1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình nghiệp vụ thuế_1 ppt

32 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Phát Triển Hệ Thống Thuế Việt Nam Từ 1945 Đến 2004
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Nghiệp Vụ Thuế
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 288,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1951, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn tổng phản công để giành thắng lợi cuối cùng bằng chiến dịch "Điện Biên Phủ" yêu cầu phải "tập trung nhân tài vật lực cho ti

Trang 1

Lịch sử phát triển hệ thống thuế Việt Nam

từ 1945 đến 2004

Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập cho đất nước, thành lập chính thể dân chủ cộng hoà, Nhà nước do dân và vì dân đầu tiên ở Đông Nam á Trong thời gian gần 60 năm qua, đất nuớc trải qua nhiều giai đoạn lịch

sử, mỗi giai đoạn có những mục tiêu và nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội riêng

Do đó, việc xây dựng và sử dụng hệ thống thuế cũng luôn thay đổi phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước Khái quát sự phát triển hệ thống thuế Việt Nam được thể hiện trong các giai đoạn lịch sử sau đây:

1 Hệ thống thuế giai đoạn từ 1945 đến 1954

1.1 Bối cảnh kinh tế xã hội giai đoạn 1945 đến 1954

Cách mạng tháng Tám thành công chưa được bao lâu thì thực dân Pháp lại trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai Cuối năm 1946, khi Pháp nổ súng đánh chiếm Nam Bộ, Chính phủ đã ra lời kêu gọi "Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, vừa kháng chiến và kiến quốc" Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến, tháng 5 năm 1954, chúng ta đã giành thắng lợi Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, buộc địch phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ Theo đó, đất nước ta tạm thời chia thành hai miền: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng từ sông Bến Hải trở ra; miền Nam tạm thời do Pháp chiếm đóng, sau hai năm Pháp sẽ rút hết quân và đất nước sẽ thống nhất theo điều ước của Hiệp định

Trong lúc tình hình quân sự như nước sôi lửa bỏng thì tình hình kinh tế lại vô cùng khó khăn Hậu quả của 80 năm đô hộ của Pháp đã vơ vét bóc lột nhân dân ta tới kiệt quệ bằng chính sách thuế khoá nặng nề hà khắc Thủ đoạn vơ vét trắng trợn của phát xít Nhật càng làm cho nhân dân ta nghèo đói tận cùng Khi nhân dân ta giành được chính quyền lại gặp phải thiên tai lớn hạn hán, ngập lụt

vỡ đê, làm cho 6 tỉnh miền Bắc mất mùa là nguyên nhân gây ra nạn đói năm

1945 làm cho trên một triệu người bị thiệt mạng

Tình hình tài chính - tiền tệ hết sức nan giải, Chính phủ ta tiếp quản một ngân sách trống rỗng chỉ có trên một triệu đồng trong khi khoản nợ của Chính phủ cũ để lại rất lớn Cùng một lúc trên thị trường lưu hành 3 loại tiền: tiền Đông Dương do Ngân hàng Pháp phát hành dùng chung cho cả 3 Nhà nước Việt, Miên, Lào; tiền quan kim và tiền quốc tệ do Tưởng Giới Thạch đem sang chi dùng cho

đội quân của chúng

Để đối phó với tình hình trên, Đảng và Nhà nước đưa ra các chủ trương: diệt giặc đói; diệt giặc dốt; diệt giặc ngoại xâm; và từng bước phát hành đồng tiền Tài chính Việt Nam thay cho đồng Đông Dương Thực hiện các chủ trương này

đã tác động tích cực làm cho nền kinh tế hồi phục và phát triển đáp ứng yêu cầu của tiền tuyến

1.2 Quan điểm sử dụng thuế của Nhà nước giai đoạn 1945 đến 1954

Thuế là nguồn thu chủ yếu đảm bảo nhu cầu của Nhà nước trong thời gian này nên Nhà nước ta chủ trương:

Trang 2

- Giai đoạn đổi mới giành chính quyền Nhà nước tiến hành bãi bỏ các loại thuế bất công vô lý của Pháp để giảm gánh nặng thuế khoá cho dân, sửa đổi và giảm nhẹ một số thuế hợp lý để duy trì nguồn thu, đảm bảo số thu cho Nhà nước

Đồng thời, thực hiện vận động quyên góp ủng hộ Nhà nước để bù số thu

- Từng bước ban hành các chính sách thuế riêng của nước ta Các chính sách thuế ban hành phải đảm bảo công bằng dựa trên thu nhập của các tầng lớp dân cư Thuế phải tác động tích cực khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Thuế là công cụ đấu tranh kinh tế với địch, giữa vùng tự do và vùng địch tạm chiếm Thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn thu cho Nhà nước đáp ứng nhu cầu cho cuộc kháng chiến Việc sử dụng thuế nằm trong tổng thể của chủ trương chung về tài chính là

"tăng thu, giảm chi, thống nhất quản lý thu chi"

1.3 Các sắc thuế giai đoạn 1945 - 1954

Thời kỳ đổi mới giành được chính quyền Nhà nước bãi bỏ các loại thuế vô

lý của Pháp chỉ giữ lại 2 loại thuế đó là:

- Thuế điền thổ: thu vào đất ruộng và đất vườn nhưng giảm bớt mức thu

- Thuế môn bài: thu vào người kinh doanh công thương nghiệp

Nhà nước tạm thời ban hành một số thuế mới để huy động nguồn thu gồm:

- Thuế du hý: đánh vào doanh thu của các loại hoạt động kinh doanh văn

hoá văn nghệ vui chơi theo thuế suất tỷ lệ % trên doanh thu

- Thuế đặc biệt: đánh vào xe hơi, xe vận tải

- Thuế sát sinh: xác định theo mức tuyệt đối trên đầu con vật bị giết thịt, đại

gia súc và tiểu gia súc (trâu, bò, ngựa, lợn, dê, cừu )

- Thuế đảm phụ quốc phòng: thu mức cố định theo đầu người nam giới từ 18

Năm 1946, cả nước bước vào thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nhu cầu chi tiêu cho tiền tuyến ngày càng lớn Nhà nước đã bãi bỏ một số thuế, sửa

đổi một số thuế và ban hành lại thuế mới gồm các loại thuế sau:

- Thuế điền thổ: sửa đổi từ biểu thuế tuyệt đối sang biểu thuế suất luỹ tiến

từng phần theo sản lượng thu hoạch

- Thuế môn bài: Phân biệt mức thu tuyệt đối khác nhau theo quy mô kinh

doanh

- Thuế thuốc lá, thuốc lào: nâng mức thuế suất cao để hạn chế tiêu dùng

- Thuế quan: đánh vào hoạt động kinh doanh xuất khẩu qua cửa khẩu, biên

giới và giữ vùng tự do với vùng địch tạm chiếm

Trang 3

- Thuế lãi doanh nghiệp và thuế lợi tức tổng hợp đánh vào thực lãi của các

cơ sở kinh doanh Hai loại thuế này tuy có ban hành nhưng chưa áp dụng để thu vì chiến tranh nên các cơ sở kinh doanh phải sơ tán gặp nhiều khó khăn

Thời gian thực hiện các loại thuế từ 1946 đến 1950, kết quả đạt được rất thấp vì chiến tranh theo thế "cài răng lược" vùng tự do bị địch tăng cường đánh phá bằng máy bay các cơ sở sản xuất kinh doanh phải phân tán chủ yếu hoạt

động ban đêm Việc quản lý tài chính thực hiện theo phương thức "phân tán", các địa phương "tự cấp tự túc" Phần lớn các địa phương chưa quan tâm quản lý thu thuế do yếu tố tâm lý Các địa phương vẫn chủ yếu dựa vào nguồn thu động viên, quyên góp bằng các phong trào "Tuần lễ vàng"; "Mùa đông binh sỹ"; "Hũ gạo nuôi quân" … Vì vậy, thuế chưa phát huy được tác dụng

Năm 1951, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn tổng phản công để giành thắng lợi cuối cùng bằng chiến dịch "Điện Biên Phủ" yêu cầu phải "tập trung nhân tài vật lực cho tiền tuyến", đòi hỏi phải tập trung nguồn thu cho Chính phủ Trung ương và thống nhất các chính sách huy động nguồn thu, Nhà nước đã quyết định bãi bỏ các thứ thuế hiện hành, thống nhất quản lý thu chi tài chính về Trung ương: toàn bộ số thu nộp hết cho Trung ương, các địa phương lập dự toán chi để Trung ương cấp vốn Thực hiện quyết định này, Nhà nước đã ban hành 7 thứ thuế áp dụng thống nhất cả nước bắt đầu từ năm 1951

đến 1954 bao gồm:

1 Thuế nông nghiệp: căn cứ tính thuế là hoa lợi bình quân nhân khẩu trong

hộ mức hoa lợi khởi điểm tính thuế là 81kg với biểu thuế suất luỹ tiến từng phần

từ 5% đến 45%

2 Thuế công thương nghiệp: thu vào hoạt động kinh doanh công nghiệp,

dịch vụ Thuế công thương nghiệp bao gồm 4 thứ thuế:

- Các doanh nghiệp lớn nộp hai thứ thuế: thuế doanh thu đánh theo tỷ lệ % trên doanh thu; thuế thực lãi thu theo tỷ lệ % vào lãi ròng

- Các cửa hàng kinh doanh nhỏ hẹp: thuế quán hàng với thuế suất luỹ tiến theo thu nhập

- Các cơ sở kinh doanh buôn bán: nộp thuế buôn chuyến thuế suất theo tỷ lệ trên giá trị của chuyến hàng

3 Thuế hàng hoá: đánh vào 81 mặt hàng với thuế suất tỷ lệ % cao để hướng

dẫn sản xuất và tiêu dùng, nhằm hạn chế bớt sản xuất, tiêu dùng những loại hàng hoá này

4 Thuế sát sinh: thu một mức thu cố định vào từng loại đại gia súc và tiểu

gia súc giết mổ (trâu, bò, ngựa, lợ, dê cừu)

5 Thuế trước bạ: đánh vào giá trị của một số tài sản chuyển nhượng theo

danh mục quy định

6 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu: đánh vào hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua

biên giới, cửa khẩu, và ranh giới giữa vùng tự do với vùng định tạm chiếm Thuế suất tỷ lệ % trên giá trị lô hàng xuất nhập khẩu

7 Thuế tem: thu vào tem thư bưu chính Loại thuế này tuy có ban hành

nhưng không áp dụng trong thực tế

Trang 4

Như vậy, chỉ có 6 loại thuế được sử dụng để huy động nguồn thu trong thời gian từ 1951 đến 1954 Kết quả thu được 6 loại thuế mới đã làm cho số thu của Nhà nước ngày càng tăng, đảm bảo nhu cầu chi tiêu lớn cho tiền tuyến và xã hội

1.4 Đánh giá hệ thống thuế giai đoạn 1945 - 1954

Năm năm đầu khi giành được chính quyền, Nhà nước có sửa đổi một số thuế

và ban hành một số sắc thuế Nhưng thực chất chỉ là giải pháp tạm thời xử lý tình huống Các loại thuế đưa ra chưa có cơ sở khoa học, chưa phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, do đó, hiệu quả rất thấp Bên cạnh đó, tâm lý của các cấp chính quyền và tâm lý của các tầng lớp dân cư đối với thuế của thực dân Pháp còn đang

bị đè nặng đã tác động rất lớn đến việc tổ chức thực hiện các loại thuế Vì vậy, thuế hầu như không phát huy được tác dụng

Năm 1951, Nhà nước ban hành thống nhất 7 loại thuế áp dụng trong cả nước

đã đặt nền móng đầu tiên cho hệ thống thuế Việt Nam Các loại thuế này đã bước đầu phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta nên đã phát huy được tác dụng tích cực trong việc khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, đã huy động nguồn thu đáng kể cho Nhà nước, đảm bảo nhu cầu của tiền tuyến và nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước

Tuy nhiên, hệ thống lúc này mới chỉ là bước đầu sơ khai chưa hình thành hệ thống thuế hoàn chỉnh Từng sắc thuế, về nội dung, còn quá đơn giản chưa đảm bảo yêu cầu khai thác các nguồn thu

Thuế mới chỉ dừng lại ở mức các văn bản chính sách hoặc điều lệ nên hiệu

lực pháp lý không cao

2 Hệ thống thuế giai đoạn 1954 - 1989

2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội giai đoạn 1954 - 1989

Chiến thắng Điện Biên Phủ và kết quả hội nghị Giơ-ne-vơ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ chống lại Mỹ ngụy để giải phóng hoàn toàn đất nước

ở miền Bắc đã tiến hành cải cách ruộng đất, đánh đổ địa chủ, cường hào chia ruộng đất cho dân cày và thực hiện ba năm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, xoá sự khác biệt về kinh tế và các chính sách giữa vùng tự do

và vùng giải phóng Nền kinh tế miền Bắc đã trở lại ổn định, tạo đà cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bắt đầu bằng ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, thực hiện đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất; cách mạng khoa học kỹ thuật; cách mạng tư tưởng văn hoá Trong giai đoạn này, miền Bắc phải thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ: tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và là hậu phương lớn chi viện tích cực cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam

Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, miền Nam được giải phóng, hai năm

đầu cả nước thống nhất về chính quyền nhưng hai miền Bắc Nam chưa thống nhất về kinh tế và chính sách Miền Nam khôi phục kinh tế, khắc phục khó khăn sau chiến tranh và thực hiện cải tạo tư sản, cải tạo tiểu thủ công nghiệp và cải tạo nông nghiệp

Sau hai năm cả nước thống nhất về kinh tế cùng thực hiện kế hoạch 5 năm

Trang 5

nghủ nghĩa xã hội Kinh tế quốc doanh và hợp tác xã bắt đầu phát triển, nhiều cơ

sở công nghiệp quan trọng của đất nước được xây dựng, sản lượng trong nông nghiệp tăng biểu hiện là phong trào đạt năng suất 5 tấn, 10 tấn/ha Nhưng những năm 1985 trở đi, nền kinh tế cả nước lâm vào khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh

tế chậm dần, sản lượng sản xuất của nhiều ngành giảm sút, nhiều hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp lần lượt bị tan vỡ do năng suất lao động thấp, đời sống xã viên khó khăn

Quan hệ quốc tế về kinh tế chuyển sang hợp tác trên tinh thần bình đẳng đôi bên cùng có lợi, có vay có trả, không còn viện trợ cho không nên nguồn thu trong nước không đủ, phải vay nợ nước ngoài Ngân sách Nhà nước ngày càng bội chi lớn, lạm phát tăng, giá cả leo thang, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tình hình xã hội có nhiều phức tạp, tiêu cực nảy sinh

Cùng lúc đó hàng loạt nước trong phe Xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị nên đã tác động lớn đến nền kinh tế, chính trị, xã hội nước ta Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ VI và lần thứ VII đã

định ra đường lối phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển đa thành phần kinh tế; mở cửa hội nhập kinh tế với thế giới Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng đã định ra con

đường đi mới cho kinh tế tài chính nói chung và thuế nói riêng

2.2 Quan điểm sử dụng thuế giai đoạn 1954 – 1989

Giai đoạn này có rất nhiều thời kỳ lịch sử với những chủ trương kinh tế xã hội khác nhau Quan điểm chung về sử dụng thuế phục vụ cho việc thực hiện các chủ trương kinh tế xã hội trong mỗi thời kỳ Cụ thể là:

- Sử dụng thuế để đẩy nhanh quá trình khôi phục kinh tế sau chiến tranh

- Sử dụng thuế làm công cụ tích cực góp phần thực hiện chủ trương cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa xã hội để hình thành hai chế độ sở hữu: Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể

- Sử dụng thuế để kích thích việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trong khu vực kinh tế tập thể

- Đối với kinh tế quốc doanh không sử dụng thuế để điều tiết, mà dùng chế

độ huy động khác ngoài thuế, nguồn thu từ kinh tế quốc doanh là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước

- Sử dụng thuế để khuyến khích kinh tế tập thể, nhất là sản xuất nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa

Xuất phát từ các quan điểm trên nên hệ thống thuế và thu của nước ta được

bổ sung sửa đổi qua từng khoảng thời gian khác nhau

2.3 Hệ thống thuế giai đoạn 1954 – 1989

2.3.1 Thuế trong thời gian 3 năm khôi phục kinh tế

Để nhanh chóng hoà nhập giữa hai vùng tự do và vùng mới giải phóng, Nhà nước đã quyết định áp dụng thống nhất trên toàn miền Bắc các sắc thuế: thuế nông nghiệp; thuế doanh thu; thuế thuế lợi tức doanh nghiệp; thuế hàng hoá; thuế buôn chuyến; thuế sát sinh; thuế kinh doanh nghệ thuật; thuế muối; thuế rượu; thuế thổ trạch (thu ở thành phố thị xã); thuế xuất, nhập khẩu

Trang 6

Ngoài ra còn áp dụng thuế hàng hoá tồn kho với thuế suất cao để chống đầu cơ phá giá của tư sản thành thị (vùng mới giải phóng)

Trong các sắc thuế đáng lưu ý một số sắc thuế có thay đổi lớn:

- Thuế nông nghiệp: phục vụ cho công cuộc cải cách ruộng đất giảm nhẹ

mức đóng góp cho bần, cố, trung, nông, động viên nhiều vào địa chủ, phú nông

kể cả khi họ đã bị đánh đổ Đối với vùng chưa cải cách ruộng đất vẫn áp dụng biểu thuế đã ban hành, đối với vùng đã cải cách ruộng đất cho áp dụng biểu thuế mới 22 bậc thuế suất từ 7% đến 35% bậc khởi điểm giảm xuống 61kg (hoa lợi bình quân nhân khẩu nông nghiệp) để giảm bớt mức đóng góp cho nông dân Khi cải cách ruộng đất đã hoàn thành, thu nhập của các hộ nông dân tăng lên, Nhà nước tăng thêm mức huy động thuế nông nghiệp vào các hộ nông dân

Đồng thời, giảm bớt mức đóng góp cho nông dân miền núi có khó khăn và là nơi căn cứ địa của cuộc kháng chiến Từ đó, Nhà nước thay đổi biểu thuế:

Vùng miền xuôi áp dụng biểu thuế 27 bậc thuế suất từ 7% - 37% khởi điểm tính thuế là 61kg

Khu tự trị Việt Bắc biểu thuế 10 bậc thuế suất từ 15% - 35%

Khu tự trị Tây Bắc áp dụng một thuế suất chung là 20%

Cả hai khu tự trị đều được trừ xuất miễn thu 100kg

- Thuế lợi tức doanh nghiệp thay cho thuế thực lãi: Thuế lợi tức doanh

nghiệp ưu đãi về thuế cho ngành sản xuất vận tải, kiến trúc hơn các ngành nghề khác để khuyến khích sản xuất Thể hiện là Nhà nước ban hành 2 biểu thuế suất luỹ tiến từng phần cho 2 loại ngành nghề (Biểu 1 cho ngành công nghiệp, vận tải, kiến trúc thuế suất từ 8% - 40% Biểu 2 cho các ngành nghề khác thuế suất từ 10% - 50%)

- Thuế hàng hoá: mở rộng mặt hàng chịu thuế lên 61 mặt hàng với thuế suất

tỷ lệ thấp nhất 5% cao nhất 50%

- Thuế thổ trạch là loại thuế mới đánh vào đất và nhà ở các thành phố đô thị,

thuế suất 0,8% giá trị nhà; 1,2% giá trị đất và 15% lợi tức cho thuê nhà

Trong thời gian 3 năm khôi phục, áp dụng các sắc thuế trên đã góp phần tích cực khuyến khích sản xuất công thương nghiệp ở thành thị, nhanh chóng xoá bỏ

sự khác biệt giữa hai vùng ở nông thôn thuế nông nghiệp đã hỗ trợ tích cực cho công cuộc cải cách ruộng đất, khuyến khích sản xuất và góp phần cải thiện đời sống của nông dân

Các sắc thuế đã huy động được nguồn thu khá lớn cho nhà nước đáp ứng yêu cầu chi tiêu của nhà nước Năm 1956 số thu thuế chiếm trong tổng thu ngân sách nhà nước là 74%, năm 1957 là 87%

2.3.2 Thuế trong thời gian 3 năm cải tạo x∙ hội chủ nghĩa 1957 - 1960

Trong thời gian 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, toàn miền Bắc tập trung sức thực hiện cuộc cách mạng quan hệ sản xuất phát triển kinh tế quốc doanh, đưa người làm ăn riêng lẻ thuộc sở hữu tư nhân vào các loại hợp tác xã hình thành sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất

Giai đoạn này nhà nước sử dụng thuế để phục vụ cải tạo, bằng cách sửa đổi

Trang 7

được ưu đãi về thuế, đối với cá thể không được ưu đãi, sử dụng lợi ích kinh tế kết hợp với tuyên truyền để vận động cá thể vào hợp tác xã Trong đó, chủ yếu sửa

đổi hai sắc thuế: thuế nông nghiệp và thuế lợi tức doanh nghiệp

- Thuế nông nghiệp ban hành thêm biểu thuế suất luỹ tiến riêng cho hợp tác

xã, thuế suất từ 7% đến 25% trên hoa lợi bình quân xã viên và hợp tác xã được trích một phần thuế theo tỷ lệ % khác nhau tùy theo quy mô hợp tác xã để đưa vào quỹ tích luỹ xây dựng cơ sở vật chất của hợp tác Còn cá thể vẫn áp dụng biểu thuế cũ

- Thuế lợi tức doanh nghiệp áp dụng biểu thuế cũ nhưng đối với hợp tác xã

Trong giai đoạn cải tạo thuế vẫn áp dụng chung cả kinh tế quốc doanh, kinh

tế tập thể, kinh tế cá thể nên nguồn thu từ thuế vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong thu ngân sách Với sự phát triển nhanh và ổn định của kinh tế, nên số thu về thuế tăng đáng kể nhất là số thu thuế từ kinh tế quốc doanh, năm 1960 so với năm

1959 tăng 30,4%

2.3.3 Các hình thức thu và thuế trong thời gian thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, chống chiến phá hoại, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 1960 - 1989

Thời gian này miền Bắc bắt tay vào xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước quan niệm các xí nghiệp quốc doanh thuộc

sở hữu toàn dân, nhà nước quản lý toàn diện và tạo điều kiện để kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Do đó, nhà nước không sử dụng thuế thu vào kinh tế quốc doanh mà áp dụng các hình thức thu khác Thuế chỉ còn áp dụng đối với khu vực kinh tế tập thể và cá thể

2.3.3.1 Đối với khu vực kinh tế quốc doanh sản xuất kinh doanh trong nước

và kinh doanh xuất, nhập khẩu

Năm 1960, Nhà nước cho áp dụng thí điểm chế độ thu quốc doanh và chế độ phân phối trích nộp lợi nhuận ở một số cơ sở kinh doanh Năm 1965 mở rộng áp dụng cho các doanh nghiệp quốc doanh kinh doanh trong nước Doanh nghiệp quốc doanh kinh doanh xuất, nhập khẩu không áp dụng thuế xuất nhập khẩu mà chuyển sang chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương

Như vậy, từ năm 1965 đến 1989 khu vực kinh tế quốc doanh không nộp thuế

mà nộp theo các chế độ trên tuỳ theo tính chất hoạt động cụ thể là:

- Các doanh nghiệp quốc doanh sản xuất áp dụng hai chế độ thu: thu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận

Trang 8

- Các doanh nghiệp quốc doanh thương nghiệp dịch vụ áp dụng chế độ phân phối và trích nộp lợi nhuận; không nộp thu quốc doanh

- Các doanh nghiệp quốc doanh xuất nhập khẩu áp dụng chế độ thu hay bù chênh lệch ngoại thương

Chế độ thu hay bù chênh lệch ngoại thương được áp dụng đến tháng 12/1987 khi Nhà nước ban hành Luật thuế xuất, nhập khẩu mới

Như vậy, trong cả thời gian xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cho đến

1989 các cơ sở kinh tế quốc doanh không thuộc diện điều tiết của thuế

2.3.3.2 Đối với khu vực kinh tế tập thể, cá thể

Nhà nước tiếp tục áp dụng các chính sách thuế nhưng có bổ sung sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời gian

Để phù hợp với tình hình mới của đất nước từ 1960 đến 1975, Nhà nước tiếp tục sửa đổi chính sách thuế, trong đó chủ yếu sửa 4 loại thuế

- Thuế nông nghiệp: Với tinh thần chung là ổn định mức đóng góp để ổn

định sản xuất nông nghiệp nên Nhà nước quyết định ổn định nghĩa vụ nộp thuế trong các năm sau theo mức của năm 1958

- Bỏ thuế môn bài vì đại bộ phận cơ sở kinh doanh là quốc doanh và hợp tác xã

- Thuế doanh nghiệp: phân chia theo 2 ngành: sản xuất, xây dựng, vận tải và

ăn uống, thương nghiệp, dịch vụ; đồng thời, giảm mức thuế suất để giảm bớt

đóng góp do cơ sở kinh doanh gặp khó khăn vì chiến tranh

- Thuế lợi tức doanh nghiệp: Tách biểu thuế thành 3 biểu cho 3 ngành: sản

xuất, xây dựng vận tải; phục vụ ăn uống; thương nghiệp Ưu đãi thuế suất cho ngành sản xuất, xây dựng vận tải để kích thích sản xuất, cung ứng sản phẩm cho xã hội

Khi đất nước thống nhất từ 1975 đến 1989

Trong những năm đầu ở miền Nam tạm thời sửa đổi một số loại thuế của chính quyền Thiệu để tiếp tục thu và sửa đổi một số loại thuế miền Bắc để áp dụng ở miền Nam

Năm 1980, hai miền Nam Bắc thực hiện một hệ thống thuế thống nhất dựa trên hệ thống thuế đã áp dụng ở miền Bắc có sửa đổi cho phù hợp ở cả hai miền

Từ năm 1983, Nhà nước thay đổi một số sắc thuế chính

- Tháng 2/1983, ban hành Pháp lệnh Thuế nông nghiệp thay cho Điều lệ

Thuế nông nghiệp Nội dung của Thuế nông nghiệp thay đổi cơ bản là không tính thuế theo hoa lợi bình quân và thuế suất luỹ tiến toàn phần mà chuyển sang tính thuế cho hai loại cây trồng khác nhau:

+ Đối với cây hàng năm: thuế nông nghiệp căn cứ vào 7 hạng đất từ hạng 1

đến hạng 7 Thuế suất theo định suất thuế cố định bằng thóc tính trên100m2 cho từng hạng đất Biểu thuế chia làm 3 vùng theo 3 biểu: đồng bằng, trung du, miền núi (theo tỉnh) định suất thuế có ưu đãi cho trung du, miền núi

+ Đối với cây lâu năm: tính theo % trên giá trị thu hoạch

Trang 9

Năm 1988, Nhà nước ban hành Pháp lệnh sửa đổi Thuế nông nghiệp là: Biểu thuế không phân theo vùng mà phân theo xã: xã đồng bằng, xã trung du, xã miền núi đảm bảo tính hợp lý và công bằng với đặc điểm địa hình xen kẽ nhau Cây lâu năm xác định cụ thể % thuế suất cho 4 nhóm cây: cây công nghiệp lâu năm; cây ăn quả; cây lấy lá, lấy gỗ; cây dược liệu và cây lâu năm khác Mức thuế suất qui định căn cứ vào hiệu quả của cây trồng

- Thuế công thương nghiệp:

Năm 1983, ban hành Pháp lệnh Thuế công thương nghiệp với các nội dung: + Phục hồi lại thuế môn bài áp dụng cho các hộ cá thể vì có nhiều hộ đã bỏ hợp tác xã ra kinh doanh riêng lẻ

+ Nâng mức thuế suất của thuế doanh thu để huy động nguồn thu và tăng cường quản lý kinh doanh cá thể Đồng thời, phân chia loại ngành nghề theo thứ tự: sản xuất, xây dựng, vận tải; ngành phục vụ; ngành thương nghiệp, ăn uống + Thuế lợi tức doanh nghiệp: thay biểu thuế luỹ tiến từng phần bằng biểu thuế luỹ tiến toàn phần, đồng thời nâng mức thuế suất của các biểu thuế để huy

- Thuế hàng hoá: Giảm thuế suất của một số mặt hàng trong nước, mở rộng

mặt hàng nhập khẩu vào diện đánh thuế để khuyến khích sản xuất và bảo hộ sản xuất trong nước Thuế hàng hoá thu vào cả các cơ sở nhận gia công tiêu thụ cho kinh tế quốc doanh để chống thất thu

- Thuế lợi tức doanh nghiệp: Giảm bớt mức động viên để tăng khả năng tích

luỹ của cơ sở sản xuất kinh doanh qua việc thay biểu luỹ tiến toàn phần bằng biểu luỹ tiến từng phần

- Thuế sát sinh: Thu cả vào cơ sở quốc doanh giết mổ gia súc để chống thất

thu

Năm 1989, Nhà nước ban hành tiếp Pháp lệnh Sửa đổi thuế công thương nghiệp Trọng tâm của việc sửa đổi là:

- Thuế hàng hoá: giảm nhóm hàng từ 33 nhóm xuống 22 nhóm và điều

chỉnh tăng hoặc giảm thuế suất của một số mặt hàng

- Thuế doanh thu: giảm thuế suất để khuyến khích kinh doanh

- Thuế lợi tức doanh nghiệp: bỏ mức miễn thu thay bằng khởi điểm đánh

thuế

- Thuế xuất nhập khẩu: Tháng 12/1987, Quốc hội ban hành Luật thuế xuất

nhập khẩu là luật thuế đầu tiên của nước ta thay cho chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương nhằm mở rộng quan hệ buôn bán quốc tế, tăng cường kiểm tra, kiểm soát lập lại kỷ cương trong hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để bảo hộ sản xuất trong nước Đồng thời,

Trang 10

làm tăng nguồn thu cho Nhà nước, nhất là nguồn thu bằng ngoại tệ và thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại Năm 1989, Nhà nước ban hành Pháp lệnh sửa đổi

và ra Nghị định chi tiết về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với tinh thần cơ bản là tăng cường bảo hộ nền kinh tế

Đối với hàng xuất khẩu: Rút bớt nhóm mặt hàng đánh thuế từ 30 nhóm xuống còn 12 nhóm Điều chỉnh lại thuế suất theo chính sách mặt hàng cần khuyến khích hay cần hạn chế xuất khẩu

Đối với hàng nhập khẩu: Bỏ thuế hàng hoá thu vào hàng nhập khẩu, sử dụng mức thuế suất để điều chỉnh theo chính sách mặt hàng Thuế suất ưu đãi 0% đối với hàng nhập là máy móc thiết bị, nguyên liệu và hàng tiêu dùng thiết yếu trong nước chưa sản xuất được, thuế suất cao đối với hàng hoá trong nước đã sản xuất

được hoặc hàng hoá cần hạn chế nhập

Trong suốt 30 năm, các sắc thuế của nước ta liên lục bổ sung sửa đổi để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội, nhưng tổng hợp lại hệ thống thuế nước ta có các sắc thuế sau: thuế nông nghiệp; thuế doanh thu; thuế buôn chuyến; thuế lợi tức doanh nghiệp; thuế hàng hoá; thuế sát sinh; thuế môn bài; thuế trước bạ; thuế xuất khẩu, nhập khẩu

Trong đó, thuế xuất khẩu, nhập khẩu áp dụng cho xuất, nhập khẩu quốc doanh Còn tất cả các sắc thuế khác, phạm vi áp dụng chỉ cho kinh tế tập thể và kinh tế cá thể

2.4 Đánh giá kết quả thực hiện hệ thống thuế giai đoạn 1954 -1989

Trong hơn 30 năm từ 1954 đến 1989 nhà nước đã rất nhiều lần bổ sung sửa

đổi các chính sách thuế cho phù hợp với tình hình kinh tế chính trị xã hội, những thay đổi đó đã đem lại những thành công nhất định, đó là:

- Các chính sách thuế đã góp phần tích cực thúc đẩy nhanh quá trình khôi phục kinh tế của miền Bắc sau chiến tranh chống Pháp và ở miền Nam sau chiến tranh chống Mỹ

- Các chính sách thuế đã góp phần đáng kể vào việc thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới theo đường lối của Đảng

- Các chính sách thuế đã tác động tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế ở miền Bắc, góp phần chi viện tích cực cho miền Nam

- Các chính sách thuế đã huy động được số thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước

Tuy nhiên, nghiêm túc đánh giá các chính sách thuế và hệ thống thuế trong thời gian này có rất nhiều vấn đề tồn tại lớn, đó là:

- Quan điểm coi nhẹ vai trò của thuế và thu hẹp phạm vi điều chỉnh của thuế (giới hạn đối với kinh tế tập thể và cá thể) đã làm cho tác dụng của thuế bị lu mờ trong đời sống xã hội

- Hệ thống thuế không hoàn chỉnh, chưa phù hợp với yếu tố kinh tế xã hội

- Từng chính sách thuế sửa đổi quá nhiều lần, chạy theo các yêu cầu cụ thể

đã làm cho các chính sách thuế trở nên chắp vá, chủ quan, áp đặt Do vây, thuế

đã gây cản trở lớn đối với tiến trình phát triển kinh tế xã hội

Trang 11

- Các chính sách thuế phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế quá lớn làm mất đi tính công bằng bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế

- Tính pháp lý của thuế thấp nên hiệu lực quản lý yếu, hiệu quả của thuế kém

- Khu vực kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế không thuộc phạm vi điều chỉnh của thuế mà áp dụng các chế độ thu mang tính bao cấp 100% Do vậy, khu vực kinh tế quốc doanh hoàn toàn ỷ lại vào Nhà nước, hiệu quả kinh doanh thấp

Những tồn tại của thuế và chế độ thu quốc doanh, phân phối và trích nộp lợi nhuận, thu hay bù chênh lệch ngoại thương đã tác động tiêu cực đến kinh tế Cùng với các chính sách khác tác động xấu dẫn đến hậu quả: kinh tế lâm vào khủng hoảng trì trệ, đời sống gặp khó khăn, giá cả leo thang, giá trị đồng tiền giảm sút, bội chi ngân sách ngày càng trầm trọng

Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI thứ VII đã định ra hướng đi mới, mở ra cơ hội mới cho tiến trình phát triển kinh tế của đất nước theo kịp và hội nhập với nền kinh tế thế giới Đồng thời, cũng đặt ra những quan điểm, những yêu cầu và những thử thách mới cho lĩnh vực tài chính và thuế

3 Hệ thống thuế trong giai đoạn cải cách thuế bước I (1990 - 1998)

3.1 Bối cảnh kinh tế xã hội trong giai đoạn cải cách thuế bước I

Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng thực sự đã làm cho nền kinh tế đất nước

có bước chuyển mình rất lớn Kinh tế quốc doanh không còn được sự bao cấp của Nhà nước, các cơ sở sản xuất kinh doanh phải tự hạch toán, tự chủ bằng vốn

về sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi Đồng thời, chịu áp lực của sức cạnh tranh trong kinh tế thị trường Thời gian đầu có nhiều cơ sở kinh tế quốc doanh bỡ ngỡ trước kinh tế thị trường, lúng túng trong sản xuất kinh doanh nên làm ăn bị thua lỗ Nhưng các doanh nghiệp quốc doanh đã dần làm quen và tiến đến trụ vững trong cơ chế kinh tế mới

Thành phần kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể bắt đầu phát triển, tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường

Chủ trương mở cửa kinh tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài dưới mọi hình thức đã kêu gọi được nhiều công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam bằng hình thức đầu tư trực tiếp, làm cho thị trường kinh doanh trở nên sôi động Điều đó đã tác động đến hoạt động kinh tế theo xu hướng tăng trưởng nhanh

Bên cạnh đó, hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước để điều hành kinh

tế thị trường mới bước đầu được triển khai xây dựng và áp dụng dần, do đó, còn thiếu hoàn chỉnh và chưa đồng bộ, dẫn đến có cản trở nhất định đến hoạt động kinh tế - xã hội Việc huy động nguồn thu của Nhà nước bằng nhiều hình thức không mang tính thống nhất, thuế chỉ là khoản thu thứ yếu, điều này hoàn toàn không phù hợp với những biến đổi về kinh tế xã hội

Xuất phát từ yêu cầu mới, Đảng và Nhà nước quyết định phải nhanh chóng thực hiện cải cách thuế bước I để thống nhất chính sách thu trong cả nước

Trang 12

3.2 Quan điểm sử dụng thuế trong cải cách thuế bước I (1990 - 1998)

Trong bối cảnh mới của đất nước, Nhà nước quyết định thực hiện cuộc cải cách thuế lần I, xây dựng và ban hành hệ thống thuế thống nhất cả nước thay thế cho các hình thức thu trước Thuế phải trở thành công cụ quan trọng để quản lý kinh tế và là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước Cụ thể là:

- Thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu cho Nhà nước khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường Nhà nước luôn coi nguồn thu trong nước là chủ yếu Do

đó, phải sử dụng thuế làm công cụ huy động nguồn thu trong nước cho ngân sách, từ tất cả các thành phần kinh tế, các cơ sở kinh doanh

- Thuế phải trở thành công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước Cơ chế kinh tế thị trường các nhà sản xuất kinh doanh chịu sự chi phối của các nhân tố thị trường và lợi ích riêng tư sẽ làm cho nền kinh tế không ổn định và không cân

đối Với quan điểm định hướng kinh tế theo chủ nghiã xã hội, Nhà nước phải

điều hành kinh tế bằng hệ thống luật pháp, trong đó thuế là một công cụ quan trọng để quản lý, điều tiết và điều chỉnh kinh tế

- Thuế phải có tính pháp lý cao để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của thuế

Để cho thuế trở thành công cụ quản lý kinh tế thì các sắc thuế phải đạt được chuẩn mực về nội dung vừa có tính pháp cao vừa mang tính thực tiễn, đơn giản thuận tiện trong thực thi Do đó, thuế phải được nghiên cứu thấu đáo và quy chuẩn thành luật của Nhà nước

- Thuế phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

Với quan điểm phát triển đa thành phần kinh tế trong sự cạnh tranh bình

đẳng, lành mạnh, đòi hỏi phải có sự bình đẳng giữa các nhà kinh doanh về mặt luật pháp để hình thành các "luật chơi" trong kinh doanh Thuế vừa đảm bảo công bằng về nghĩa vụ đóng thuế, vừa là công cụ kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành các luật khác trong kinh doanh

3.3 Hệ thống thuế giai đoạn cải cách bước I (1990 - 1998)

Bắt đầu từ 1990, ở nước ta cải cách thuế bước I đã được tiến hành Kết quả

là hệ thống thuế thống nhất bao gồm 9 luật thuế và pháp lệnh thuế đã được áp dụng cho các thành phần kinh tế như sau:

- Luật thuế doanh thu

- Luật thuế tiêu thụ đặc biệt

- Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Luật thuế lợi tức

- Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất

- Pháp lệnh thuế tài nguyên

- Pháp lệnh thuế nhà đất

- Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

Ngoài ra, còn áp dụng một số loại lệ phí là: lệ phí trước bạ, lệ phí giao thông, lệ phí chứng thư và các loại lệ phí khác

Trang 13

Những thay đổi cơ bản của từng sắc thuế trong hệ thống thuế mới so với thuế giai đoạn trước là:

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp khác với pháp lệnh thuế nông nghiệp năm

1988 ở việc thay đổi căn cứ phân hạng đất là căn cứ vào 5 yếu tố: độ phì, vị trí

đất, địa hình cao thấp, điều kiện khí hậu thời tiết, điều kiện tưới tiêu, cho điểm từng yếu tố, tính tổng tổng điểm để phân hạng theo thang điểm phân hạng Định suất thuế tính cho 1 ha (không quy định cho 100 m2 như trước)

- Thuế doanh thu: mở rộng đối tượng nộp thuế mọi ngành nghề, mọi quy mô, mọi thành phần kinh tế, trừ hoạt động xuất nhập khẩu Thuế suất quy định theo ngành nghề và mặt hàng

- Thuế lợi tức: thay thuế suất luỹ tiến từng phần bằng thuế suất tỷ lệ theo ngành nghề và xác định các khoản chi phí được trừ, tính thuế lợi tức bổ sung và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài

- Thuế tiêu thụ đặc biệt: rút bớt nhóm hàng đánh thuế từ 22 nhóm của thuế hàng hoá còn 4 nhóm hàng của thuế tiêu thụ đặc biệt

- Đối với thuế nhà đất: do điều kiện kinh tế xã hội chưa cho phép nên chưa

áp dụng phần thuế đánh vào nhà ở, chỉ áp dụng đánh thuế vào đất ở, đất xây dựng công trình

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất: trước đây Hiến pháp và Luật đất đai khẳng định, đất thuộc sở hữu Nhà nước, nghiêm cấm việc mua bán đất Nhưng

do thực tế đời sống xã hội và nhu cầu sử dụng đất đã hình thành thị trường ngầm mua bán đất Khi chuyển sang cơ chế thị trường hoạt động mua bán đất càng phát triển Nhà nước sửa đổi Luật đất đai: đất thuộc sở hữu Nhà nước, Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức và hộ gia đình Các tổ chức và hộ gia

đình được quyền chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất Để quản lý hoạt

động chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng pháp luật và khai thác nguồn thu về thuế, Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực thi hành từ năm 1994

3.4 Đánh giá kết quả thực hiện cải cách thuế bước I (1990 - 1998)

Qua thời gian ngắn áp dụng các sắc thuế mới kết quả đạt được tương đối khả quan và đã thể hiện được các quan điểm sử dụng thuế

- Thuế trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước: tỷ trọng thuế trong tổng thu ngân sách tăng từ 75% năm 1990 lên gần 90% năm 1998 Từ đó thuế đã góp phần tích cực đảm bảo cân đối thu chi ngân sách, góp phần giảm bội chi và giảm lạm phát

- Thuế góp phần quản lý và điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh; khuyến khích tăng đầu tư trong nước, kích thích thu hút vốn đầu tư nước ngoài Thuế góp phần khuyến khích mở rộng giao lưu hàng hoá và ổn định giá cả

- Thuế đã giảm bớt sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển

Hệ thống thuế mới có tiến bộ, song cũng còn nhiều hạn chế cần được xem xét hoàn thiện, đó là:

(1) Hệ thống thuế chưa bao quát hết các nguồn thu đã và sẽ phát sinh trong nền kinh tế thị trường nên hạn chế khả năng khai thác nguồn thu của thuế

Trang 14

(2) Một số sắc thuế vẫn bị đánh trùng làm cho số thuế chưa phản ánh đúng

đắn hoạt động kinh tế Một số sắc thuế khác có mức thuế suất cao do thu gộp nhiều sắc thuế, gây tâm lý thuế nặng

(3) Chính sách thuế còn phức tạp trong cách xác định đối tượng chịu thuế,

đối tượng không chịu thuế, đối tượng nộp thuế, đối tượng không nộp thuế và áp dụng nhiều trường hợp miễn, giảm thuế

(4) Một số sắc thuế còn có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, chưa đảm bảo công bằng, chưa điều tiết đúng mức đối với sản xuất tiêu dùng (5) Các sắc thuế của nước ta còn nhiều nội dung chưa phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế trong khu vực và quốc tế, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế

4 Hệ thống thuế giai đoạn cải cách thuế bước II (1999 - 2004)

4.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội trong giai đoạn 1999 - 2004

Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới quản lý kinh tế, nền kinh tế đã có nhiều thay đổi cơ bản Kinh tế quốc doanh đang đi vào phát triển ổn định Các cơ

sở kinh tế tập thể dần dần đứng vững trong thị trường Kinh tế cá thể phát triển mạnh, các loại hình kinh doanh mới ra đời như công ty tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Bên cạnh đó, có nhiều công ty liên doanh với nước ngoài, công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã đi vào hoạt động

Nước ta đã mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên tinh thần hội nhập, khi gia nhập khối ASEAN, APEC, nhiều chính sách kinh tế phải thay đổi cho phù hợp Trong điều kiện đó, nền kinh tế nước ta lại đang đương đầu với những khó khăn mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều hướng chậm lại, mức tăng GDP thấp

Trước tình hình kinh tế xã hội nêu trên, Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện “công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” tạo ra sự chuyển biến lớn của kinh

tế, khuyến khích thoả đáng tích luỹ đầu tư tăng trưởng kinh tế cả nước và từng cơ

sở sản xuất kinh doanh Sửa đổi hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, đảm bảo chặt chẽ và thông thoáng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Mở rộng quan hệ làm ăn kinh tế với các nước và các khối kinh tế trên thế giới theo tinh thần hợp tác đôi bên cùng có lợi

Cải cách thuế bước II được đặt ra là đòi hỏi tất yếu và cấp bách để phù hợp

với tình hình kinh tế xã hội đó

4.2 Quan điểm sử dụng thuế trong giai đoạn cải cách thuế bước II (1999 - 2004)

- Cải cách hệ thống thuế trên cơ sở mở rộng diện thu thuế, điều chỉnh thuế suất của từng sắc thuế và cả hệ thống thuế có loại tăng có loại giảm nhưng phải

đảm bảo ổn định tỷ lệ động viên cho Nhà nước trong khoảng từ 19% - 20% GDP

để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho Nhà nước

- Cải cách thuế phải tiến hành dần từng bước trên cơ sở rà soát lại hệ thống thuế hiện hành, xem xét lại từng sắc thuế để xác định thứ tự ưu tiên hoàn thiện, tránh gây ra những xáo trộn trong đời sống kinh tế xã hội Trước mắt, thay đổi hai loại thuế chính, đó là, thay thuế doanh thu bằng thuế giá trị gia tăng, thay thuế lợi tức bằng thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 15

- Cải cách hệ thống thuế làm cho các sắc thuế đơn giản, ít thuế suất, tránh

đánh trùng, loại trừ dần chính sách miễn, giảm đối tượng chính sách xã hội, giảm bớt các miễn, giảm khác

- Cải cách thuế phải làm cho các chính sách thuế phù hợp với các thông lệ quốc tế về thuế, làm cho thuế nước ta hoà nhập được với thuế thế giới

- Cải cách hệ thống thuế tạo ra chuyển biến mới về quy trình quản lý thuế tiến tới các đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp thuế, nâng cao ý thức tự giác và trách nhiệm pháp lý của các đối tượng nộp thuế Phát huy cao vai trò kiểm tra, thanh tra của ngành Thuế và các cơ quan chức năng

4.3 Hệ thống thuế trong giai đoạn cải cách thuế bước II (1999 - 2004)

Cải cách thuế bước II đã ban hành một số thuế mới thay thế cho một số thuế

đã lạc hậu và có nhiều nhược điểm của cải cách thuế bước I Đồng thời, sửa đổi các loại thuế còn lại để hình thành hệ thống thuế hoàn chỉnh hơn, tiên tiến hơn

Cụ thể, hệ thống thuế trong cải cách bước II gồm các loại thuế sau:

- Ban hành Luật thuế GTGT thay cho thuế doanh thu áp dụng từ ngày 1/1/1999

- Ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho Luật thuế lợi tức áp dụng từ 1/1/1999

- Ban hành Luật sửa đổi thuế tiêu thụ đặc biệt

- Ban hành các văn bản sửa đổi Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

- Ban hành các văn bản sửa đổi thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Ban hành Luật sửa đổi thuế xuất, nhập khẩu phù hợp với lộ trình cắt giảm thuế xuất, nhập khẩu khi Việt Nam tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các khối kinh tế khác

- Các loại thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, thuế tài nguyên tiếp tục áp dụng và nghiên cứu để tiến hành sửa đổi

Giai đoạn cải cách thuế bước II đến năm 2004 mới chỉ là thời kỳ đầu còn phải tiếp tục thực hiện trong những năm sau Nhưng có thể sơ bộ đánh giá trên những nét lớn là:

- Hệ thống thuế đã có những tiến bộ, tiếp cận được tính tiên tiến hiện đại của thuế thế giới, nhất là khi áp dụng thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất nhập khẩu

- Thuế đã dần dần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và tạo

sự thông thoáng cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài

- Thuế đã tác động tích cực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thực hiện cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế

- Thuế đã tăng cường huy động nguồn thu cho ngân sách cao hơn thời gian trước

Trang 16

Chương 2 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu

1 Giới thiệu chung về thuế xuất khẩu, nhập khẩu (thuế XNK)

1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế XNK

Thuế XNK là sắc thuế đánh vào hàng hoá xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế

Thuế XNK có nguồn gốc từ lâu đời và được sử dụng rộng rãi trên thế giới Việc ban hành thuế XNK xuất phát từ các lý do sau:

- Thuế XNK là công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát hoạt động ngoại thương

Hoạt động ngoại thương có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh

tế nội địa Nó mang lại cho đất nước nhiều nguồn lợi lớn về vốn, kỹ thuật, công nghệ, hàng hoá, góp phần giải quyết các vấn đề của kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, hoạt động ngoại thương mở rộng, nếu không được kiểm soát sẽ dẫn đến những tác hại đối với kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội như: sự phụ thuộc về kinh tế, chính trị với nước ngoài; phong tục, tập quán, lối sống của quốc gia bị ảnh hưởng…Vì vậy, các quốc gia đều sử dụng thuế XNK như một công cụ quan trọng để kiểm soát hoạt động ngoại thương, quản lý các mặt hàng XNK, khuyến khích XNK những hàng hoá có lợi và hạn chế XNK những hàng hoá có hại cho quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

- Thuế XNK là công cụ bảo hộ sản xuất trong nước

Hoạt động ngoại thương phát triển có thể gây ra những tác động tiêu cực

đối với sản xuất nội địa, đặc biệt đối với những nền kinh tế chậm phát triển chưa

đủ sức cạnh tranh với kinh tế nước ngoài Vì vậy, ở các quốc gia kinh tế chậm phát triển, thuế XNK là một trong những công cụ của nhà nước để bảo hộ sản xuất trong nước Để khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, tăng cường khả năng trên thị trường quốc tế, các quốc gia thường không đánh thuế xuất khẩu, hoặc thu với thuế suất rất thấp với mục tiêu quản lý là chủ yếu Đối với thuế nhập khẩu, được các quốc gia sử dụng rất linh hoạt tuỳ theo tính chất, mục đích của hàng hoá nhập khẩu và phù hợp với trình độ kinh tế của từng nước trong từng thời kỳ

- Thuế XNK là nguồn thu của ngân sách nhà nước

ở các nước đang phát triển, nhu cầu tiêu dùng tăng trong khi sản xuất nội

địa chưa đáp ứng được, bên cạnh đó, khả năng tài chính của nhà nước lại eo hẹp

Do đó, đối với các nước đang phát triển, mục tiêu động viên số thu cho ngân sách nhà nước của thuế XNK đựơc coi trọng Để đạt được mục tiêu này, các quốc gia thường mở rộng hoạt động ngoại thương, đánh thuế nhập khẩu vào hàng hoá tiêu dùng trong nước chưa sản xuất được, hoặc đánh thuế xuất khẩu vào những hàng hoá mà trên thế giới có nhu cầu tiêu dùng cao với các mức thuế suất động viên hợp lý

Ngày đăng: 14/08/2014, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w