Cùng với việc mang lại sự an toàn về tài chính và tinh thần, nghề nghiệp BH đòihỏi và tạo đk cho các tổ chức BH thường xuyên thực hiện việc nghiên cứu rủi ro, thống kê tổn thất, tìm kiếm
Trang 1- Do thiên tai gây ra bão lũ, lụt lội, hạn hán, động đất, sét, lốc, sương muối, dịchbệnh… làm ảnh hưởng đến sx, đến đs và đến sức khoẻ con ng.
- Do biến động của KH và CN KH-CN làm tăng NSLĐ, thúc đẩy nền kt phát triển
và tạo đk thuận lợi cho cs của con người; nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bấtngờ như tai nạn lđ và bệnh nghề nghiệp, tai nạn ô tô… và làm tăng nguy cơ mất việc làmcủa ng lđ
- Do MT xh Những rủi ro này chịu tđ của nhiều yếu tố và ảnh hưởng trực tiếp đếnmọi thành viên trong xh như ốm đau, bệnh tật, mất việc làm, trộm cắp, hoả hoạn…
Bất kể do NN gì, khi rủi ro xảy ra thường gây cho con người những khó khăn trong
cs như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều TS, làm ngưng trệ sx và KD của t/c, DN,
cá nhân… và làm ảnh hưởng đến đs kt-xh nói chung
Để đối phó với các rủi ro, con người có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soátcũng như khắc phục hậu quả của rủi ro gây ra Hiện nay, theo quan điểm của các nhàquản lý rủi ro có 2 nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậu quả của rủi ro là biện pháp
kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro.
- Nhóm biện pháp kiểm soát rủi ro bg các bp né tránh rủi ro, giảm thiểu rủi ro vàgiảm thiểu tổn thất:
+ Tránh né rủi ro là bp được sd thường xuyên trong cs Mỗi ng, mỗi đv sxKD đều
lựa chọn những bp thích hợp để né tránh rủi ro có thể xảy ra, tức là loại trừ cơ hội dẫnđến tổn thất Tuy nhiên, tránh né rủi ro chỉ với những rủi ro có thể tránh né đc và cs có rấtnhiều rủi ro bất ngờ ko thể tránh né đc
+ Ngăn ngừa tổn thất – các bp ngăn ngừa tổn thất đưa ra các hđ nhằm làm giảm
tổn thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra
+ Giảm thiểu tổn thất – có thể giảm thiểu tổn thất thông qua các biện pháp làm
giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất xảy ra
Mặc dù các biện pháp kiểm soát rủi ro rất có hiệu quả trong việc ngăn ngừa hoặcgiảm thiểu rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, ng ta ko thể lường hết được hậu quả
- Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro, bg các bp chấp nhận rủi ro và BH Đây là bp đc
sd trước khi rủi ro xảy ra với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra(nếu có)
+ Chấp nhận rủi ro: đây là hình thức mà ng gặp phải tổn thất tự chấp nhận khoản
tổn thất đó, điển hình là tự BH Có thể chia làm 2 nhóm chính: Chấp nhận rủi ro thụ động
và chấp nhận rủi ro chủ động
Trang 2+ BH: đây là 1 phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của các tổ
chức cũng như cá nhân BH là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, cóhiệu quả nhất Như vây, BH ra đời là đòi hỏi KQ của cs, của hđ sx KD
Do nhu cầu của con ng, hđ BH ngày càng phát triển và không thể thiếu đối với mỗi
cá nhân, DN và mỗi quốc gia Ngày nay, sự giao lưu kt, vh giữa các quốc gia càng pháttriển thì BH càng ngày càng mởi rộng
Vì vậy, khái niệm “BH” trở nên gần gũi, gắn bó với con người, với các đv sxKD
Có đc quan hệ đó vì BH đã mang lại lợi ích ktxh thiết thực cho mọi thành viên, mọi đvtham gia
2 Tác dụng
BH là phương pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện qua hợp đồng, trong đó bênmua BH chấp nhận trả phí BH và DN cam kết bồi thường hoặc trả tiền BH khi xảy ra sựkiện BH
BH có rất nhiều tác dụng khác nhau BH góp phần ổn định tài chính cho ng thamgia BH trước tổn thất do rủi ro gây ra BH góp phần ổn định chi tiêu của NSNN và huyđộng vốn đầu tư phát triển kt-xh Đồng thời, nếu triển khai đồng bộ, nó còn góp phầnthực hành tiết kiệm và tạo thêm việc làm cho ng lđ
Hoạt động BH trước hết là nhằm khắc phục hậu quả tài chính của rủi ro Như đãchỉ, rủi ro có thể mang đến những thiệt hại TC bất thường cho các cá nhân, tổ chức Mộtcăn nhà bị hoả hoạn, 1 ng trụ cột trong gia đình bị tai nạn và chết, 1 con tàu bị mất tích, 1chiếc máy bay bị rơi… đều mang đến những kết cục bất hạnh và đi đôi là khó khăn về tàichính Hơn lúc nào hết, các cá nhân, tổ chức cần đến nguồn tài chính kịp thời để bù đắpthiệt hại, lấy lại cân bằng, ổn định tình hình TC Sự có mặt của các tổ chức BH đã đápứng nhu cầu đó một cách nhanh nhất Dịch vụ mà các DN BH đáp ứng cho nhu cầu antoàn của con người, của xh chính là sự đảm bảo về mặt vật chất, tài chính trước rủi ro.Hơn nữa, vượt lên cả ý nghĩa “tiền bạc”, BH mang đến trạng thái an toàn về tinh thần,giảm bớt sự lo âu trước rủi ro, bất trắc cho người được BH Đó chính là ý nghĩa nhân văncủa BH trong xh hiện đại và thể hiện hình ảnh tốt đẹp của các nhà BH trước công chúng.Trong thực tế KD, các nhà BH cần nhận thức rõ ý nghĩa xh đó, để tự nâng cao hình ảnhcủa 1 nhà bảo trợ trong hoạt động bồi thường, trả tiền cho BH và chăm sóc khách hàng.Việc từ chối chi trả tiền bồi thường là 1 công việc khó bào chữa nhất về nguyên nhân Tất
cả những giải thích thiếu thuyết phục đối với khách hàng sẽ làm sai lệch ý nghĩa đíchthực của BH
Cùng với việc mang lại sự an toàn về tài chính và tinh thần, nghề nghiệp BH đòihỏi và tạo đk cho các tổ chức BH thường xuyên thực hiện việc nghiên cứu rủi ro, thống
kê tổn thất, tìm kiếm các biện pháp phòng tránh, giảm thiểu: phát triển các dịch vụ tài trợ;phối hợp với khách hàng tổ chức thực hiện những biện pháp cần thiết về đối tượng BH…Những hđ đó đã đóng góp rất lớn vào nỗ lực chống đc rủi ro, thiên tai, tai hoạ của toànthể cộng đồng
Tạo việc làm cho xh cũng là 1 khía cạnh đáng kể trong vai trò của BH Ngành BH
đã thu hút một lực lượng lớn lđ làm việc tại các DN BH, DN môi giới BH, mạng lưới đại
lý BH và các nghề nghiệp lien quan như là giám định tổn thất, định giá TS, giảm định sứckhoẻ… Trong đk thất nghiệp đang ám ảnh nền kinh tế toàn cầu thì sự phát triển ngành
Trang 3BH vẫn đc coi là còn nhiều tiềm năng ở các quốc gia sẽ góp phần giải quyết tình trạngthiếu việc làm cũng như các vấn đề xh liên quan.
Một mảng đậm nét góp phần khắc hoạ vai trò của DN BH trong kinh tế TT chính là
hđ trung gian tài chính Với vai trò trung gian TC, DN BH th/h các hđ thu hút, tập trungcác nguồn vốn nhàn rỗi, chuyển hoá vốn và đầu tư vốn Trên phương diện quan hệ cung –cầu vốn, việc gom góp nhiều khoản phí BH “nhỏ” từ số lượng lớn các tổ chức, cá nhântham gia BH chính là quá trình “huy động, tập trung vốn” của DN BH Hđ BH tạo nên 1kênh huy động vốn quan trọng trong nền kt Đvới BH nhân thọ, hđ KD BH bên cạnh vấn
đề chuyển giao rủi ro, hàm chứa cả mục đích huy động guồn thu nhập nhàn rỗi trong dân
cư để đầu tư Đặc thù của lĩnh vực KD BH (về phạm vi hđ về lượng khách hàng tiềmnăng…) tạo cho DN BH 1 lợi thế về khả năng tập trung vốn Mặt khác, sự “đảo ngượccủa chu trình KD sp” trong KD BH: phí BH phải thu trước; bồi thường hoặc trả tiền BHchỉ thực hiện sau 1 t/gian có thể là khá lâu (ví dụ có thể sau 10 năm, 15năm trong BHnhân thọ) khiến phần lớn lượng tiền mà DN BH tập trung đc từ phí BH có thời gian tạmthời nhàn rỗi Hơn nữa, việc vận dụng luật số lớn, nguyên tắc liên tục trong KD, khai thácdịch vụ đã tạo tiền đề cho việc chuyển hoá thời hạn vốn bằng cơ chế chạy tiếp sức củanhiều khoản phí BH Qua hđ BH, các khoản tiền nhỏ, lẻ, ngắn hạn được tập hợp để hìnhthành nguồn vốn lớn, tập trung có thể đáp ứng các nhu cầu vốn trung và dài hạn của nềnkinh tế
Thực tế, các DN BH vẫn sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó để đầu tư vàonhiều lĩnh vực và chủ yếu là đầu tư vào nhiều lĩnh vực và chủ yếu là đầu tư gián tiếp trên
TT tài chính, nhất là TT chứng khoán Trong TT BH phát triển, hđ đầu tư vốn của DN
BH rất được coi trọng vì lợi nhuận từ hoạt động KD BH trực tiếp ngày càng giảm và bùlại, các DN BH phải tìm kiếm lợi nhuận từ hđ đầu tư vốn
HĐ đầu tư tích cực của DN BH còn có tdụng tăng quy mô và độ lưu hoạt của TTtài chính, kích thích các luồng vốn vận động theo nhu cầu phát triển kt –xh, tăng tính khảthi của những dự án, nâng cao hiệu quả của việc phân bổ các nguồn lực tài chính có hạntrong nền kt
Vai trò kt-xh của BH còn thể hiện trên các khía cạnh khác như là: giảm sức épđvới hệ thống phúc xh; hỗ trợ các hđ KD, thúc đẩy các hđ thương mại Những hiện tượngnhư là một số loại hàng hoá, dvụ có thể tiêu thụ thuận lợi hơn trên thị trường một khi có
đi kèm các hợp đồng BH cho những trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụnghang háo, dvụ hay là việc BH cho những tài sản được dung để thế chấp, BH cho tìnhmạng của người có trách nhiệm trả nợ tiền vay… là những vđề mà các nhà sx KD ko thể
ko quan tâm Sự bảo đảm của BH cho các khoản đầu tư, góp phần gián tiếp kiến tạo nên
hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng đồ sộ của quốc gia cũng rất đáng ghi nhận Một nhân vật
nôie tiếng trong giới kỹ nghệ - Herny Ford đã quả quyết: “…ko phải các kiến trúc sư mà
là các nhà BH đã xây dựng nên New York, chính là vì ko một nhà đầu tư nào dám mạo hiểm bỏ ra hàng tỷ đôla cần thiết để xây dựng những toà nhà chọc trời ở Manhatan mà
ko có bảo đảm được bồi thường nếu hoả hoạn hoặc sai phạm về xd xảy ra”
Trang 4CÂU 2: Các loại hình BH
Phân loại theo nghiệp vụ BH trong luật định: Luât KD BH CHXHCNVN đã xếp
các nghiệp vụ BH thành 2 nhóm (gồm 18 nghiệp vụ) là BH nhân thọ và BH phi nhânthọ Xếp loại nghiệp vụ BH theo luật định là căn cứ để cơ quan quản lý nhà nước về
BH cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho DN BH, ktra hoạt động của các DN BH vàth/hiện các ndung qlý nàh nước về BH khác
Phân loại theo đối tượng BH, các loại BH đc xếp vào 3 nhóm: BH tài sản, BH
trách nhiệm dân sự và BH con người
Phân loại theo kỹ thuật qlý hợp đồng BH (nói 1 cách cụ thể hơn, đó là kỹ thuật
quản lý về mặt tài chính – thu chi chảu nghiệp vụ BH), BH đc chia thành 2 nhóm: nhómnghiệp vụ BH áp dụng kỹ thuật phân chia và nhóm nghiệp vụ BH áp cụng kỹ thuật tồntích
Phân loại theo tính chất BH (tính bắt buộc và tính tự nguyện), cso nhóm BH tự
- BHYT được tách ra từ chế độ chi phí y tế trong hệ thống các chế độ BHXH Do
đó, nó mang đầy đủ tính chất của BHXH Hiện nay, BHYT đc mở rộng tới mọi đối tượng
có nhu cầu dưới hình thức tự nguyện
- BHTN cg đc tách từ BHXH do sự phát triển cảu nền kt và lực lượng lđ xh BHTNphát sinh trên cơ sở qh lđ, do đó, giải quyết BHTN l/quan đến trách nhiệm cảu xh, của ng
sd lđ và cả ng lđ
- BHTM là loại hình BH KD Hđ của BHTM chịu chi phối bởi luật pháp, nhất làluật KD BH, các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế BHTM ko chỉ xâm nhập vào mọihoạt động kt-xh khắp đất nước l/quan đến tài sản, trách nhiệm dân sự và con người màcòn phát triển, mở rộng ra thị trường thế giới thông qua hđ phân tán rủi ro
Ngày nay, BHTM trở thành 1 dịch vụ TC rất phát triển trong nền kinh tế thị trường
và có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân
Ở VN, theo sự phát triển của kt-xh, các loại BH như BHXH, BHYT, BHTM cũng
đc triển khai Các loại hình BH VN tuy “sinh sau đẻ muộn” nhưng nhờ tiếp thu tinh hoacủa BH thế giới, vận dụng linh hoạt vào đk VN nên cũng phát triển khá nhanh
BHXH, BHYT mở rộng đối tượng và phạm vi BH, ngày càng hoàn thiện về cơ chéquản lý
BHTM phát triển số lượng nghiệp vụ, mở rộng thị trường và ngày càng có vị thếtrong nền kinh tế quốc dân
Trang 5CÂU 3: Mối quan hệ giữa BH và phát triển kinh tế.
BH chỉ phát triển trong những đk kt-xh nhất định Nói cách khác, giữa BH và pháttriển kt-xh có mqh, tđ qua lại thúc đẩy nhau phát triển
• Sự phát triển kt-xh tác động đến sự phát triển của BH:
Một điều có tính quy luật là kt-xh càng ph/triển, đs v/c và tinh thần của ng dân cgcao thì nhu cầu về BH càng lớn Như vậy, sự ph/triển của BH phụ thuộc vào đk kt-xh:
- Kinh tế phát triển, thu nhập của DN, của ng lđ đc nâng cao, khả năng đóng gópphí BH càng có đk hơn Và do đó khả năng tham gia các loại hình BH càng nhiều
- Kt xh pt làm cho nguồn thu của NSNN ngày càng tăng, từ đó có đk hỗ trợ để bảotoàn và tăng trưởng 1 số nguồn quỹ BH như: quỹ BHXH, quỹ BHTN, quỹ BH YT
- Kt pt, chtrị ổn định thì các đk pháp lý, MTKD… có đk hoàn chỉnh tạo đk cho BH
có đk pt, nhất là BH TM, phải có môi trường pháp lý, thị trường phát triển mới hđ KDcso hiệu quả
- Kt xh pt thúc đẩy KH KT phát triển, các hđ trong đs vh-NT phong phú, thúc dẩycác nghiệp vụ BH mới ra đời, làm phong phú thêm hđ BH
- Kt pt thúc đẩy xu thế hội nhập và toàn cầu hoá pt làm cho hđ BH cũng mở rộng
TT không chỉ trong nước mà cả quốc tế
- Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới đã và sẽ mang lại những cơ hội to lớncho thương mại, tăng thêm công ăn việc làm, nâng cao hiệu quả và phát triển kinh tế củacác nước, nhất là các nước đang phát triển Cùng với sự phát triển của các tập đoàn lớn,các công ty đa quốc gia là các “dòng chảy” của các nhóm lđ, các loại hình lđ Ng lđ cóthể di chuyển không chỉ ở thị trường lđ trong nước mà cả thị trường lđ quốc tế Họ có cơhội phát huy được nhiều nhất năng lực và sở trường của mình, được tiếp cận với nhữngcách quản lý tiên tiến của các công ty lớn; được có cơ hội nâng cao kỹ năng nghề nghiệpcủa mình và được thăng tiến trong công việc (cùng với đó là thu nhập được tăng lên) Song song với thời cơ, ng lđ cũng gặp phải những rủi ro, có những rủi ro luôn luônthường trực trong công việc và trong cuộc sống của họ Những rủi ro đó là:
+ Dễ bị mất việc làm nếu công ty/DN của ng lđ bị phá sản hoặc kinh doanh thua lỗbuộc chủ sử dụng lđ phải cắt giảm nhân công
+ Một số nhóm lđ không kịp thich ứng với những thay đổi về công nghệ của DNphải chuyển đổi nghề nghiệp hoặc phải rời khỏi DN
+ Một số nhóm lđ không chịu được áp lực của công việc dẫn đến những stress hoặcnhững khủng hoảng
+ Ng lđ cũng có thể bị bần cùng hóa vì những đối xử của chủ sử dụng lđ hoặc vìnhững ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu
Từ đó, họ có xu hướng tìm đến các loại hình BH để đảm bảo có sự bù đắp cho họkhi có các sự kiện BH xảy ra Nhờ đó, tác động tới sự phát triển của BH
• BH tđ đến phát triển kt-xh:
Nếu pt kt-xh là đk cần, có tính quyết định mở rộng và pt BH thì BH cũng có tdkích thích kt xh pt
Trang 6- Quỹ BH hình thành từ sự đóng góp dưới hình thức phí BH của ng tham gia Quỹ
BH đc ng BH sd để trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi BH cho ng tham gia
để họ ổn định TC và đs, từ đó góp phần ổn định và phát triển sx KD thúc đẩy nền kt pt
- Nhờ có quỹ BH mà ngân sách ko phải trợ cấp khắc phục hậu quả của những rủi
ro bất ngờ (trừ TH rủi ro có tính thảm hoạ và xh rộng lớn); do đó, có đk để đầu tư pt xh
kt BH là ngành dvụ, bản than nó ko chỉ góp phần thực hiện tiết kiệm, chống lạmphát và tạo việc làm cho ng lđ, giải quyết đs cho ng lđ trong lvự BH mà còn góp phần tạo
ra thu nhập cho nền kt, tức góp phần tăng trưởng kt
Ngoài tđ chung của BH đến sự pt kt-xh như trên, mỗi loại hình BH còn có những
tự, an toàn xh
BHXH là 1 trong những loại hình BH ra đời khá sớm và đến nay đã đc th/hiện ở tất
cả các nước trên thế giới So với các loại hình BH khác, đối tương, chức năng và tính chấtcủa BHXH có những điểm khác biệt do bản chất cảu nó chi phối
2 Đối tượng của BHXH.
Có người cho rằng, đối tượng của BHXH là người lđ Tuy nhiên, theo bản chất vốn
có, đối tượng của BHXH là thu nhập của người lđchứ không phải bản thân họ BHXHđược hình thành để góp phần cân bằng thu nhập cho người lđkhi họ bị giảm hoặc mất thunhập do bị giảm hoặc mất khả năng lđhoặc khả năng lđkhông được sử dụng
Đối tượng tham gia BHXH là những ng lđ, ng sd lđ và Nhà nước (trong mọt sốTH) Tuy vậy, tuỳ theo đk phát triển kt-xh của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả
hoặc một bộ phận những ng lđ nào đó Người lđtham gia BHXH để BH cho chính mình trên cơ sở san sẻ rủi ro của số đông người lđkhác Người sử dụng lđcó trách nhiệm phải
BH cho người lđmà mình thuê mướn Khi tham gia BHXH, người sử dụng lđcòn vì lợiích của chính họ Ở đây người sử dụng lđcũng thực hiện san sẻ rủi ro với tập đoàn người
sử dụng lđ, để bảo đảm cho quá trình sản xuất của họ không bị ảnh hưởng khi phát sinh
nhu cầu BHXH Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là người bảo hộ cho các hoạt
động của quỹ BHXH, bảo đảm giá trị đồng vốn, và hỗ trợ cho quỹ BHXH trong nhữngtrường hợp cần thiết Ngoài ra, Nhà nước tham gia BHXH còn với tư cách chủ thể quản
lý, định ra những chế độ, chính sách, định hướng cho các hoạt động BHXH
Nếu xem xét trên mqh ràng buộc trong BHXH, ngoài ng lđ còn có ng sd lđ và cơquan BHXH, dưới sự bảo trợ của nhà nước Ng sd lđ đóng góp vào quỹ BHXH là tráchnhiệm của họ để BH cho ng lđ mà họ sd Còn cơ quan BHXH nhận sự đóng góp của ng lđ
và ng sd lđ phải có trách nhiệm q/lý, sd quỹ để th/hiện mọi công việc về BHXH đvới ng
lđ Mqh ràng buộc này chính là đặc trưng riêng có của BHXH Nó quyết định sự tồn tại
và phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững
Trang 7Bên BHXH, đó là bên nhận BHXH từ những người tham gia BHXH Bên BHXHthường là một số tổ chức (cơ quan, công ty…) do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thể
do tư nhân, tổ chức kinh tế – xã hội lập ra) và được Nhà nước bảo trợ, nhận sự đóng gópcủa người lđ, người sử dụng lđ, lập nên quỹ BHXH Bên BHXH có trách nhiệm thực hiệnchi trả trợ cấp cho bên được BHXH khi có nhu cầu phát sinh và làm cho quỹ BHXH pháttriển
Bên được BHXH là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh những nhucầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại rủi ro được BH gây ra TrongBHXH, bên được BHXH là người lđtham gia BHXH và nhân thân của họ theo quy địnhcủa pháp luật, khi họ có phát sinh nhu cầu được BHXH do pháp luật quy định Giữa cácbên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong kinh tế thị trường, bên tham gia BHXH cóthể đồng thời là bên được BHXH (lđchẳng hạn) Đối với người lđđộc lập, họ vừa là ngườitham gia BHXH vừa là người được quyền hưởng BHXH vì họ đóng phí được BHXH để
BH cho chính họ
3 Chức năng của BHXH
BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây:
- Thay thế hoặc bù đắp 1 phần thu nhập cho ng lđ tham gia BH khi họ bị giảm
hoặc mất thu nhập do mất khả năng lđ hoặc mất việc làm Sự đảm bảo thay thế hoặc bù
đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lđ sẽ đến với tất cả mọi ng lđkhi hết tuổi lđ theo các đk quy định của BHXH Còn mất việc làm và mất khả năng lđtàm thời làm, giảm hoặc mất thu nhập, ng lđ cũng sẽ đc hưởng trợ cấp BHXH với mứchưởng phụ thuộc vào các đk cần thiết theo quy định Đây là chức năng cơ bản nhất cảuBHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hđ cảu BHXH
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ng tham gia
BHXH Tham gia BHXH ko chỉ có ng lđ mà cả những ng sd lđ Các bên tham gia đều
phải đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ này dung để trợ cấp cho 1 số ng lđ tham gia khi họgiảm oặc mất thu nhập Số lượng những ng này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng sốnhững ng tham gia đóng góp Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiệnphân phối lại thu nhập theo cả hciều dọc và chiều ngang Phân phối lại giữa những ng lđ
có thu nhập cao và thấp, giữa những ng khoẻ mạnh đang làm việc với những ng ốm yếuphải nghỉ việc… Thực hiện chức chức năng này cso nghĩ là BHXH góp phần thực hiệncông bằng xã họi
- Góp phần kích thích ng lđ hăng hái lđ sx nâng cao năng suất lđ cá nhân và
năng suất lđ xh Khi khoẻ mạnh tham gia lđ sx, ng lđ đc chủ trả công Khi ốm đau, thai
sản, tia nạn lđ, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Vìthế cs của họ và gđ họ luôn đc đảm bảo ổn định Do đó, ng lđ luôn yên tâm, gắn bó tậntình với công việc, với nơi làm việc Từ đó, họ sẽ tích cực lđ sx, nâng cao năng suất lđ vàhiệu quả ktế Chưc năng này biểu hiện như 1 đòn bẩy ktế kích thích ng lđ nâng cao năngsuất lđ cá nhân và kéo theo là năng suất lđ xh
- Gắn bó lợi ích giữa ng lđ với ng sd lđ, giữa ng lđ với xh Trong thực tế lđ sx, ng
lđ và ng sd lđ vốn có nhiều mâu thuẫn nội tại Thông qua BHXH, những >< đó đc điềuhoà và giải quyết Đặc biệt, cả 2 giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và đc
Trang 8bảo vệ Từ đó họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau Đvới nhà nước, chi choBHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiêu quả nhất nhưng vẫn giải quyết đc khó khăn
về đs cho ng lđ và gđ họ, góp phần làm sx ổn định, kt, chtrị và xh đc ph/tr và an toàn hơn
4 Tính chất của BHXH.
BHXH gắn lien với đs của ng lđ, vì vậy, nó có 1 số tính chất cơ bản sau:
- Tính tất yếu khách quan trong đs xh
Trong quá trình lđ sx, ng lđ có thể gặp nhiều biến cố, rủi ro khi đó thì ng sd lđ cũngrơi vào nhiều tình cảnh khó khăn SX càng phát triển, những rủi ro đvới ng lđ và nhữngkhó khăn đvới ng sd lđ càng nhiều và trở nên phức tạp, dẫn đến mqh chủ-thợ ngày càngcăng thẳng Để giải quyêt vđề này, nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH Vànhư vậy, BHXH ra đời hoàn toàn mang tính KQ trong đs kt-xh của mỗi nước
- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh ko đồng đều theo thừoi gian và ko gian.Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của BHXH
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xh, đồng thời còn có tính dịch vụ
Tính ktế thể hiện rõ nhất ở chỗ, quỹ BHXH muốn đc hình thành, bảo toàn và tăngtrưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải đc qlý chặt chẽ, sd đúng mđích.Mức đóng góp của các bên phải đc tính toán cụ thể Thực chất, phần đóng góp cảu mỗi
ng lđ là ko đáng kể nhưng quyền lợi nhận đc là rất lớn khi gặp rủi ro Đvới ng sd lđ, việctham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để BH cho ng lđ mà mình sd Xét dưới góc độ ktế,
họ cũng có lợi vì ko phải bỏ ra 1 khoản tiền lớn để trang trỉa cho những ng lđ bị mất hoặcgiảm khả năng lđ Với ành nước, BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho NSNN đồngthời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền ktế quốc dân
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xh, vì vậy tính xh của nó thẻhiện rất rõ Xét về lâu dài, mọi ng lđ trong xh đều có quyền tham gia BHXH Và ngượclại, BHXH phải có trách nhiệm BH cho mọi ng lđ và gđ họ, kể cả khi họ còn đang tròn độtuổi lđ Tính xh của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó Khi nền kt-xh ngàycàng pt thì tính dvụ và tính chất xh hoá của BHXH ngày càng cao
CÂU 5: Những quan điểm cơ bản về BHXH
Khi thực hiện BHXH, các nước đều phải lựa chọn hình thức, cơ chế và mức độthảo mãn các nhu cầu BHXH phù hợp với tập quán, khả năng trang trải và định hướngphát triển kt-xh của nước mình Đồng thời phải nhận thức thống nhất các quan điểm sau:
- Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là bộ phận quan trọng nhất
trong chính sách xh.
Mục đích chủ yếu của chính sách này nhằm đảm bảo đs chon g lđ và gđ họ, khi ng
lđ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị gmả hoặc mất kảh năng lđ, mất việc làm Ở nước ta,BHXH nằm trong hệ thống các chính sách đvới con người, nhằm đáp ứng một trongnhững quyền và nhu cầu hiển nhiên của con ngườ, nhăm fđáp ứng một trong nhữngquyền và nhu cầu hiển nhiên của con ngwòi, nhu cầu an toàn về việc làm, an toàn lđ, antoàn xh… Chính sách BHXH còn thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kt,khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia Trong một chừng mực nhất định, nó cònthể hiện tính ưu việt của một chế độ xh Nếu tổ chức và th/h tốt chsách BHXH sẽ là độnglực to lớn phát huy tiềm năng sang tạo của ng lđ trong qtrình pt kt-xh của đất nước
Trang 9- Ng sd lđ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho ng lđ.
Ng sd lđ muốn ổn định và phát triển sx KD thì ngoài việc phải chăm lo đầu tư để
có máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sốngchon g lđ mà mình sd Khi ng lđ làm việc bình thường thì phải trả lương thoả đáng cho
họ Khi họ gặp phải rủi ro thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ Chỉ có như vậy, ng lđmới yên tâm, tích cực lđ sx, phát huy sang kiến cải tiến kĩ thuật góp phần nâng cao năngsuất lđ và tăng hiệu quả ktế cho DN
- Ng lđ đc bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đvới BHXH.
Có nghĩa là mọi ng lđ trong xh đều đc hưởng BHXH, đồng thời bình đẳng về nghĩa
+ Đk kt-xh của đất nước trong từng thời kỳ
Tuy nhiên, về nguyên tắc mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức lương lúc đang đilàm, nhưng thấp nhất cũng phải đmả bảo mức sống tối thiểu
Quan điểm này vừa phản ánh tính cộng đồng xh, vừa phản ánh nguyên tắc phânphối lại quỹ BHXH cho nh ng tham gia BHXH Trợ cấp BHXH là loại trợ cấp thay thếtiền lương mà ng lđ đc hưởng khi ng lđ bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già ko làm việc đc màtrước đó có tham gia BHXH Thấy rằng mức trợ cấp BHXH ko thể bằng tiền lương, vìnếu mức trợ cấp bằng hoặc cao hơn tiền lương thì ko một ng lđ nào cố gắng tìm kiếmviệc làm và tích cực làm việc để có lương mà ngược lại sẽ lợi dụng BHXH để đc nhận trợcấp Hơn nữa, cách lập quỹ BHXH theo phương thức dàn trải rủi ro ko cho phép trả trợcấp BHXH bằng tiền lương lúc đang đi làm Và nếu vậy thì chẳng khác gì ng lđ đg bị rủi
ro, qua rủi ro của mình dàn trải hết cho những ng khác
Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm Tuynhiên, do mđích bản chất và phương thức BHXH thì mức trợ cấp BHXH thấp nhất cũng
ko thể thấp hơn mức sống tối thiểu
- Nhà nước quản lý thống nhất chính sách BHXH, tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHXH.
BHXH là một bọ phận cấu thành các chsách xh, nó vừa là nhân tố ổn định, vừa lànhân tố đọng lực phát triển kt-xh, chon en vai trò của nàh nước là rất quan trọng Thực tế
đã chỉ rõ, nếu ko có sự can thiệp của Nhà nước, nếu ko có sự quản lý vĩ mô của Nhà nướcthì mqh giữa ng lđ và ng sd lđ sẽ ko đc duy trì bền vững, mqh 3 bên trong BHXH sẽ bịphá vỡ
Hơn nữa, BHXH đc thựchiện thôgn qua 1 quy trình: Từ việc hoạch định chsách,giới hạn về đói tượng, xác định phạm vi BH cho đến đảm baoe vật chất và việc xét trợcấp… Vì vậy, Nhà nước phải quản lý toàn bộ quy trình này 1 cách chặt chẽ và thốngnhất
Trang 10- Trợ cấp tiền tuất (trợ cấp cho ng còn sống)
Theo thống kê của ILO, đến năm 1981, có 139 nước có thực hiện hệ thống an sinh
xã hội nói chung, BHXHnói riêng, trong đó có 127 nước có chế độ trợ cấp tuổi già, tàntật và tử tuất; 79 nước có chế độ trợ cấp ốm đau và thai sản, 136 nước có chế độ trợ cấptai nạn lđvà bệnh nghề nghiệp, 37 nước có chế độ trợ cấp thất nghiệp
Hiện nay pháp luật BHXH của Việt Nam quy định có 5 chế độ: chế độ ốm đau, chế
độ thai sản, chế độ TNLĐ & BNN, chế độ tử tuất, chế độ hưu trí
Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XI, ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội thông
qua một số Luật quan trọng trong đó có Luật BHXH(BHXH) số 71/2006/QH11 và Chủ
tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký lệnh số 13/2006/L-CTN ban hành ngày 12/7/2006
Có thể nói, các chế độ là nội dung cốt lõi nhất của hệ thống BHXH, nó thể hiệnđược vai trò và phạm vi trách nhiệm của BHXH đối với người lđkhi họ tham gia BHXH
Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ quỹ BHXH được bên BHXH (cơ quan BHXH) chitrả cho mọi người được BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập bị giảm, mất khả nănglđhoặc mất việc làm và có đủ các điều kiện quy định
Trang 11CÂU 7: Quỹ BHXH
1 Khái niệm.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quỹ BHXH Có thể nêu một định nghĩa
như sau: Quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH
và các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung, được sử dụng để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
bị giảm, mất khả năng lđhoặc bị mất việc làm hoặc bị chết.
Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừamang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quantrọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những sự kiện,những “rủi ro xã hội” của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp choviệc dàn trải “rủi ro” được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thờigiúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lđ, tiết kiệm chi cho cả NSNN vàngân sách gia đình
2 Nguồn hình thành
Quỹ BHXH được hình thành bởi nhiều nguồn khác nhau Trước hết, đó là phầnđóng góp của người sử dụng lđ, người lđvà Nhà nước Đây là nguồn chiếm tỷ trọng lớnnhất và cơ bản của quỹ Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối củaquỹ được tổ chức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lợi Thứ ba, là phần nộpphạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật lệ về BHXH Ngoài ra, quỹ còn
có các nguồn thu hợp pháp khác được pháp luật của mỗi nước quy định
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêutrên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:
- Người lđđóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp rủi
ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ mộtcách chặt chẽ
- Người sử dụng lđđóng góp một phần quỹ BHXH cho người lđmột mặt sẽ tránhđược những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lđkhi có rủi ro xảy ra đối vớingười lđmặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầynhững mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ
- Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của ngườiquản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội Do mối quan hệgiữa chủ - thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được Nhànước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thốngcác chính sách, pháp luật Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹBHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định
Phương thức đóng góp BHXH của người lđvà người sử dụng lđhiện nay vẫn còntồn tại hai quan điểm
+ Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơquan, DN
+ Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lđđược cân đốichung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH
Trang 12Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lđphải chịu toàn bộchi phí cho chế độ tai nạn lđ Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độcòn lại do cả người lđvà người sử dụng lđđóng góp mỗi bên một phần như nhau.
Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn
bộ chi phí quản lý BHXH
3 Mục đích sử dụng
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho việc chi trả trợ cấp BHXH theo các chế độ.Khoản chi này đc thực hiện theo luật định và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệthống BHXH Về ngtắc, có thu mới có chi, thu trước chi sau Vì vậy, quỹ chỉ chi cho cácchế độ trong phạm vi có nguồn thu Thu của chế độ nào thì chi ở chế độ đó
Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được chi choquản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống BHXH Khấuhao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác Phần quỹ nhàn rỗi phải được đemđầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ Quá trình đầu tư phải đảm bảonguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xãhội
Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thốngBHXH Việt Nam thuộc Bộ Lđthương binh xã hội Với sự thay đổi này việc thu chi vàquản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng vềBHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lđcũng được
ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo
CÂU 8: BHXH ở Việt Nam
1 BHXH ở VN trong thời kỳ bao cấp.
Ngay từ khi thành lập chính quyền nhân dân và suốt trong thời kỳ kháng chiến,mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt, song Chính phủ đã luôn chăm lo cải thiện đờisống của nhân dân lđ nói chung và riêng đối với công nhân, viên chức Nhà nước Ngoàiviệc ban hành chế độ tiền lương, Chính phủ đã ban hành các chế độ phụ cấp, trợ cấp xãhội mà thực chất là các chế độ BHXH như: trợ cấp ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lđ, trợ cấp giàyếu, trợ cấp cho cá nhân và gia đình công nhân, viên chức khi chết và xây dựng các khu
an dưỡng, điều dưỡng, bệnh viện, nhà trẻ Về mặt luật pháp được thể hiện trong các vănbản sau:
- Sắc lệnh số 29/SL ngày 13/3/1947 của Chính phủ
- Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chính phủ về quy chế công chức
- Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 của Chính phủ về quy chế công nhân
Các văn bản này đã quy định những nội dung có tính nguyên tắc về BHXH, song
do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, trong kháng chiến và kinh tế khó khăn nên Nhànước chưa nghiên cứu chi tiết và thực hiện được đầy đủ các quyền lợi về BHXH chocông nhân viên chức, mà các chế độ chủ yếu mang tính cung cấp, bình quân với tinh thầnđồng cam cộng khổ Về nội dung chưa thống nhất giữa khu vực hành chính và sx, giữacông nhân kháng chiến và công nhân sx dân dụng, các khoản chi về BHXH lẫn với tiềnlương, chính sách đãi ngộ mà chưa xây dựng theo nguyên tắc hưởng theo lđ là nguyên tắc
cơ bản về phân phối XHCN, ngoài ra các văn bản lại chưa hoàn thiện và đồng bộ, ảnh
Trang 13hưởng đến việc tổ chức thực hiện Một số vấn đề quan trọng, cấp thiết đến đời sống củađông đảo công nhân viên chức như chế độ hưu trí, trợ cấp mất sức lđ, thôi việc, chế độtrợ cấp bệnh nghề nghiệp chưa được quy định.
Nhìn chung giai đoạn này các chế độ BHXH chưa được quy định một cách toàndiện, quỹ BHXH chưa được hình thành Tuy nhiên, các chế độ trợ cấp, phụ cấp mang tínhchất BHXH trong giai đoạn đầu thành lập nước, trong kháng chiến và những năm đầuhoà bình lập lại đã có tác dụng rất to lớn, giải quyết một phần những khó khăn trong sinhhoạt của công nhân viên chức Nhà nước và gia đình họ, củng cố thêm lòng tin của nhândân vào Đảng, Chính phủ và làm cho mọi người an tâm, phấn khởi đẩy mạnh công tác,
sx, thu hút lực lượng lđ vào khu vực kinh tế Nhà nước
2 BHXH ở VN trong thời kỳ KTTT.
Giai đoạn từ 1961 đến tháng 12/1994, các Bộ Lđ, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Y
tế và Tổng Công đoàn Việt Nam đã phối hợp nghiên cứu xây dựng Điều lệ tạm thời về
BH xã hội trình Hội đồng Chính phủ ban hành, bao gồm:
- Về đối tượng áp dụng là: công nhân viên chức Nhà nước ở các cơ quan, xínghiệp, công trường, nông trường, cán bộ, công nhân trong các đoàn thể nhân dân; côngnhân viên chức trong các xí nghiệp công tư hợp doanh đã áp dụng chế độ trả lương như
xí nghiệp quốc doanh; công nhân viên chức trong các xí nghiệp công nghiệp địa phương
đã có kế hoạch lđ, tiền lương ghi trong kế hoạch Nhà nước
- Về điều kiện và mức đãi ngộ: căn cứ vào sự cống hiến thời gian công tác, điềukiện làm việc, tình trạng mất sức lđ và trợ cấp BHXH nhìn chung thấp hơn tiền lương vàthấp nhất cũng bằng mức sinh hoạt phí tối thiểu
- Về các chế độ được quy định bao gồm 6 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lđ –bệnh nghề nghiệp, mất sức lđ, hưu trí và tử tuất; từng chế độ có quy định cụ thể về điềukiện hưởng, tuổi đời, mức hưởng
- Về nguồn kinh phí đảm bảo chi trợ cấp: do quỹ BHXH của Nhà nước đài thọ từNgân sách Nhà nước
- Về quản lý quỹ BHXH: Nhà nước thành lập quỹ BHXH là quỹ độc lập thuộcNgân sách Nhà nước và giao cho Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng Liên đoàn LđViệt Nam) quản lý toàn bộ quỹ này (sau này giao cho ngành Lđ - Thương binh và Xã hộiquản lý quỹ hưu trí và tử tuất)
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ 6 với chủ trương đổi mới quản lý Nhà nước từ nềnkinh tế kế hoạch hoá, tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, chínhsách BHXH cũng được xem xét, nghiên cứu thay đổi sao cho phù hợp không những sovới tình hình đổi mới kinh tế của đất nước mà dần hoà nhập với những quy định, nhữngnguyên tắc của BHXH thế giới và nhất là các nước trong nền kinh tế chuyển đổi
Nội dung của Điều lệ BHXH này đã đã được đổi mới cơ bản và khắc phục đượcnhững nhược điểm, tồn tại mà Điều lệ BHXH tạm thời ban hành những năm trước đây,
đó là:
- Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc không chỉ bao gồm lđ trong khu vực Nhànước mà người lđ trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lđ trởlên cũng có quyền tham gia BHXH
Trang 14- Đề cập đến vấn đề BHXH tự nguyện và vấn đề tham gia đóng góp vào QuỹBHXH của người sử dụng lđ, người lđ và hình thành Quỹ BHXH.
- Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, tập trung trong cả nước, độc lập với ngânsách Nhà nước Quỹ BHXH được Nhà nước bảo trợ, cơ chế quản lý tài chính được thựchiện theo quy định của Nhà nước
- Về các chế độ BHXH, quy định 5 chế độ là ốm đau, thai sản, tai nạn lđ- bệnhnghề nghiệp, hưu trí và tử tuất, không còn chế độ trợ cấp mất sức lđ mà những người mấtkhả năng lđ được quy định chung trong chế độ hưu trí với mức hưởng lương hưu thấp.Trong từng chế độ có quy định cụ thể hơn về điều kiện hưởng, thời gian và mức hưởng
- Người lđ tham gia BHXH được cấp sổ BHXH, sổ BHXH ghi chép, phản ánhquá trình tham gia BHXH, mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH và các chế độ BHXH
sử dụng lđ Với quy định về mức đóng góp rõ ràng đã làm cho người lđ và người sử dụng
lđ thấy được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc đóng góp vào Quỹ BHXH
+ Quỹ BHXH được tách khỏi NSNN, hạch toán độc lập; quỹ BHXH được thựchiện các biện pháp để bảo tồn và tăng trưởng Quỹ BHXH đảm bảo thu đủ để chi và cóphần kết dư, bảo đảm tính chất của BHXH đoàn kết, tương trợ giữa tập thể người lđ vàgiữa các thế hệ, đồng thời đảm bảo cho việc thực hiện chính sách BHXH luôn được ổnđịnh lâu dài Như vậy, từ năm 1995 chính sách BHXH đã gắn quyền lợi hưởng BHXHvới trách nhiệm đóng góp BHXH của người lđ, xác định rõ trách nhiệm của người sửdụng lđ, tạo được Quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước
+ Mức chi trả các chế độ BHXH được quy định cụ thể, hợp lý, phù hợp với mứcđóng góp của người lđ Đặc biệt mức hưởng lương hưu được quy định là 45% so với mứctiền lương nghạch bậc, lương hợp đồng cho người có 15 năm làm việc và đóng BHXH,sau đó cứ thêm mỗi năm được thêm 2% và cao nhất là 75% cho người có 30 năm thamgia BHXH Ngoài ra, người lđ nếu có thời gian tham gia BHXH từ năm thứ 31 trở lên thìmỗi năm thêm được được hưởng trợ cấp một lần bằng 1/2 tháng tiền lương, tối đa khôngquá 5 tháng tiền lương Với quy định này đã từng bước cân đối được thu - chi BHXH
Trang 15CÂU 9: Nguyên tắc chung trong hđ BHTM
Theo Luật kinh doanh BH số 24/2000/QH10, BHTM ( còn được gọi là BH rủi rohoặc BH kinh doanh) là một thỏa thuận, qua đó, bên tham gia BH cam kết trả cho DN
BH một khoản tiền gọi là phí BH; ngược lại, DN BH cũng cảm kết sẽ chi trả hoặc bồithường một khoản tiền khi có rủi ro được BH xảy ra gây tổn thất
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động KD nào, ngoài việc đáp ứng cho các nhucầu an toàn của con người thì lợi nhuận là mục tiêu của hđ BHTM Bởi vậy, có một sốnguyên tắc phải được tuân thủ khi tiến hành hoạt động BHTM
1 Nguyên tắc 1: Số đông bù số ít:
Hoạt động BHTM chính là một hđ KD nhằm mục đích sinh lợi, trong đó DN BHnhận các khoản tiền gọi là phí BH từ người tham gia BH để rồi có khả năng sẽ phải trảkhoản tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được BH
Xét trên khía cạnh với một người tham gia BH, khoản tiền chi trả hoặc bồithường này lớn hơn gấp nhiều lần so với khoản phí đóng BH Chính vì vậy nguyên tắcquan trọng nhất đó là hoạt động BHTM phải dựa trên nguyên tắc: SỐ ĐÔNG BÙ SỐ ÍT– tức là rủi ro xảy ra đối với một hoặc một số ít người sẽ được bù đắp bằng số tiền huyđộng được từ rất nhiều người có khả năng cùng gặp rủi ro như vậy
2 Nguyên tắc 2: Rủi ro có thể được BH
Hoạt động của DN BH dựa trên nguyên tắc bù đắp thiệt hại tài chính cho ngườitham gia BH và luôn theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, chính vì vậy không phải với bất kìloại rủi ro nào, DN BH cũng chấp nhận các yêu cầu bảo đảm
Người ta phân chia ra làm 2 loại rủi ro dựa trên tính chất, nguyên nhân gây ra rủi ro
và tính chất đồng nhất của rủi ro
- Rủi ro có thể được BH: là những rủi ro bất ngờ, không lường trước được Nguyênnhân gây ra rủi ro có thể được BH là nguyên nhân khách quan và không cố ý
- Rủi ro không được BH: là những rủi ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắcchắn xảy ra như hao mòn vật chất tự nhiên, hao hụt thương mại tự nhiên, xe vi phạmnghiêm trọng luật giao thông, cố ý tự tử Nguyên nhân gây ra những rủi ro không được
BH là nguyên nhân chủ quan và do sự cố ý của người được BH
Các DN BH sẽ chỉ chấp nhận bồi thường các rủi ro có thể BH và từ chối BH trongcác trường hợp rủi ro không được BH
Để đảm bảo nguyên tắc này, trong đơn BH luôn có các rủi ro loại trừ tùy thuộc vàotừng nghiệp vụ BH khác nhau
Đối với các rủi ro được BH lại được sắp xếp, phân loại và áp dụng các mức phíthích hợp Thông thường đối với các rủi ro có mức xác suất lớn hơn, mức phí đóng sẽ làlớn hơn
Nguyên tắc rủi ro có thể BH:
- Tránh cho DN BH phải bồi thường những tổn thất thấy trước mà nhiều trườnghợp như vậy chắc chắn sẽ dẫn đến phá sản
- Giúp các DN tính được các mức phí chính xác, trên cơ sở đó giúp cho hoạt động
BH diễn ra dễ dàng hơn, đem lại nguồn lợi lớn cho xã hội trên cơ sở chia sẻ rủi ro cho cảcộng đồng
- Đảm bảo công bằng giữa những người tham gia BH
Trang 163 Nguyên tắc 3: Phân tán rủi ro
Điểu quan trọng nhất trong hoạt động của các DN BH đó là khả năng chi trả BHtrong trường hợp có rủi ro xảy ra Trên thực tế việc thu phí BH trên nguyên tắc số đông
bù số ít và chỉ áp dụng đối với các loại rủi ro được BH đôi khi vẫn không đảm bảo đượckhả năng này của DN BH trong các trường hợp sau:
- Giá trị BH là rất lớn trong khi quy mô DN BH nhỏ hoặc mới thành lập nên quỹ
BH chưa huy động được nhiều
- Các rủi ro liên tiếp, đồng loạt cùng xảy ra khiến cho DN BH phải chi trả nhiềucho người tham gia BH
Một điều thận trọng trong hoạt động của DNBH đó là không nhận những rủi ro quálớn vượt quá khả năng tài chính của công ty Tuy nhiên tránh tình trạng từ chối các hợpđồng BH này, các DNBH sẽ sử dụng nguyên tắc phân tán rủi ro theo 2 cách
- Đồng BH: nhiều DN BH tham gia BH cho cùng một hợp đồng BH
- Tái BH: Một DN BH nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn, sau đó nhượng lại 1 phầnrủi ro cho một hoặc nhiều DN BH khác
4 Nguyên tắc 4: Trung thực tuyệt đối
Theo nguyên tắc này, người BH và người được BH phải tuyệt đối thành thật vớinhau, tin tưởng lẫn nhau, không được lừa dối nhau Đvới ng BH thì phải đbảo quyền lợi
và nghĩa vụ giữa các bên khi soạn thảo hợp đồng; các thuật ngữ phải giải thích rõ rang,tường tận cho mọi người biết và khi xảy ra rủi ro phải bồi thường nhanh chóng, kịp thời.Đvới ng tham gia BH thì phải trung thực khai báo rủi ro và khi có tổn thất xảy ra phảikhai báo trung thực về nguyên nhân và mức độ tổn thất
Hợp đồng BH sẽ không còn hiệu lực nếu chỉ cần một trong hai bên vi phạm Haibên trong hợp đồng BH có bổn phận khai báo đầy đủ và chính xác tất cả các yếu tố quantrọng có liên quan, dù được yêu cầu hay không được yêu cầu khai báo Yếu tố quan trọng
là bất kỳ yếu tố nào có ảnh hưởng đến việc chấp nhận BH và giải quyết quyền lợi BH
5 Nguyên tắc 5: Quyền lợi có thể được BH
Nguyên tắc này đưa ra yêu cầu đối với người tham gia BH Đó là nếu đối tượngđược BH gặp rủi ro, người tham gia BH phải có tổn thất về mặt tài chính
Cụ thể: người tham gia BH phải có quan hệ với đối tượng được BH và được phápluật công nhận về quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền
và nghĩa vụ nuôi dưỡng hay cấp dưỡng
Nguyên tắc này nhằm loại bỏ khả năng BH cho tài sản của người khác hoặc cố tình gâythiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ đơn BH
Trang 17CÂU 10: Phân loại BHTM, 1 số đặc trưng cơ bản của BHTM: TS, con người, TNDS
1 Phân loại BHTM:
a, Phân loại theo phương thức quản lý
- BH tự nguyện : Việc tham gia BH hay không phụ thuộc vào nhận thức và nhu cầucủa người tham gia BH Các doanh nghiệp BH có đáp ứng được hay không cũng tùythuộc vào khả năng tài chính, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của công ty đó,
- BH bắt buộc: bao gồm các sản phẩm BH mà luật pháp có những quy định về điềukiện BH, mức phí BH, số tiền tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia BH và các doanhnghiệp BH có nghĩa vụ phải thực hiện Ví dụ như BH trách nhiệm dân sự (BHTNDS) chủ
xe cơ giới, BHTNDS của chủ lđ đối với người lđ
b, Phân loại theo kỹ thuật BH
- BH theo kỹ thuật phân chia là BH có thời hạn ngắn (thường là một năm) bảo đảmcho các rủi ro có tính chất tương đối ổn định và độc lập với tuổi thọ của con người Vì thếcòn được gọi là BH phi nhân thọ
- BH theo kỹ thuật tổn tích : có đặc trưng là thời gian dài, quỹ được tích tụ nhiềunăm mới được sử dụng để chi trả, thường đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi rõrệt theo thời gian và đối tượng, và thường gắn liền với tuổi thọ con người
c, Phân loại theo đối tượng được BH
- BH tài sản : Đây là loại BH mà đối tượng là tài sản (cố định hay lưu động củangười được BH Ví dụ: BH cho thiệt hại vật chất xe cơ giới, BH hàng hóa của các chủhàng trong BH hàng hóa xuất nhập khẩu, BH tài sản của ông chủ nhà trong BH trộm cắp
- BH trách nhiệm dân sự: có đối tượng BH là trách nhiệm dân sự của người được
BH đối với người thứ ba theo luật định Ví dụ: BHTNDS của chủ xe cơ giới, BHTNDScủa chủ lđ …
- BH con người có đối tượng được BH là tuổi thọ, tính mạng, tình trạng sức khỏecủa con người hoặc các sự kiện l/quan tới cs và có ảnh hưởng tới cs của con người
2 Đặc trưng cơ bản của BHTM: TS, con người, TNDS
a, BH tài sản.
* Áp dụng nguyên tắc bồi thường khi thanh toán chi trả BH STBT mà ng đc BH
nhận đc trong mọi TH ko vượt quá thiệt hại thực tế trong sự cố BH
* Áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp khi xuất hiện ng thứ 3 có lỗi và do đó có
trách nhiệm đvới thiệt hại của ng đc BH Theo ngtắc này, sau khi trả tiền bồi thường, cty
BH sẽ đc thay quyền cảu ng đc BH để thực hiện việc truy đòi trách nhiệm cảu ng thứ 3 cólỗi Ngtắc thế quyền hợp pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của ng đc BH, chống lại hành vi
rũ bỏ trách nhiệm của ng thứ 3 có lỗi, đồng thời đảm bảo cả nguyên tắc bồi thường
Tuy nhiên, có 1 số ngoại lệ khí áp dụng ngtắc thế quyền hợp pháp Đó là khi ng thứ
3 gây lỗi là trẻ em hoặc con cái, vợ chồng, cha mẹ… của ng đc BH
* BH trùng: Trong BHTS, nếu 1 đối tượng BH đồng thời đc BH bằng nhiều Hợp
đồng BH cho cùng 1 rủi ro cới những cty BH khác nhau, những HĐBH này cso đk BHgiống nhau, thời hạn BH trùng nhau và tổng STBH từ tất cả những hợp đồng này lớn hớngtrị của đội tượng BH thì đó gọi là BH trùng
Trang 18Có 2 loại miễn thường: Miễn thường ko khấu trừ và miễn thường khấu trừ
+ Chế độ BH miễn thường ko khấu trừ đảm bảo cho trả cho những thiệt hại thực tếvượt quá mức miễn thường nhưng STBT sẽ ko bị khấu trừ theo mức miễn thường
STBT BH = Gtrị thiệt hại thực tế.
+ Chế độ miễn thường có khấu trừ, thiwwth hại thực tế phải lớn hơn mức miễnthường quy định mới đc bồi thường những STBT sẽ bị khấu trừ theo mức miễn thường
Ý nghĩa của mức miễn thường:
+ Giảm bớt công việc xử lý và giải quyết bồi thường của người BH đối với nhữngtổn thất nhỏ, vì những tổn thất nhỏ thường xuyên xảy ra Vì vậy, khi xét thấy tổn thấtdưới mức miễn thường, người được BH phải tự mình xử lý và đề phòng, hạn chế tổn thất
+ Hợp đồng BH có quy định mức miễn thường sẽ khiến cho người được BH quantâm và có trách nhiệm hơn trong việc đề phòng và hạn chế tổn thất
+ Miễn thường có khấu trừ thường áp dụng trong hợp đồng BH hàng hóa đối vớinhững loại hàng có đặc tính hao hụt tự nhiên Thông thường mức miễn thường bằng mứchao hụt tự nhiên của hàng hóa
- Chế độ BH theo tỷ lệ:
Theo chế độ này thì ng BH chỉ bồi thường theo một tỷ lệ nhất định so với gtrị tổnthất (GTTT)
Số tiền bồi thường = Giá trị tổn thất x
- Chế độ BH theo rủi ro đầu tiên:
Theo chế độ này, ng BH chỉ bồi thường trong phạm vi STBH
STBT đc trả dựa vào STBH đã thoả thuận, tức là: STBT ≤ STBH
b, BH con người
Đặc điểm chung của BHCN là áp dụng “ngtắc khoán” khi thành toán tiền BH Tức
là, về ngtắc, số tiền chi trả BH sẽ dựa vào quy định chủ quan cảu hợp đồng và STBH đcthảo thuận khi ký kết hợp đồng chứ ko dựa vào thiệt hại thực tế Khi áp dụng ngtắc này,chú ý rằng tính mạng con người là vô giá nên ko thể xđ đc bằng 1 khoản tiềnnào đấy.Việc thanh toán tiền BH trong BHCN chỉ mang tính trợ giúp về tài chính khi ko may gặprủi ro dẫ đến cái chết, thương tật làm mấtkhả năng lđ và vì vậy thu nhập, cs của họ gặpphải khó khăn
Trang 19Khác với BHTS, trong BHCN mỗi đối tượng BH có thể đồng thừoi đc BH bằngnhiều hợp đồng với một hoặc nhiều cty BH khác nhau Khi có sự cố BH, việc trả tiền BHcủa từng hợp đồng độc lập nhau.
c, BH trách nhiệm dân sự
Vì đối tượng đc BH là phần trách nhiệm dân sự phát sinh của ng đc BH đvới ng bịthiệt hai (một ng thứ 3 khác) nên trong loại BH này ng đc BH là ng có trách nhiệm dân sựcần đc bảo đảm thường chính là ng tham gia BH Còn ng thụ hưởng quyền lợi BH lại là
ng thứ 3 khác Người thứ 3 trong BHTNDS là những ng có tính tingj, TS bị thiệt hạitrong sự cố BH và đc quyền nhận bồi thường từ cty BH với tư cách là ng thụ hưởng Ngthứ 3 có qhệ về mặt TNDS với ng đc BH nhưng chỉ có mqh gián tiếp cới cty BH
Trách nhiệm bồi thường của BH căn cứ vào các thiệt hại thực tế xảy ra đvới ng thứ
ba Vì vậy, BHTNDS cũng đc coi là BH thiệt hại như BHTS và cũng áp dụng một sốngtắc như: Ngtắc bồi thường, ngtắc thế quyền hợp pháp
CÂU 11: Các bên liên quan trong hợp đồng BH
1 Khái niệm
HĐBH là một văn bản pháp lý qua đó doanh nghiệp BH cam kết sẽ chi trả hoặc bồithường cho bên được BH khi có sự kiện BH xảy ra gây tổn thất, ngước lại bên mua BHcảm kết trả khoản phí phù hợp với mức trách nhiệm và rủi ro mà doanh nghiệp BH đãnhận
HĐBH có những điểm cần chú ý sau :
- Trong HĐBH có 2 bên: bên BH (Các DNBH ) và bên mua BH (người tham giaBH)
- HĐBH bao gồm có 3 loại HĐBH chính :
+ HĐBH tài sản là văn bản thỏa thuận giữa DNBH và người tham gia BH nhằm
bảo đảm cho tài sản của người được BH gồm vật có thức, tiền, giấy tờ giá trị được bằngtiền và các quyền tài sản
+ HĐBH trách nhiệm dân sự là văn bản thỏa thuận giữa các DNBH và người tham
gia BH nhằm bảo đảm cho cá trách nhiệm dân sự có thể phát sinh của người được BH vớingười thứ 3 theo quy định pháp luật
+ HĐBH con người là văn bản thỏa thuận giữa DNBH và người tham gia BH
nhằm bảo đảm cho tuổi thọ, tính mạng tình trạng sức khỏe của người được BH và tai nạn
có thể xảy ra với người được BH
2 Chủ thế và trách nhiệm của các bên trong HĐBH
- Các chủ thể có liên quan
+ Doanh nghiệp BH : Tổ chức, cá nhân có đầy đủ tư cách pháp nhân được NN cho
phép tiến hành hoạt động kinh doanh BH, đc thi phí để lập quỹ BH và chịu trách nhiệmbồi thường hay chi trả cho bên đc BH khi sự kiện BH xảy ra
+ Người tham gia BH : là tổ chức hoặc cá nhân ký kết HĐBH với DNBH và đóng
phí BH
+ Người được BH : Tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng
hoặc tình trạng sức khỏe được BH theo HĐBH
Trang 20+ Người thụ hưởng : tổ chức, cá nhân được người tham gia BH chỉ định trong
HĐBH sẽ nhận sự tài trợ và bồi thường từ DNBH
- Trách nhiệm các bên trong HĐBH
Các bên trong HĐBH có một số trách nhiệm rang buộc chủ yếu sau:
Đối với DNBH, trách nhiệm chính là giải quyết bồi thường chi trả khi sự kiện BH
xảy ra gây tổn thất Việc thanh toán phải đảm bảo nhanh chóng kịp thời và hợp lý Ngoài
ra DNBH còn có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin mà bên mua BH cung cấp Trongquá trình thực hiện hợp đồng, DNBH phải có trách nhiệm đè phòng hạn chế các tổn thất
có thể xảy ra Nếu có bất kỳ sự thay đổi nào ảnh hưởng đến viẹc thựchiện HĐBH vàquyền lợi của bên mua BH thì DNBH phải thông báo cho bên mua biết
Đối với bên tham gia BH: Phải trả phí đầy đủ, đúng kì hạn, khai báo rủi ro trung
thực, chính xác các câu hỏi có kiên quan đến đối tượng BH Phải thông báo kịp thời,chính xác, trung thực khi mà rủi ro được BH xảy ra Ng tham gia BH phải có trách nhiệmthực hiện các biện pháp cần thiết để đề phòng hạn chế tổn thất
CÂU 12: Giá trị BH, số tiền BH, phí BH.
1 Giá trị BH
Giá trị BH đc hiểu là gtrị của đối tương đc BH Trong BHTM cso 3 nhóm đốitượng đc BH là TS, TNDS và con ng TNDS là 1 khái niệm trừu tượng, chưa xác định cụthể khi ký hợp đồng BH, còn đối tượng đc BH là tính mạng, sức khoẻ của con ng là vôgiá, ko đc đánh giá thành tièn Do vậy, khái niệm GTBH ko đc sd trong BHTNDS cũngnhư trong BHCN mà chỉ đc xem xét trong BHTS
Như vậy, GTBH chính là gtrị của các TS đc BH và nó đc lấy làmcăn cứ để xđSTBH và phí BH Ví dụ, GTBH trong 1 HĐBH vật chất xe ô tô là gtrị của ô tô tính vàothời điểm nhận BH, hoặc GTBH là của ngôi nhà trong BH hảo hoạn…
2 Số tiền BH
STBH là khoản tiền đc xđ trong HĐBH thể hiện giới hạn trách nhiệm của cty BH.Điều đó có nghĩa là, trong bất kỳ TH nào, STBT hay số tiền chi trả cao nhất của cty BHcũng chỉ bằng STBH
Khái niệm: Phí BH là số tiền mà người tham gia BH phải trả cho công ty BH để
đổi lấy sự bảo đảm trước các rủi ro chuyển sang cho công ty BH
Cơ cấu của phí BH : gồm 2 phần
P = f + d Trong đó : P : phí BH toàn bộ
f : Phí thuần
d : Phụ phí
Trang 21- Phí thuần : là khoản phí phải thu cho phép công ty BH đảm bảo chi trả, bồi
thường cho các tổn thất được BH có thể xảy ra Nó được căn cứ vào các yếu tố:
+ Xác suất xảy ra rủi ro
+ Cường độ tổn thất
+ STBH
+ Thời hạn BH
+ Lãi suất đầu tư
- Phụ phí : là khoản chi cần thiết đển DNBH đảm bảo cho các khoản chi trong hoạt
động nghiệp vụ BH, bao gồm :
+ Chi hoa hồng
+ Chi quản lý hành chính
+ Chi đề phòng hạn chế tổn thất
+ Chi thuế nhà nước
Tuy nhiên, thực tế mức phí BH thường được tính Căn cứ vào STBH và tỷ lệ theocông thức :
a, Khái niệm và nguồn gốc của rủi ro
Rủi ro là những sự cố ngẫu nhiên, bất ngờ, là những mối đe dọa nguy hiểm mà khixảy ra thì gây tổn thất cho đối tượng BH
* Rủi ro có thể do các nguyên nhân:
- Thiên tai : là những hiện tượng do thiên nhiên gây nên như biển động, bão, giólốc, sét đánh,
- Tai nạn bất ngờ : tàu bị mắc cạn, bị đắm, đâm phải đá ngầm, phương tiện bị lật
đổ, bị mất tích, bị cháy, nổ,
- Tai nạn bất ngờ và các nguyên nhân khách quan khác : hàng bị đổ vỡ, thiếu hụt,
rò rỉ, mất trộm,
- Do các hiện tượng xã hội gây ra như : chiến tranh, đình công, bạo động, bắt giữ
- Do bản chất của hàng hóa như nội tỳ hoặc ẩn tỳ
* Nguyên tắc là “không có rủi ro thì không có BH”, bởi thế BH định nghĩa rủi ro là
“sự không chắc chắn về tổn thất” Vì vậy, cần hiểu rằng tổn thất nào chắc chắn xảy ra thìkhông có rủi ro
Khi xem xét các rủi ro gây nên tổn thất, người ta cần đặc biệt quan tâm đến những
“nguy cơ” Nguy cơ ở đây được hiểu là điều kiện cấu tạo khả năng làm gia tăng tổn thấtcho một hiểm họa nào đó Chẳng hạn như : việc bất cẩn trong quản lý, tàu chở hàng quátrọng tải, xa lộ xấu, máy móc không có người coi giữ, là những nguy cơ Nguy cơ baogồm:
- Nguy cơ vật chất: là yếu tố khách quan làm gia tăng tổn thất, như sx thuốc súng
là một nguy cơ vật chất vì làm gia tăng tổn thất về cháy nổ
Trang 22- Nguy cơ đạo đức: là do ý thức chủ quan của ng được BH như ko lương thiện(manh động) gây ra
- Nguy cơ tinh thần: người được BH ko cần mẫn, lơ là trong việc bảo vệ tài sản Khi nhận BH, nếu thấy các nguy cơ vượt quá tiêu chuẩn đã dùng làm cơ sở để tínhphí BH thì người BH có thể từ chối hoặc hạn chế BH, hoặc gia tăng phí BH
b, Phân loại rủi ro
Căn cứ vào nghiệp vụ BH, người ta phân thành 3 loại: rủi ro thông thường đc BH,rủi ro ko đc BH và rủi ro đc BH trong TH đặc biệt
nhiên, bất ngờ ngoài ý muốn của con người như thiên tai, tai nạn bất ngờ,
Rủi ro thông thường gồm: Rủi ro mắc cạn, chìm đắm, cháy, đâm và, ném hàngxuống biển, mất tích, và các rủi ro phụ như rách, vỡ, gỉ, bẹp, cong vênh, hấp hơi, mấtmùi, lây hại, lây bẩn, và đập và hàng hóa khác, nước mưa, hành vi ác ý, trộm, cắp, cướp,móc cẩu
- Rủi ro không được BH (còn gọi là rủi ro loại trừ): là những rủi ro xảy ra có tínhchất đương nhiên, chắc chắn, hoặc do lỗi của người được BH như hao mòn tự nhiên, haohụt tự nhiên, do bản chất của hàng hóa, do bao bì không đầy đủ, do hành động xấu củangười được BH, những tổn thất mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ, Ngoài ra, còn cócác rủi ro loại trừ như do các vụ nổ hạt nhân, nguyên tử, sử dụng chất phóng xạ
- Rủi ro đc BH trong TH đặc biệt: Rủi ro do chtranh, đình công, bạo loạn (gọichung là rủi ro chtranh) thường ko nhận đc BH Trong TH chủ hàng yêu cầu, rủi rochtranh sẽ đc nhận BH kèm theo rủi ro thông thường đc BH với đk trả thêm phụ ơhis đặcbiệt
Các rủi ro đc BH phải là NN trực tiếp gây ra tổn thất Việc phân biệt NN trực tiếp,
NN gián tiếp có vai trò quan trọng để xđ rủi ro gây tổn thất có phải rủi ro đc BH hay ko.Những tổn thất nào có NN trực tiếp là rủi ro đc BH gây ra mới đc bồi thường
CHÚ Ý: Trong hàng hải, các rủi ro thông thường được BH (không bao gồm rủi ro
chiến tranh, đình công, các rủi ro này được BH theo hợp đồng BH riêng) có thể chiathành 2 nhóm như sau:
* Nhóm thứ nhất, gồm các rủi ro sau:
- Mắc cạn (grounding): là hiện tượng đáy tàu tiếp xúc với đáy biển hoặc chạm vàomột chướng ngại ngầm khác làm cho tàu không chạy được nữa Trường hợp tàu chỉ bịgác cạn thông thường do thủy triều xuống, hoặc tàu chạm đáy rồi lại tiếp tục hành trìnhđược, tàu bị cạn ở những nơi mà BH đã qui định không thể cho tàu loại đó qua lại thìkhông được coi là bị cạn và không thuộc phạm vi trách nhiệm của BH Mắc cạn phải làmột tai nạn rủi ro, nghĩa là mắc cạn phải thỏa mãn hai điều kiện là tàu bị loại khỏi hànhtrình bình thường, và là hiện tượng bất thường không thể lường trước
- Chìm đắm và lật úp (sinking and capsize): là hiện tượng phương tiện vận chuyển
bị chìm hẳn xuống dưới mặt nước và đáy tàu chạm đáy biển làm cho tàu không thể chạyđược và hành trình coi như bị chấm dứt Đắm làm cho toàn bộ phần nổi của tàu bị chìmsâu trong nước, nếu chỉ bị ngập một phần hoặc còn bập bềnh trên mặt nước thì khôngđược coi là đắm, trừ khi chứng minh được do bản chất của hàng hóa mà tàu không thể