1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

CÂY SƠN TRA TRONG ÐÔNG VÀ TÂY Y pptx

5 277 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 111,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂY SƠN TRA TRONG ÐÔNG VÀ TÂY Y Sơn tra, còn gọi là cây chua chát, cây gan hay Sán-sà Tày, Co-sam-sa Thái.. Từ hàng chục thế kỷ qua tại Ðông và Tây phương, người ta đã dùng sơn tra làm

Trang 1

CÂY SƠN TRA TRONG ÐÔNG VÀ TÂY Y

Sơn tra, còn gọi là cây chua chát, cây gan hay

Sán-sà (Tày), Co-sam-sa (Thái) Sơn tra thuộc

nhóm Crataegus, họ thực vật Rosaceae với

khoảng 280 giống Phát xuất trong vùng khí hậu

ôn hòa Bắc bán cầu, tập trung tại Ðông Á, châu

Âu và Ðông bắc Mỹ Từ hàng chục thế kỷ qua tại Ðông và Tây phương, người ta đã dùng sơn tra làm thực phẩm và làm thuốc Hiện nay sơn tra (Hawthorn) đang được sử dụng rộng rãi tại

Pháp, Anh, Ðức, Nga và các nước châu Âu khác

để làm thuốc trị bệnh tim mạch, còn ở Trung Hoa

và nước ta thì được dùng làm thuốc chữa các

chứng về đường tiêu hóa

CÁC LOẠI SƠN TRA (CRATAEGUS)

Có một số khác biệt nhỏ giữa các loại sơn tra dùng làm thuốc trong Ðông và Tây y: 1 Crataegus

pinnafidata: Còn được gọi là Bắc sơn tra Cây thuộc loài thảo cao khoảng 6m, cành nhỏ có gai Lá dài 5-10cm, rộng 4-7cm, mép có răng cưa, chia thành 3-5 thùy; Cuống lá cỡ 2-6cm Hoa có cánh màu trắng họp thành tán Quả tròn, đường kính 1-2cm, khi chín màu đỏ thắm 2 Crataegus cuneate: Còn gọi là Sơn

Trang 2

tra hoang, Nam sơn tra Cây cao đến 14m, có gai Lá

có 3-7 thùy, dài 2-6cm, rộng 1-5cm Hoa mọc thành tán màu trắng Quả tròn 1-2,5cm, khi chín màu vàng hay đỏ 3 Crataegus laevigata (oxyacantha): Cây

nhỏ có khi mọc thành bụi, cành có gai Cao khoảng 7,5m Lá mọc đối, xẻ thùy không sâu Hoa màu

trắng hồng, mọc thành tán Quả dạng thon màu đỏ,

có 2 đến 3 hạt Ðây là cây chính được dùng làm

dược liệu 4 Crataegus monogyna: Thường trồng để lấy quả Lá xẻ 3 thùy rõ rệt màu xanh đậm, mép lá

có răng rõ nơi đỉnh Hoa trắng có mùi thơm, trổ vào tháng 5-6 Quả đỏ chỉ có 1 hạt

THÀNH PHẦN HÓA HỌC

Lá, hoa, vỏ cây và quả chứa một số hoạt chất chính thuộc nhóm Flavonoids như hyperoside và vitexin-rhamnoside; leucoanthocyanidins và lactone Sơn tra

có chứa: * 1-3% procyanidins loại oligomeric

Thành phần thay đổi tùy loài và tùy bộ phận của cây Trong C.monogyna và C laevigata: búp hoa chứa nhiều flavonoid và hyperoside hơn, trong lá cũng có nhiều flavonoid; lá non chứa nhiều vitexin

2-rhamnoside * Những hoạt chất khác: Amines (có loại có hoạt tính với tim) catecholamins (catechin, epicatechin), các acid phenol carboxylic (như

Trang 3

chlorogenic acid, caffeic acid), sterols

(beta-sitosterol) và purines

SƠN TRA TRONG Y HỌC PHƯƠNG TÂY

Sơn tra được dùng khá phổ biến tại các nước châu

Âu, nhất là ở các nước Ðông Âu như Nga, Ba Lan, Hungari Tại các nước Tây Âu như Ðức, Anh, Thụy

Sĩ, Pháp, sơn tra (Hawthorn) được dùng làm thuốc chữa bệnh tim mạch Chất chiết xuất từ Hawthorn có mặt trong hơn 100 đặc chế dùng trị bệnh tim mạch như Crataegutt, Eurython, Esbericard, Cratamed Ðặc tính dược lực học Do có tác dụng khá mạnh trên

cơ tim, nên sơn tra đã được sử dụng trong các trường hợp suy tim và giúp tăng hoạt động của cơ tim Các amines của cây có tác dụng bổ tim Còn các

flavonoids gây sự gia tăng lưu lượng máu qua động mạch vành, làm tăng nhịp tim,?ngoài ra có tác động làm giãn mạch, nhất là mạch vành Sơn tra có tác

dụng tốt trong các trường hợp nghẽn mạch máu tim Chất flavonoid monoacetyl-vitexin-rhamnoside có đặc tính chống nghẽn mạch rõ rệt khi thử nghiệm trên thú vật (in vitro), ghi nhận khả năng cải thiện máu qua cơ tim Sơn tra cũng giúp cải thiện việc đưa oxygen về tế bào cơ tim (thử nghiệm trên chó)

Trong các trường hợp xơ vữa động mạch

Trang 4

(Atherosclerosis), sơn tra cho thấy có tác dụng

phòng ngừa và chữa trị khá tốt Thử nghiệm trên thú vật cho thấy khả năng làm hạ cholesterol,

triglycerides, độ nhầy của máu và fibrinogen Thuốc rượu sơn tra giúp tăng bài tiết acid mật và làm giảm tổng hợp cholesterol ở chuột Công dụng Sơn tra

được chỉ định trong các trường hợp: Suy tim độ I và

II, đau thắt ngực, tim người cao niên, nhịp tim chậm Liều tối thiểu mỗi ngày là 5mg flavones (tính theo Hyperoside) hay 10mg flavonoids (tính theo lượng phenols), hay 5mg procyanidins oligomeric (tính

theo epicatechin) Có thể tự pha chế trà dược như sau: Khuấy 1 thìa cà phê bột lá và hoa trong 150ml nước đun sôi; Ðể ngâm trong 20 phút, gạn lấy nước, chia thành 1-3 lần uống trong ngày để chữa trị chứng tức ngực

SƠN TRA TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Dược học cổ truyền Trung Hoa đã dùng quả sơn tra (Shan zha) làm thuốc từ hàng ngàn năm và phân chia

vị thuốc thành Bắc sơn tra (C pinnatifida) Thu hái tại các tỉnh phía Bắc Trung Hoa như Sơn Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc Trái lại Nam sơn tra (C.cuenata) được thu hái tại Quảng Ðông và Quảng Tây Theo Ðông

Trang 5

dược, sơn tra (quả) có vị chua/ngọt, tính ấm nhẹ, tác dụng vào các kinh mạch thuộc can, tỳ và vị Sơn tra

có các công dụng sau: - Chữa trị chứng đầy bụng ăn không tiêu, đau bụng, tiêu chảy - Ðau bụng do ứ

huyết sau khi sinh - Chữa cao huyết áp

Ngày đăng: 11/08/2014, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w