thay đổi cấu hình và đường vận chuyển để không phải
khởi động lại mạng khi có một nút hỏng hoặc phải ngừng hoạt động của các máy ở trạm
Ổn định vì có những thuật toán không bao giờ hội tụ về trạng thái cân
Trang 4(topo) mạng Thay vào đó, việc lựa chọn tuyến sử dụng để đi từ nguồn đến đích được tính toán trước và được tải xuống các bộ định tuyến khi mạng được khởi động
Giải thuật thích nghi thay đổi các quyết định định tuyến để phản ánh sự thay đổi trong cấu trúc liên kết mạng và thường là cả lưu lượng Các giải thuật thích nghi khác nhau ở nơi nào chúng lấy thông tin (chẳng hạn như có tính cục bộ, từ các
bộ định tuyến gần nhất hoặc từ tất cả các bộ định tuyến ), khi nào các giải thuật này thay đổi các tuyến (chẳng hạn như mỗi một ΔT giây, khi tải thay đổi hay cấu trúc liên kết mạng thay đổi ), và số đo nào được sử dụng cho sự tối ưu (chẳng hạn như khoảng cách, số bước nhảy hay thời gian chuyển tiếp được ước lượng) và ở đoạn tiếp giải thuật định tuyến đường đi ngắn nhất và rộng nhất (WSP)
2.2 Giải thuật tìm đường đi ngắn nhất và rộng nhất ( WSP )
Thuật toán tìm đường đi ngắn nhất và rộng nhất (WSP)[1] là thuật toán được nâng cấp từ thuật toán bước nhảy tối thiểu,WSP cố gắng cân bằng tải trọng của lưu lượng mạng Trên thực tế thì WSP chọn một đường dẫn khả thi nhất cùng với số bước nhảy bé nhất và nếu có nhiều hơn một đường dẫn khả thi cùng với số bước nhảy như vậy thì một đường dẫn sẽ được chọn ra cùng với độ dư băng thông lớn nhất, như vậy sẽ làm giảm liên kết tải trọng nặng Mục tiêu của thuật toán WSP
là để chọn một con đường ngắn nhất mà là một con đường có tính khả thi theo sự rằng buộc về băng thông của lưu lượng Số đo chính trong thuật toán WSP là số bước nhảy và số đo thứ 2 là băng thông sẵn có (còn dư), trong giai đoạn một tồn tại tất cả các con đường ngắn nhất giữa mỗi nguồn và tất cả các đích trong mạng là một sự tính toán Trong giai đoạn 2 băng thông được sử dụng WSP có thể tính toán bằng phiên bản sửa đổi của Bellman-Ford hoặc thuật toán Dijkstra Sự mở rộng để thuật toán Dijkstra thay thế cho sự tính toán của WSP Mục đích chính của WSP là
để giảm tải chi phí cho mạng Từ đó sự duy trì tài nguyên mạng là đặc biệt quan trọng khi mạng bị tắc nghẽn, kiểu thuật toán này mang lại hiệu quả cao khi mạng
có tải trọng cao WSP thực thi tốt bởi vì tài nguyên được bảo vệ đồng thời bằng
Trang 5cách chọn con đường ngắn và cân băng tải trọng bằng cách chọn con đường rộng giữa các con đường có độ dài như nhau
Trong phần sau chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu về QoS (quality of service)
để biết được giải thuật WSP hỗ trợ cho định tuyến QoS như thế nào
III Giới thiệu về QoS (quality of service)
3.1 Định nghĩa về QoS (chất lượng dịch vụ)
Chất lượng dịch vụ QoS [2] là khả năng của mạng để cung cấp dịch vụ tốt cho lưu lượng mạng xác định qua nhiều công nghệ lớp dưới như Frame-Relay, ATM, IP và các mạng định tuyến… nói cách khác nó là đặc tính của mạng cho phép phân biệt giữa các lớp lưu lượng khác nhau và sử lý chúng một cách khác nhau
Một vài ứng dụng tổng quát và độ chính xác của các yếu cầu được liệt kê trong bảng sau
Bảng 3.1 Các yêu cầu về chất lượng dich vụ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hội nghị truyền hình
Âm nhạc theo yêu cầu
Cao Thấp Thấp
Cao Cao
Cao Cao
Thấp
Thấp
Thấp Thấp Thấp
Thấp Thấp
5
Trang 63.2 Mô hình trạng thái QoS
Một mô hình trạng thái mạng QoS thường được biểu diễn dưới dạng một
đồ thị G(V,E) Trong đó V thể hiện cho các nút và E là các liên kết Lưu lượng vào mạng qua nút vi và ra qua nút vj Mỗi liên kết (i,j) có 2 đặc tính : Ci,j là dung lượng liên kết và fi,j là lưu lượng thực tế Gọi Ri,j = (Ci,j – fi,j) là băng thông dư Một kết nối
có yêu cầu băng thông là dk thì một liên kết được gọi là khả dụng khi Ri,j ≥ dk Một kết nối mới có thể được chấp thuận nếu ít nhất tồn tại một đường dẫn khả dụng giữa vi và vj
Hình 3.2 Mô hình trạng thái mạng QoS
Một đường đi (path) trên đồ thị là một dãy tuần tự các đỉnh v1,v2 vn, sao cho (vi,vi+1) là một cung của đồ thị (i=1…n-1) Đường đi này là đường đi từ đỉnh v1 đến đỉnh vn đi qua các đỉnh v1,v2 vn-1, đỉnh v1 được gọi là đỉnh đầu của đường đi, đỉnh vn được gọi là đỉnh cối của đường đi, độ dài của đường đi là n-1(bằng số cạnh trên đường đi ) Một liên kết a thuộc E từ nốt vi đến vi+1 hay gọi là liên kết (vi,vi+1) Mỗi một liên kết a thuộc E có tải trọng wi(a) w(vi ,vi+1) là tải trọng tương ứng với liên kết ( vi,vi+1 ) trên đường dẫn P = ( v1,v2 vn-1 ) và W(P) là tải trọng trên toàn bộ đường truyền
3.3 Mục tiêu định tuyến QoS
i
n
lj
CijFijV0
Trang 7Vai trò của định tuyến là tính toán đường dẫn thích hợp cho các kiểu lưu lượng khác nhau, khi sự tận dụng của tài nguyên mạng lớn, việc đáp ứng mục tiêu phụ thuộc vào sự phát triển của thuật toán để tìm đường dẫn dựa vào sự tính toán trạng thái của mạng và lưu lượng yêu cầu, cụ thể là, cần tính đến độ trễ, độ trượt, tỉ
lệ mất mát và băng thông còn dư
Mục tiêu của định tuyến QoS là để chọn đường dẫn phù hợp theo yêu cầu thông lượng căn cứ trên thông tin về tất cả các trạng thái của mạng Sự tận dụng tài nguyên mạng cũng là mục tiêu quan trọng của định tuyến QoS Kế hoạch định tuyến QoS cần phải đưa ra giải pháp cho kĩ thuật phân phối số đo và thuật toán chọn đường dẫn
Một số đề xuất phối hợp định tuyến QoS thường phụ thuộc vào sự trao đổi giữa các thông tin trạng thái QoS các bộ định tuyến, và xử lý phần đầu tại trung tâm các bộ định tuyến Để đơn giản hóa việc trao đổi thông tin trong mạng, chúng ta tập trung phối hợp định tuyến khoanh vùng tại biên (edge) các bộ định tuyến và như vậy để giải quyết đường đi chỉ cần sử dụng thông tin cục bộ (local)
Định tuyến căn cứ trên dung lượng ảo (vcr virtual capacity based routing)
là sự phối hợp trên lí thuyết căn cứ trên khái niệm dung lượng ảo của một bộ định tuyến Chúng ta tập trung phối hợp định tuyến QoS khoanh vùng tại biên (edge) các
bộ định tuyến để giải quyết đường đi chỉ sử dụng thông tin cục bộ ”local” và như vậy thì giảm tải phần đầu tại trung các tâm bộ định tuyến
Trang 8Hình 3.4 Độ trễ và mất mát gói tin trong mạng
+ Việc quản lý băng thông hiệu quả để chuyển các gói qua một mạng gói
dựa trên các thông số sau
- Latency –Trễ khi chuyển một gói tin qua mạng
- Jitter – Trượt
- Loss – Phần trăm mất gói
- roughput –Thông lượng của mạng
- vailability - network uptime-tính sẵn sàng của mạng
+ Các tham số sau đây là cơ sở để định lượng bất kỳ một dịch vụ nào:
- one-way delay -độ trễ một chiều
- one-way packet delay variation-mức độ thay đổi độ trễ gói tin theo một chiều
Trang 9- capacity- dung lượng
- packet loss- độ mất mát gói tin
Ngoài danh sách này,có một vài yêu cầu cơ bản cho hoạt động mạng mà ảnh hưởng lớn đến toàn bộ chất lượng của bất kỳ dịch vụ nào
- Tỉ số lỗi bít
- Sự ổn định của lớp vật lý và liên kết số liệu
- Sự ổn định định tuyến
- Hiệu năng phần cứng toàn mạng
- Kiểm tra và thời gian cần để giải quyết sự cố
Jitter sensitive, tương tác cao(VoIP,VTC) thời gian thực, Jitter sensitive, tương tác (VoIP,VTC)
Truyền vận dữ liệu,tương tác cao(signaling) Truyền vận dữ liệu,tương tác
chỉ tổn thất nhỏ(các vận chuyển ngắn, kích thước dữ liệu) ứng dụng truyền thống của các mạng default
IP
Tách rời hàng đợi cùng với
độ ưu tiên, nhóm lưu lượng
rằng buộc định tuyến và khoảng cách rằng buộc định tuyến
ở mức độ nhỏ hơn và khoảng cách
rằng buộc định tuyến và khoảng cách rằng buộc định tuyến
ở mức độ nhỏ hơn và khoảng cách
bất cứ bộ định tuyến/đường dẫn
bất cứ bộ định tuyến/đường dẫn
9
Trang 103.5 Các giao thức và tiêu chuẩn liên quan đến QoS
Trong phần này sẽ đề cập và xem xét hai mô hình hỗ trợ QoS trong mạng
IP là : Integrated Services (các dịch vụ tích hợp) và Differentiated Services (các dịch vụ sai biệt ) Cả hai mô hình đều hỗ trợ cho việc điều khiển mạng và mang lại khả năng phát triển mạng tốt hơn
Kĩ thuật Intserv được hiểu một cách tổng quan như sau
- Mỗi node mạng (router) được phân chia thành 2 phần: Xử lý cơ bản
và chuyển tiếp lưu lượng
- Xử lý cơ bản đảm nhận các chức năng như: định tuyến, thiết lập và duy trì tài nguyên mạng và điều khiển quản lý
- Xử lý trong chuyển tiếp lưu lượng: dựa trên thông tin trong cơ sở dữ liệu để phân loại lưu lượng và đưa lưu lượng vào hàng đợi
Kĩ thuật Intserv (dịch vụ tích hợp), sử dụng giao thức RSVP- (giao thức dự trữ trước tài nguyên-Source Reservation Protocol) để dành trước tài nguyên trước khi truyền dữ liệu
Hình 3.5 RSVP
RSVP cho phép nhiều bộ định tuyến truyền thông tin đến nhiều bộ định tuyến cho phép các bộ định tuyến tối ưu hóa trong việc sử dụng băng thông đồng thời với việc loại bỏ nghẽn mạch Để dành trước tài nguyên phía gửi sử dụng RSVP
để gửi một bản tin PATH tới phía nhận để xác định các thuộc tính của lưu lượng sẽ
Trang 11gửi Mỗi node trung gian sẽ chuyển tiếp bộ bản tin PATH tới các node kế tiếp Khi nhận được bản tin PATH bên nhận sẽ gửi bản tin RESV để yêu cầu tài nguyên cho luồng Các node trung gian trên đường đi có thể chấp nhận hay từ chối các yêu cầu chứa trong bản tin RESV, nếu yêu cầu bị từ chối, bộ định tuyến sẽ gửi bản tin báo lỗi cho phía nhận, quá trình báo hiệu kết thúc Nếu yêu cầu được chấp nhận, tài nguyên được dành riêng cho luồng và các trạng thái liên quan của luồng sẽ được cài đặt vào bộ định tuyến RSVP khó khăn trong việc thực hiện vì việc chuyển tiếp các gói dựa trên trạng thái của gói tại mỗi node, các quyết định này yêu cầu các gói RSVP phải mang một số thông tin “tóm tắt” để định phiên làm việc của chúng Các
bộ định tuyến trung gian phải có một bảng định tuyến động chứa phương pháp sử lí các thông tin “tóm tắt” đó và thông tin về việc “dành trước tài nguyên” Khi một bộ định tuyến nhận được một gói thuộc phiên làm việc RSVP nó phải tham chiếu vào bảng để biết cách phải xử lí gói như thế nào
Trong mô hình tích hợp dịch vụ sử dụng giao thức RSVP có thể đảm bảo QoS từ đầu cuối đến đầu cuối trên cơ sở mỗi luồng thông qua báo hiệu QoS trên từng chặng Các bộ định tuyến dọc theo đường truyền phải duy trì trạng thái cho mỗi luồng thông tin Vì vậy tối ưu về sử dụng tài nguyên mạng, nhưng kéo theo đó
là gánh nặng xử lý và tăng kích cỡ mạng
Trong mô hình dịch vụ sai biệt chỉ đảm bảo QoS trên từng chặng thông qua việc ấn định tài nguyên phần cứng Gánh nặng xử lý của các bộ định tuyến nhẹ hơn
và đơn giản hơn, nhưng không đảm bảo về QoS từ đầu cuối đến đầu cuối
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 11
Pat h
Pat
h
Resv Resv
Bộ phận đk
Tác nhân định tuyến
Phân
Thiết lập dành riêng
Điều khiển cơ sở
dữ liệu
Tác nhân đk
RSVP
Trang 12số đo
Giá trị của số đo dọc theo đường dẫn, căn cứ trên giá trị của mỗi bước nhảy được quyết định trên bản chất của số đo Việc thêm vào thành phần số đo có nghĩa là giá trị của số đo trên khắp đường dẫn là sự cộng gộp giá trị của mỗi bước nhảy ( độ trễ và số bước nhảy tương đương với các số đo cộng vào) Với các số đo được nhân lên thì giá trị của số đo trên con đường là tích số của các giá trị đó trong mỗi bước nhảy (độ tin cậy) Giá trị của số đo lõm (concave) trên đường truyền phù hợp để tuân theo giá trị trong tất cả các bước nhảy của đường truyền ấy (băng thông là ví dụ phổ biến của số đo lõm )
Các số đo sử dụng phổ biến trên định tuyến QoS và rằng buộc định tuyến căn bản được tách ra thành 3 loại
Được gọi là các quy tắc cấu tạo hành phần các số đo
- Tính cộng thêm nếu
Trang 13W(P) = w( u1, u2 ) + w ( u3 , u4 ) +…+ w(ul-1,ul)
- Tính nhân lên nếu W(P) = w( u1, u2 ). w ( u3 , u4 ) .…. w(ul-1,ul)
- Tính lõm nếu W(P) = min( w( u1, u2 ), w ( u3 , u4 ) ,…, w(ul-1,ul) )W(P) là tải trọng trên đường truyền, w(ui , uj) là tải trọng của một liên kết trên đường truyền
4.2 Phân phối số đo ( Metrics Distribution)
Trạng thái của mạng có thể miếu tả bằng một tập hơp số đo, bao gồm băng thông sẵn có, độ trễ, độ trượt, và mức độ tắc nghẽn Thông tin về tất cả trạng thái của mạng cần được phân phối, và giữ lại cập nhật, ở tất cả hoặc một vài bộ định tuyến trong mạng Sự phân phối cần được thực hiện thường xuyên hơn trong
bộ định tuyến để cập nhật trạng thái động của mạng Nhưng nếu thường xuyên cập nhật thông tin thì nó sẽ gây ra tiêu thụ băng thông nhiều, có thể xảy ra nguy hiểm cho mạng
4.3 Thứ tự số đo (Metric Ordering )
Thứ tự số đo phụ thuộc sự xác định của số đo mà có độ ưu tiên cao và có
sự tính toán tương đối tốt nhất theo số đo này Trong thuật toán WSP thì số đo được ưu tiên tính toán đầu tiên là số bước nhảy, số đo thứ hai căn cứ trên băng thông
Tuật toán WSP chọn từ các con đường ngắn nhất cùng với số bước nhảy như nhau, cùng với độ dư băng thông lớn Thuật toán WSP sử dụng thuật toán bellman-ford để tính toán đường dẫn rộng nhất ngắn nhất Thuật toán Dijkstra cũng có thể được sử dụng để tính toán đường ngắn nhất và rộng nhất Trong trường hợp này được sử dụng 2 hàm, đầu tiên là liên quan đến số bước nhảy, và thứ 2 là
độ dư băng thông lớn nhất Tại mỗi lần lặp thuật toán tính toán chọn một node cùng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 13
Trang 14với số bước nhảy nhỏ Nếu có nhiều hơn một node có số bước nhảy như vậy thì nó
sẽ chọn một node cùng với độ dư băng thông lớn nhất
Thuật toán WSP có mục đích định ra giới hạn sử dụng tài nguyên, chúng cũng cho phép đi đến cân bằng tải trọng Từ đó sự duy trì tài nguyên là quan trọng nhất khi mạng bị tắc nghẽn, và kiểu thuật toán này góp phần để duy trì tài nguyên,
nó cho thấy kết quả tốt khi tải trọng cao Thuật toán WSP cũng cho thấy cách giao tiếp tốt khi giải quyết định tuyến dựa trên thông tin của trạng thái mạng
Độ rộng băng thông được dùng như một số đo cho định tuyến QoS, một hoặc kết hợp cùng với các số đo khác, ví dụ như độ trễ hoặc số các bước nhảy
Hình 4.3 Thông lượng, băng thông sẵn có
V Kĩ thuật lưu lượng
Một vài định tuyến QoS đề xuất cách tính toán các đường dẫn ngắn nhất căn cứ trên số đo mà mô tả trạng thái của mạng Cách sử dụng thông thường của
Trang 15đường dẫn đơn ngắn nhất có thể đem lại tính không ổn định dưới sức nặng các tải trọng hoặc lưu lượng truyền loạt Khi tắc nghẽn ra tăng trong một con đường, tất cả các lưu lượng chuyển sang một con đường khác, cùng với tải trọng thấp hơn Trong lần lặp lại tiếp theo cuả thuật toán tính toán đường dẫn, thay đổi đường dẫn ngược lại có thể xuất hiện, tạo nên giao động Sự giao động bắt nguồn từ mạng không ổn định và gây tắc nghẽn dưới các giao thức định tuyến động, từ đó nó cần phân phối sự cập nhật tương ứng với thay đổi tình trạng của mạng
Kĩ thuật lưu lượng là một phần quan trọng để điều khiển của sự thực thi mạng: Lập kế hoach mạng, điều khiển dung lượng, và điều khiển lưu lượng [3] lập
kế hoạch cho mạng kết hợp cùng với node và kế hoạch truyền tải tăng hỗ trợ lưu lượng Điều khiển lưu lượng là modul nhằm vào sự thực thi của mạng dưới tất cả các điều kiện công việc bao gồm điều kiện tải trọng và tình trạng của mạng Cơ sở rằng buộc định tuyến là một công cụ mạnh cho kĩ thuật lưu lượng tại modul điều khiển lưu lượng, từ đó các đường dẫn được chọn theo sự sẵn có tài nguyên của mạng, sử dụng các giao thức định tuyến QoS
5.1 Định tuyến QoS: tiếp cận khu vực và tổng thể
Phần lớn sự phối hợp định tuyến QoS, được đề xuất phụ thuộc theo thay đổi định kỳ của thông tin trạng thái liên kết QoS giữa các bộ định tuyến trong mạng
để đạt được tổng quan chung về trạng thái QoS mạng Cách tiếp cận này để định tuyến QoS tham khảo như sự tiếp cận định tuyến QoS chung Bởi vì tài nguyên mạng có thể sẵn sàng bị thay đổi cùng với mỗi lưu lượng chuyển đến và đi ra, để duy trì trạng thái QoS mạng đúng yêu cầu thì thông tin phải được thường xuyên cập nhật Sự ngăn cấm truyền thông và chi phí sử lí gây ra sự ngăn cản cập nhật trạng thái QoS thường xuyên của mỗi node mạng cùng với cái nhìn đúng đắn của tình trạng mạng hiện thời Do vậy, thông tin trạng thái QoS mạng có được tại một nốt nguồn có thể nhanh chóng trở nên out-of-date (qúa hạn ) khi trạng thái QoS cập
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 15