Sinh 27 tháng 2, khoảng năm 274[2]Naissus modern Niš, Serbia Mất 22 tháng 5 năm 337 An táng Constantinopolis, Đế quốc La Mã Tôn giáo Thiên Chúa giáo Flavius Valerius Aurelius Constan
Trang 1Constantinus I
Hoàng đế của Đế quốc La Mã
Đầu tượng vua Constantinus I tại nhà bảo tàng Capitoline Bức tượng đá hoa nguyên gốc được tạc theo kiểu Hậu Cổ đại, với phần người trên mặc bộ chiến bào
màu đồng thiếc.[1]
Hoàng đế nhà Constantinus
Trị vì 25 tháng 6 năm 306 - 29 tháng 10 năm 312[notes 1];
29 tháng 10 năm 312 - 19 tháng 9 năm 324[notes 2];
19 tháng 9 năm 324 - 22 tháng 5 năm 337[notes 3]
Trang 2(30 năm, 301 ngày)
Tiền nhiệm Constantius Chlorus
Kế nhiệm Constantinus II , Constantius II
and Constans
[hiện]Hậu duệ
Tên đầy đủ
Flavius Valerius Aurelius Constantinus
Triều đại Nhà Constantinus
Thân phụ Constantius Chlorus
Thân mẫu Thánh Helena
Trang 3Sinh 27 tháng 2, khoảng năm 274[2]
Naissus (modern Niš, Serbia)
Mất 22 tháng 5 năm 337
An táng Constantinopolis, Đế quốc La Mã
Tôn giáo Thiên Chúa giáo
Flavius Valerius Aurelius Constantinus[3] (sinh vào ngày 27 tháng 2 khoảng năm 280[2] – mất ngày 22 tháng 5 năm 337), thường được biết đến như là
Constantinus I, (đối với Giáo hội Công giáo La Mã) và Constantinus Đại Đế, hay Thánh Constantinus (đối với những tín đồ Ki-tô giáo theo Chính Thống giáo
Đông phương (Eastern Orthodox Church), là một vị Hoàng đế của Đế quốc La Mã, ông được ba quân tôn làm Augustus vào năm 306 và trị vì Đế quốc La Mã cho đến khi ông mất Triều đại của ông có nhiều sự kiện đáng lưu ý và gây ấn tượng sâu sắc đến người đời, ông trở thành một vị vua vĩ đại trong lịch sử Hậu Cổ đại, với công tích gầy dựng nên nền văn minh châu Âu sau thời kỳ cổ điển.[4] Ông là vị Hoàng đế đầu tiên theo Ki-tô giáo của Đế quốc La Mã, là người ban Sắc lệnh
Milano chấm dứt thảm sát các tín đồ Ki-tô giáo trong toàn Đế quốc Qua đó, ông
đã chuyển đổi dần nước La Mã từ một Đế quốc Đa Thần giáo dần dà trở thành một
Đế quốc Ki-tô giáo hùng mạnh - mở đường cho những năm tháng vàng son của Đế quốc Đông La Mã sau này.[5] Đây là một trong những thay đổi lớn nhất trong lịch
sử nhân loại, thay đổi hẳn bộ mặt của nền văn minh La Mã lâu đời.[6] Ông là một trong những danh nhân xuất sắc nhất trong lịch sử thế giới cổ đại [7]
Trang 4Ông là một thiên tài và cũng gặp may trong đời: các vị tiên đế chọn cha ông làm tướng, sau đó còn làm vua Nhờ đó, sau khi phụ hoàng Constantius Chlorus qua đời vào năm 306, ông được tấn phong làm Hoàng đế tại York (nước Anh ngày nay), mở ra triều đại của vị Hoàng đế vĩ đại Constantinus I Đại Đế.[8] Ông là vị lãnh đạo đầu tiên trong lịch sử nền văn minh phương Tây đã ban bố chính sách tự
do tôn giáo Ông rất sùng đạo Ki-tô giáo và coi Đức Thiên Chúa là người giúp ông đánh bại các kẻ thù của mình và danh chính ngôn thuận ngự trị Đế quốc:[9] tương truyền rằng Thiên Chúa đã hỗ trợ cho ông đánh thắng phe đối lập trong trận cầu Milvian và thống nhất Đế quốc La Mã.[10] Sau chiến thắng vang dội ấy, ông ca khúc khải hoàn diễu binh vào thành La Mã trong niềm biết ơn Thiên Chúa.[11] Do
đó, chiến công vẻ vang này trở thành một những thời khắc lớn, khó quên trong lịch sử, vì dẫn đến cuộc Cách mạng về tôn giáo La Mã.[12] Lịch nghi lễ cúng tế Đông La Mã, được Giáo hội Chính Thống giáo Đông phương (Eastern Orthodox Church) và Giáo hội Công giáo Đông phương tuân theo, liệt kê cả vua
Constantinus I Đại Đế và mẹ của ông là Thái hậu Helena như hai vị Thánh Mặc
dù ông không được kể vào danh sách các vị Thánh của Nhà thờ Latinh, không công nhận Constantinus I Đại Đế như một vị Thánh, ông vẫn được kính trọng dưới danh hiệu "Đại Đế" vì những đóng góp của ông cho Ki-tô giáo Đối với đức tin Ki-tô giáo, ông là người có công lớn hơn cả, kể từ thời Chúa Giêsu và Thánh Phaolô [6]
Ông cũng tấn công người Frank vào năm 310 và buộc nhiều người Frank phải nhập quân ngũ La Mã.[13] Ông cũng đánh thắng người Sarmatia và người Goth, nhưng quan trọng hơn cả là cuộc đại thắng của ông trước người Ba Tư dưới triều nhà Sassanid - là kẻ thù truyền thống của Đế quốc La Mã ở phương Đông.[14] Vào năm 324, vua Constantinus I Đại Đế tuyên bố quyết định đổi tên thành Byzantium
thành Tân La Mã (Nova Roma) và vào 11 tháng 5 năm 330 ông chính thức dời đô
về thành phố này Đây là một quyết định quan trọng của ông.[6] Ông là một vĩ nhân
và việc ông thiên đô về thành Constantinopolis đã góp phần bảo vệ luật pháp La
Trang 5Mã, nền văn hóa và ngôn ngữ Hy Lạp, do đó ông trở thành vị vua sáng lập ra nền văn minh Đông La Mã Ki-tô giáo kéo dài hơn ngàn năm.[6] Sau khi Constantinus I Đại Đế qua đời vào năm 337, Triều đình La Mã đổi tên kinh đô mới thành
Constantinopolis, có nghĩa là Thành phố của Constantinus Thành
Constantinopolis vẫn là kinh đô của Đế quốc Đông La Mã trên hơn một ngàn năm, chỉ bị ngắt quãng tạm thời bởi sự đốt phá và chiếm đóng của quân Thập tự chinh lần thứ tư năm 1204, cho đến khi rơi vào Đế quốc Ottoman năm 1453 Tuy là một
vị Hoàng đế có nhiều thành tựu rực rỡ nhưng có nhiều người thẳng tay chỉ trích ông vào các thời Hậu Cổ đại (trong số đó có cả người cháu trai của chính ông là Hoàng đế Julianus) và Cận đại: theo đó, Constantinus I là một ông vua hung bạo, tham tàn, có nhiều tội trạng đối với đất nước và chỉ giỏi theo đuổi lợi ích riêng của mình [4]
Trang 6 3 Constantine và người Do Thái
Flavius Valerius Aurelius Constantinus được sinh ra ở Naissus (nay là Niš, Serbia)
ở tỉnh Moesia Superior vào 27 tháng 2 khoảng 280, cha là tướng La Mã và sau này trở thành Hoàng đế La Mã phía Tây Constantius Chlorus, mẹ là St Helena Helena, người có ảnh hưởng to lớn xuyên suốt cuộc đời của con trai, xuất thân từ một gia đình khiêm tốn; Ambrose viết rằng bà làm việc trong một quán rượu Cha ông rời
bỏ mẹ ông khoảng năm 292 để thành hôn với Flavia Maximiana Theodora, con gái (hay con nuôi) của Hoàng đế Tây La Mã Maximian, mặc dù Constantine đã tái lập
Trang 7mẹ ông, St Helena, như là "Augusta, mẹ của Caesar" sau khi cha ông qua đời Theodora cho ra đời sáu người anh em kế của Constantine, trong đó có cả Julius Constantius.[15]
Cậu bé Constantinus được giáo dục tốt, trở thành người nói thông thạo tiếng Hy Lạp, và rất am hiểu về triết học.[16] Ông phục vụ trong triều đình của Diocletian ở
Nicomedia, sau khi cha ông được phong như là một trong hai caesares (hoàng đế trẻ) của Tứ đầu chế năm 293 Năm 305, cả augusti (hoàng đế cả), Diocletian và
Maximian, thoái vị, và Constantius nối ngôi Maximian như là augustus phía tây Mặc dù con trai hợp pháp của hai hoàng đế là có ở đó (Constantine và Maxentius, con của Maximian), cả hai đều không được để ý tới trong quá trình chuyển giao
quyền lực Thay vào đó, Severus và Maximinus Daia được phong hai vị caesar
Constantine sau đó rời khỏi Nicomedia để ở cùng cha ở xứ Gaul của La Mã; tuy vậy, Constantius lâm bệnh trong một cuộc viễn chinh tiến đánh người Pict của xứ Caledonia, và qua đời vào 25 tháng 7, 306 ở Eboracum (York) Tướng Chrocus, gốc người Alamanni, và quân lính trung thành với Constantius lập tức tôn
Constantinus lên làm Augustus Dưới chế độ Từ đầu chế, sự kế ngôi của
Constantine có vẻ không rõ ràng cho lắm Trong khi Constantius với tư cách
hoàng đế cả có thể "tạo ra" một Caesar mới, tuyên bố của Constantine (hay, quân lính của ông ta) lên danh hiệu Augustus đã mặc kệ hệ thống truyền ngôi thiết lập
vào năm 305 Do đó, Constantine đã yêu cầu Galerius, vị Augustus phía đông, công nhận ông là người thừa kế ngôi vị của cha để lại Galerius đã phong
Constantinus danh hiệu Caesar, khẳng định quyền cai trị của Constantine trên
vùng lãnh thổ của cha ông, và phong chức cho Severus trở thành augustus của phía Tây.[17]
[ ] Nhà cai trị phía Tây
Trang 8Tượng đồng của Constantine I ở York, Anh, gần nơi ông được tôn xưng Hoàng đế năm 306
Phần lãnh thổ của Constantinus trong đế quốc bao gồm Britain, Gaul, các tỉnh Germania, và Tây Ban Nha Ông do đó nắm trong tay một trong những đội quân
La Mã hùng mạnh nhất, đóng dọc theo biên giới Rhine quan trọng Khi Gaul là một vùng giàu có của đế quốc, nó đã chịu đựng nhiều thứ trong Khủng hoảng ở Thế kỉ thứ 3 Trong những năm đóng tại Gaul, từ 306 đến 316, Constantinius tiếp tục những cố gắng của phụ hoàng Constantius Chlorus để trấn giữ biên giới Rhine
và xây dựng lại những tỉnh Gallia Nơi cư ngụ chính của ông trong thời gian đó là Trier.[18]
Ngay sau khi được phong là hoàng đế, Constantinus I bỏ chiến dịch đánh Anh của phụ hoàng Constantius Chlorus và quay lại xứ Gaul để dập tắt cuộc khởi nghĩa của người Frank Một cuộc viễn chinh càn quét các bộ tộc người Frank theo sau vào năm 308 Sau chiến thắng này, ông bắt đầu cho xây dựng một cây cầu bắt ngang sông Rhine tại Cologne để thiết lập một căn cứ vĩnh viễn ở phía phải của bờ sông Một chiến dịch mới năm 310 đã bị bãi bỏ bởi sự nổi loạn của Maximian mô tả ở đoạn dưới Những cuộc chiến cuối cùng của Constantinus trên chiến tuyến sông Rhine diễn ra vào năm 313, sau khi ông quay lại từ Ý, và một lần nữa ông lại chiến thắng.[19]
Trang 9Mục đích chính của Constantinus I là sự ổn định, mà ông cố gắng đạt được bằng những cuộc viễn chinh nhanh chóng, thường tàn bạo, trừng phạt các bộ tộc nổi loạn, phô diễn sức mạnh quân sự của ông bằng cách chinh phục kẻ thù trên phía
bờ sông Rhine của họ, và thảm sát nhiều tù binh chiến tranh trong các trận đấu trong đấu trường (arena) Chiến thuật này chứng tỏ khá thành công, vì chiến tuyến Rhine khá là yên lặng trong phần còn lại của thời gian ông trị vì
Trong những mâu thuẫn nội bộ của Triều đình Tứ đầu chế, Constantine cố gắng giữ quan điểm trung lập Năm 307, hoàng đế cả Maximian (vừa quay lại vũ đài chính trị sau khi thoái vị năm 305) ghé thăm Constantine để tranh thủ sự ủng hộ của ông trong chiến tranh của Maxentius, con trai ông ta, chống lại Severus và Galerius Constantine thành hôn với con gái của Maximian tên là Fausta để kết
mối liên minh và được phong lên chức Augustus bởi Maximian Tuy nhiên ông
không can thiệp chính trị cho danh nghĩa của Maxentius.[20]
Maximian quay lại năm 308 sau khi ông không lật đổ được con trai mình Cuối năm đó, tại hội nghị Carnuntum giữa Diocletianus, Galerius và Maximian,
Maximian bị buộc thoái vị một lần nữa và Constantinus I giảm chức xuống caesar
Vào năm 310, Maximian có liên quan đến một âm mưu ám sát con rể của mình khi Constantinus I quay lại sau chiến dịch đánh người Frank Cuộc mưu sát bị dập tắt nhanh chóng khi Constantinus I phát giác, và Maximian bị giết hay bị buộc phải tự
tử Cả Constantinus I và Maximinus Daia đều thất vọng vì thấy bị hạ chức xuống
caesar và sự bổ nhiệm của Licinius, và sau đó đã chống lại sắc lệnh đó và tự phong là Augustus, vì đã được phong bởi Galerius vào năm 310, do đó chính thức tạo ra bốn Augusti Khi Galerius mất năm 311, người cai trị với đủ quyền lực để
tiếp tục hệ thống Tứ đầu chế đã từ giã sân khấu, và do đó hệ thống nhanh chóng suy giảm Trong cuộc tranh chấp quyền lực sau đó, Constantinus I liên minh với Licinius, trong khi Maximinus tiếp cận Hoàng đế Maxentius, người vẫn chính thức được xem là có quyền cao hơn.[21]
Trang 10[ ] 312 đến 324
Đầu năm 312, Hoàng đế Constantinus I thống suất đại binh vượt qua dãy núi Alps với và tấn công Maxentius Ông nhanh chóng chinh phục vùng Bắc Ý trong những trận đánh tai Turin và Verona và sau đó thẳng tiến về thành La Mã Nơi đó,
Constantinua I với một đội quân gồm gần 10 vạn chiến binh (9 vạn Bộ binh và 8 nghìn Kỵ binh)[22] đã đại thắng Maxentius trong trận đánh trên cầu Milvian, mà kết quả là ông trở thành Augustus phía Tây, hay là người cai trị toàn bộ Đế quốc La
Mã phía Tây Đại thắng huy hoàng tại cầu Milvian là một sự kiện khó quên trong lịch sử nhân loại.[23] Trong trận đánh đã đi vào lịch sử này Constantine đã cho quân lính mình khắc lên khiên của họ ký hiệu mà những người theo Thiên chúa giáo tin là ký hiệu labarum, mặc dù các sử gia vẫn còn tranh cãi rằng là liệu những
kí hiệu đó có phải là Thiên chúa giáo rõ rệt, hay là kí hiệu cổ của thần mặt trời.[24]
Kí hiệu labarum và khẩu hiệu đi kèm theo In Hoc Signo Vinces (trong dấu hiệu này, Người sẽ chinh phục) được kể là từ kết quả của hình ảnh hiện ra trước
Constantinus I tại Saxa Rubra, là nguyên nhân mà cuối cùng ông thuận chuyển sang Thiên chúa giáo Trên đường rút chạy, vị vua xấu số Maxentius bị rơi xuống nước và chìm chết dưới sông Tiber Sau đại thắng vẻ vang, Constantinus I kéo đoàn binh chiến thắng ca khúc khải hoàn tiến bước vào thành La Mã ngay trong ngày hôm sau Một ý nghĩa lớn lao khác của chiến công lừng lẫy này là ông đã đập
vỡ mộng của Maxentius: ông vua này định đánh bại Constantinus I trong trận đánh này để lập chiến tích ngay trong ngày kỷ niệm lễ đăng quang của ông ta Chiến thắng vang dội này được xem là sự kiện mở đầu những năm tháng vinh quang của Constantinus I: một vị Hoàng đế sa ngã đã bị thay thế bằng một vị Hoàng đế
thiêng liêng trong mắt thần dân Trong những năm kế tiếp đó, ông dần củng cố quân đội của mình mạnh hơn tất cả các đối thủ của mình trong hệ thống Tứ đầu chế đang suy yếu Cứ đến ngày 28 tháng 10, nhân dân thành La Mã lại làm lễ kỷ
niệm chiến thắng cầu Milvian - "cuộc đánh đuổi tên bạo chúa" và ngày hôm sau là
Trang 11ngày 29 tháng 10, thì họ lại kỷ niệm - "cuộc tiến quân của vị thần linh" (đó chính
là vua Constantinus I) [23]
Năm 313, ông gặp Licinius ở kinh thành Milano để kết chặt liên minh giữa họ bằng sự thành hôn của Licinius và em gái kế của Constantine là Constantia Trong cuộc gặp gỡ này, hai vị hoàng đế đã đồng ý về sắc lệnh bây giờ gọi là Sắc lệnh Milan, chính thức cho phép tất cả mọi tôn giáo hoạt động tự do trong toàn đế quốc, đặc biệt là Thiên chúa giáo.[25] Tuy nhiên cuộc hội nghị đã bị cắt ngắn khi tin tức đến tai Licinius rằng đối thủ của ông ta là Maximinus Daia đã vượt qua Bosporus
và xâm lược vào lãnh thổ thuộc Licinius Licinius từ biệt và cuối cùng đã đánh bại Maximinus, nắm lại toàn quyền điều khiển phần phía đông của Đế quốc La Mã Tuy nhiên những quan hệ giữa hai vị hoàng đế còn lại ngày càng xấu đi và hoặc là năm 314 hay 316, Constantine và Licinius đánh lẫn nhau trong chiến tranh Cibalae, với Constantine (với 30.000 quân) là người chiến thắng[26] Họ đụng độ lần nữa ở trận Campus Ardiensis năm 317, và đi tới thỏa thuận rằng con trai của Constantine
là Crispus và Constantine II, và con trai của Licinius là Licinianus được phong
Frank của ông hành quân ngọn cờ Thiên chúa giáo của labarum, và cả hai đều
nhìn những trận đánh dưới danh nghĩa tôn giáo Dù là yếu hơn về lực lượng,
nhưng được cổ vũ với niềm tin, đội quân của Constantinus I đã chiến thắng trong những trận đánh Adrianople, Hellespont, và Chrysopolis.[29]
Trang 12Hoàng đế Constantinus I được thần nữ Tyche gia miện
Với thất bại và cái chết của Licinius một năm sau đó (ông bị kết tội mưu sát Constantine và bị xử tử), Constantinus I trở thành hoàng đế duy nhất của toàn bộ
Đế quốc La Mã.[30]
[ ] Thiết lập thành Tân La Mã
Thất bại của Licinius đại diện cho sự qua đi của Đế quốc La Mã cũ, và sự bắt đầu của vai trò của Đế quốc Đông La Mã như là trung tâm học tập, phát triển, và bảo toàn văn hóa Triều đình Constantinus I ban chiếu chỉ cho người xây dựng lại
thành phố Byzantium, và đổi tên tân đô thành Tân La Mã (tức Nova Roma) là cho
ban hành những đồng xu kỉ niệm năm 330 để kỉ niệm sự kiện trọng đại này Ông cho xây cất Nghị viện và các văn phòng dân sự tại kinh kỳ Tân La Mã, giống như những văn phòng ở cố đô La Mã Kinh thành này được bảo vệ bằng Thập Tự thật(True Cross), gậy của Moses và các thánh vật, dù cho một vật trang sức đá chạm bây giờ ở Bảo tàng Hermitage (nước Nga) cũng đã minh họa việc
Constantinus I được Tyche (tức vị thần nữ cai quản tân đô) đội chiếc Vương miện lên đầu [1] Nhà vua cũng ban huấn dụ cho thay thế hình vẽ chư thần của tín ngưỡng Đa Thần giáo xưa và thường hòa nhập các bức vẽ này vào các biểu tượng