1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kỹ thuật chăm sóc cà phê ppsx

27 308 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 531,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài các yếu tố đa lượng, cây cà phê còn cần các chất trung lượng là lưuhuỳnh, can-xi, ma-giê và các chất vi lượng như bo, kẽm, đồng.v.v.Đối với các vườn cà phê được thâm canh cho năng

Trang 1

PHẦN I : KỸ THUẬT CHĂM SÓC CÀ PHÊ BÀI 1 BÓN PHÂN CHO CÀ PHÊ

I.Bón phân :

1 Nhu cầu dinh dưỡng của cây cà phê :

Cà phê là cây có yêu cầu dinh dưỡng cao, đòi hỏi được bón phân đầy đủ đểcây cho năng suất cao và ổn định Ngoài những loại phân hoá học thường dùng nhưNPK, cà phê còn cần các chất đa lượng, trung và vi lượng Đối với cà phê trongthời kì kiến thiết cơ bản, bộ rễ còn yếu, nên cây cà phê cần một lượng phân lân dồidào để kích thích sự phát triển của bộ rễ Khi cây cho thu hoạch thì cần đạm và kalinhiều hơn

Ngoài các yếu tố đa lượng, cây cà phê còn cần các chất trung lượng là lưuhuỳnh, can-xi, ma-giê và các chất vi lượng như bo, kẽm, đồng.v.v.Đối với các vườn

cà phê được thâm canh cho năng suất cao cần đặc biệt chú ý tới các yếu tố trung, vilượng vì các loại phân bón khoáng thường thiếu các chất này Hiện tượng thiếukẽm phổ biến ở nhiều nước trồng cà phê trên thế giới.Ở Tây Nguyên, hiện tượngthiếu kẽm khá phổ biến trên cả cà phê vối và cà phê chè

2 Bón phân cho cà phê :

*Phân hữu cơ

Phân hữu cơ là loại phân tốt nhất cho cây trồng Nó có đặc tính mà phân hoáhọc không có được Ngoài tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, phân hữu

cơ còn cải tạo được lý, hoá, sinh tính của đất, tức là cải thiện được môi trường đất.Phân hữu cơ bao gồm phân chuồng, phân than bùn, phân rác, vỏ cà phê , nóichung là các vật liệu có nguồn gốc hữu cơ thông qua ủ và chế biến để tăng cườngchất lượng

Trong giai đoạn cà phê kiến thiết cơ bản ta đào hố tròn theo vành tán cà phê,sau đó bón phân và lấp đất

Đối với cà phê vối giai đoạn kinh doanh thì ta tiến hành đào rãnh ở mép bồn,

cụ thể là đào rãnh ở hai bên sâu 25 – 30 cm và rộng 30 cm, sau đó ta bón phân hữu

cơ kết hợp với tàn dư thực vật trên lô Lần bón tiếp theo ta tiến hành đào rãnh vàbón phân ở hai phía còn lại

Cà phê chè được trồng với mật độ dày nên cách bón phân chuồng thích hợpnhất là dùng lưỡi cày rạch 1 hàng sâu 30 – 40 cm giữa 2 hàng cà phê, bỏ phânchuồng vào rãnh kết hợp với việc cào hết cỏ rác trên lô vào rãnh rồi lấp đất Việc

Trang 2

bón phân chuồng nên tiến hành vào đầu cho tới giữa mùa mưa, và có thể cày luânphiên các hàng cà phê trong suốt chu kỳ của vườn cây.

Khi năng suất cao hơn 3 tấn, ngoài lượng phân bón đã nêu ở bảng trên, ta cầnphải bổ sung thêm lượng phân bón cho 1 tấn nhân bội thu/ha như sau : 150 kg U-rê+ 130 kg Ka-li + 100 kg Lân Văn Điển

Nếu dùng phân NPK hỗn hợp thì trong năm trồng mới và các năm kiến thiết

cơ bản nên dùng các loại phân NPK có thành phần N và P cao, nhưng bắt đầu từkhi vườn cà phê cho nhiều quả nên dùng các loại phân NPK có thành phần N và kcao ngang nhau, lân thấp hơn ví dụ, ta có thể bón như sau:

Cà phê vối

Năm 4 và các năm kinh doanh 16-8-18 1500-1600

Từ năm thứ 2,3 và ở những năm kinh doanh, ta chia lượng phân trên ra làm 3phần để bón trong mùa mưa, lần giữa mùa mưa bón nhiều hơn lần đầu và lần cuối

Trang 3

Vào mùa khô bón bổ sung 200kg U- rê khi tưới nước Tương tự như bón phân đơn,khi năng suất vượt 3 tấn nhân/ha, lượng phân bổ sung cho 1 tấn nhân bội thu/ha là400-450kg NPK (16-8-16).

Ngoài các loại phân bón đa lượng, ta cần bổ sung vi lượng cho vườn cà phê.Các chất vi lượng bo và kẽm có tác dụng tăng năng suất cà phê ở nhiều vùng trông

ca phê trên thế giới cũng như ở nước ta Thông thường, chất vi lượng được phunqua lá sẽ hiệu quả hơn là bón vào đất

BÀI 2 TƯỚI NƯỚC CHO CÀ PHÊ 1.Tác dụng của tưới nước

-Ở những vùng trồng cà phê có mùa khô hạn kéo dài trên 3-4 tháng thì việctưới nước quyết định đến khả năng sinh trưởng và năng suất cà phê Tưới nước cótác dụng duy trì sinh trưởng của cây cà phê, đồng thời là điều kiện để cây ra hoa.Sau một thời kì khô hạn để phân hóa mầm hoa, cây được tưới nước đủ sẽ ra hoatập trung Trong giai đoạn nở hoa, cây cần một lượng nước lớn hơn nhiều so vớigiai đoạn khác, vì lúc này quá trình xảy ra rất mạnh Mặt khác ở giai đoạn này nếuthiếu nước kèm nhiệt độ không khí cao, ẩm độ không khí thấp, hoa cà phê sẽ pháttriển bất bình thường và thành hoa sao, không thụ phấn được Cũng có khi hoa đãnhú mỏ sẻ nhưng bị thiếu nước sẽ chuyển thành hoa tranh màu tím nhạt rồi khôrụng Thiếu nước trầm trọng trong giai đoạn này có thể khiến cho hoa khô, thậmchí gây chết cành

2 Nguyên tắc tưới nước

- Tưới đúng lúc: Tưới muộn quá cây đã bị suy kiệt, rụng lá, khô cành nhưng

nếu tưới sớm quá khi cây chưa phân hóa mầm hoa đầy đủ sẽ làm hoa nở lai rai,không tập trung và gây trở ngại cho công tác thu hoạch sau này Ngoài ra, còn làmtăng chi phí đầu tư cho tưới nước

- Tưới đủ nước: Để hoa nở tốt, nếu tưới thiếu nước dẽ dẫn đến tình trạng hoachanh, chết cành

3 Các biện pháp tưới nước:

- Tưới gốc: có lợi là trang thiết bị rẻ tiền, tổn thất nước ít, ít tốn nhiên liệu, chiphí thấp, áp dụng kỹ thuật tưới gốc cần vét sửa tạo bồn xung quanh gốc hàng năm

để giữ nước khi tưới Kỹ thuật này có nhược điểm tốn công lao động và vận hànhnặng nhọc Đây là kỹ thật đang được áp dụng phổ biến nhất trong sản xuất cà phê ởviệt nam

Trang 4

- Tưới phun mưa : có ưu điểm là tạo được điều kiện tiểu khí hậu mát mẻ trongvườn cây phù hợp với yêu cầu sinh lý của cây cà phê, thao tác vận hành dể dàng, íttốn công lao động Trở ngại của kỹ thuật này là trang thiết bị đắt tiền, tổn thất nướckhá lớn nhất là đối với các lô cà phê kiến thiết cơ bản và khi có gió lớn, tiêu tốnnhiên liệu lớn do đòi hỏi vòi phun phải có áp suất đủ mạnh ở một số hộ do thiếucông lao động , người ta cũng đã dùng kỹ thuật tưới phun mua được cải tiến chophù hợp với quy mô nông hộ, 01 đông cơ công suất từ 15 mã lực có thể làm quay 2cây béc tưới Tuy vậy, nếu tưới phun mưa theo kiểu nông hộ thì cần chú ý tưới dặm

ở các vùng cây mưa phun sót

4 Định lượng nước tưới và chu kỳ tưới

Tuỳ điều kiện khí hậu ở từng vùng để xác định chế độ tưới thích hợp Nhiềuvùng trồng cà phê chè ở nước ta có điều kiện khí hậu ôn hoà, mùa khô không kéodài khắc nghiệt nên chỉ cần tưới ít Nhiều vùng khác, đặc biệt là ở Tây nguyênthường tưới từ 3-4 lần trong mùa khô

Trong năm trồng mới và thời kỳ kiến thiết cơ bản, ta tưới 300-400m3/ha/lầnvới chu kỳ tưới 15-20 ngày

Trong thời kinh doanh, ta tưới 500-600m3/ha/lần, riêng đợt đầu có thể tướimột lượng lớn hơn, khoảng 600-800m3/ha

- Năm 1 (trồng mới):120lít/gốc, chu kỳ 22ngày/lần

- Năm 2 TKCB: 240 lít/gốc, chu kỳ 22-24ngày/lần

- Năm 3 (thu bói 2,5 tấn nhân/ha):320lít/gốc, 22-24 ngày/lần

BÀI 3 KỸ THUẬT CƯA ĐỐN GHÉP CẢI TẠO 1.Kĩ thuật cưa

-Thời vụ cưa: vào các tháng 3, 4, 5 và ghép vào tháng 5, 6, 7 nhưng thời vụ tốtnhất là cưa vào tháng 3, ghép vào tháng 5, kết quả cho tỉ lệ sống cao nhất trên 90%.Tuy nhiên, cũng có thể cưa sớm sau khi thu hoạch (tháng 1, 2), kết hợp với cắtcành tạo hình để thuận tiện cho công tác thu gom cành khô và vệ sinh đồng ruộng,song việc ghép sớm trong tháng 3, 4 khi chưa có mưa thường phải tưới một lần đểđảm bảo độ ẩm đất trước khi ghép và nên ghép theo kiểu quấn kín (như ghép điều).Cưa cách mặt đất 30 - 35 cm, mặt cưa theo hướng bắc-nam 25 - 30, nuôi 2 - 3chồi khoẻ phân bố đều quanh gốc Sau khi cưa ta xới xáo rễ, tạo bồn, bón phân vàtưới nước đầy đủ để cho chồi phát triển khoẻ mạnh Khi chồi mọc từ gốc có 2 – 3cặp lá là ta có thể ghép được

Trang 5

2 Kĩ thuật ghép

Chồi ghép: Sử dụng chồi ghép mang một lóng, có một cặp lá bánh tẻ và vùngđỉnh sinh trưởng mang một cặp lá non chưa xoè Chồi ghép được thu từ vườn nhânchồi có chăm sóc, tưới nước, bón phân đầy đủ Chồi đã thuần thục trong điều kiệnánh sáng tự nhiên, không sử dụng chồi quá non hoặc quá già sẽ gây tỷ lệ chết cao.Không bón phân hoá học (urê ) trước khi cắt chồi 7- 10 ngày Chồi ghép dược thutrực tiếp trên cây mẹ ngoài đồng đôi khi chưa thích nghi với ánh sáng, lóng dài, tếbào mọng nước nên dễ chết, tỉ lệ sống thấp

Thao tác ghép tương tự như ghép nêm nối ngọn trong vườn ươm

- Hãm ngọn :

+ Lần đầu khi cây cao 1,3 - 1,4m, hãm ngọn thân ở độ cao 1,2 – 1,3m

+ Lần thứ hai, khi có 50-70% cành cấp 1 phát sinh cành cấp 2 tiến hành nuôichồi vượt trên đỉnh thân của tán cũ Mỗi thân nuôi một chồi cao 0,4m và duy trì độcao của cây khoảng 1,7 – 1,8m Các chồi vượt phải được cắt bỏ thường xuyên

b Cắt cành :

Cây cà phê trong thời kỳ kinh doanh được cắt cành 2 lần trong năm

* Lần đầu :

Ngay sau khi thu hoạch gồm các công việc :

- Cắt bỏ các cành vô hiệu (cành khô, cành bị sâu bệnh, cành nhỏ yếu…), cắt

bỏ một số cành thứ cấp ở phần trên của tán, cành quá gần nhau, cành mọc ngượcvào trong thân

- Cắt ngắn các cành già yếu để tập trung dinh dưỡng nuôi các cành thứ cấpbên trong

- Cắt bỏ các cành mọc chạm mặt đất

* Lần thứ 2 :

Vào giữa mùa mưa, tiến hành tỉa bớt các cành thứ cấp mọc ở các vị trí khôngthuận lợi (nằm sâu trong tán lá, mọc thẳng đứng, mọc ngược vào thân, mọc chenchúc nhiều cành thứ cấp trên cùng một đốt) để tán cây được thông thoáng, tập trungdinh dưỡng nuôi cây

-BÀI 4 SÂU BỆNH HẠI CÀ PHÊ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Trang 6

I.Các biện pháp cơ bản quản lý sâu bệnh hại cà phê

1 Biện pháp canh tác kỹ thuật

Sử dụng thực tiễn canh tác có liên quan tới sản xuất cây trồng, hạn chế tối đamôi trường sống và sinh sản của các loại dịch hại, đồng thời tạo môi trường thuậnlợi cho cây trồng phát triển khỏe, có sức chống dịch hại cao

Biện pháp kỹ thuật được hiểu là việc sử dụng các kỹ thuật canh tác có liênquan tới sản xuất cây trồng nhằm hạn chế tối đa môi trường sống và sinh sản củacác loài dịch hại, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho cây trồng phát triển khỏe,

có sức chống dịch hại cao Bao gồm các bước như: Chọn giống (chọn giống chịusâu bệnh, ít bệnh, không nằm trong vùng đang có bệnh), Nhân giống (đặc biệt chú

ý đến gốc ghép, cành ghép vì đây là yếu tố chi phối chủ yếu đến “sức khỏe” củacây ghép)…

Sử dụng các biện pháp trong mô hình IPM, áp dụng nhằm giảm thiểu sâubệnh, nâng cao hiệu quả cây trồng như: chọn mật độ cây thích hợp, tỉa thoáng táncây, xen canh, bón phân cân đối đầy đủ, bao quả, tích cực vệ sinh vườn ruộng,dùng bẫy diệt côn trùng

a biện pháp sử dụng giống

Sử dụng các loại giống mà khi dịch hại tấn công thường ít hay không gây ảnhhưởng về mặt kinh tế

b Đấu tranh sinh học và cách phòng trừ sinh học

Trong hệ sinh thái luôn có mối quan hệ dinh dưỡng, các thành phần trongchuỗi dinh dưỡng luôn khống chế lẫn nhau để chúng hài hòa về số lượng, đó là sựđấu tranh sinh học trong tự nhiên Trong sản xuất nên lợi dụng đặc tính này để hạnchế sự can thiệp của con người

Tạo môi trường thuận lợi cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên củadịch hại phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại:

-Bảo vệ thiên địch tránh khỏi độc hại do dùng thuốc hóa học bằng cách: sửdụng những loại thuốc chọn lọc, thuốc có phổ tác động hẹp, dùng thuốc khi thậtcần thiết và phải dựa vào ngưỡng kinh tế…

-Tạo nơi cư trú cho thiên địch sau vụ gieo trông bằng cách trồng xen cây họđậu trên bờ ruộng, làm bờ rạ cho thiên địch ẩn nấp…

- Áp dụng các kỹ thuật canh tác hợp lý tạo điều kiện cho thiên địch phát triển

- Ưu tiên sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học:

Trang 7

c Biện pháp điều hòa

Tổ chức việc kiểm dịch, khử trung nhằm ngăn chặn dịch hại

2 Biện pháp sử dụng hóa chất khi cần thiết và hợp lý

Đây là biện pháp cuối cùng sau khi áp dụng các biện pháp trên không có hiệuquả, khi mật độ dịch hai phát triển đến ngưỡng gây thiệt hại về kinh tế

- Sử dụng thuốc theo ngưỡng kinh tế: Tiết kiệm được chi phí, giữ cân bằngsinh học trên đồng ruộng, hạn chế ô nhiễm môi trường

-Sử dụng an toàn với thiên địch: Lựa chọn thuốc ít độc hại, chọn thời gian vàphương thức xử lý, ít ảnh hưởng với thiên địch

Tuy nhiên, khi sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ theo nguyên tắc 4 đúng (đúnglúc, đúng cách, đúng đối tượng và đúng liều lượng), đọc kỹ hướng dẫn sử dụngtrước khi dùng

II Các loại sâu hại chính và biện pháp phòng trừ

1 Rệp vẩy xanh (Coccus viridis Green) và rệp vẩy nâu (Saissetia hemisphaerica Targ)

Rệp vẩy xanh và vẩy nâu thường xuất hiện quanh năm Tác hại chủ yếu củacác loại rệp này là chích hút các bộ phận khí sinh nhất là phần non như lá non, chồinon, quả non làm các bộ phận này phát triển kém, lá vàng, cành khô và quả rụng

Đa số các loại rệp này thường tiết ra mật ngọt Đây là môi trường thuận lợicho nấm muội đen phát triển bao phủ trên mặt lá, cành và cả chùm quả làm hạn chế

sự phát triển của các cơ quan này Chất mật ngọt này cũng là thức ăn của kiến, do

đó nơi nào có rệp là có kiến và kiến là nguồn lây lan của rệp Rệp trưởng thànhkhông di chuyển được, rệp con di chuyển được nhưng cũng không đi xa Kiến sẽtha rệp từ nơi này sang nơi khác, kiến còn bảo vệ rệp khi bị thiên địch tấn công Do

đó nếu không có kiến rệp sẽ không phát triển được

Phòng trừ

-Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ để hạn chế sự phát triển của kiến

-Thường xuyên theo dõi sự gây hại của rệp trên đồng ruộng và chỉ phun thuốcnhững cây có rệp khi cần thiết

-Sử dụng một trong các thuốc sâu như: Confidor 700WG (0,015%), Bi5840EC, 50EC, để phun trừ rệp…

- Thường xuyên thay đổi chủng loại để tránh lờn thuốc

Trang 8

2 Rệp sáp (Pseudococcus spp )

Gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên trongnhững năm gần đây, có những năm đã bùng phát thành dịch trên diện rộng Đâycũng là đối tượng rất khó phòng trị Trên cây cà phê, rệp sáp gây hại chủ yếu trênquả và dưới rễ

Trên quả, rệp sáp sống chủ yếu giữa các chùm quả, chích hút cuống quả vàquả non làm quả khô và rụng Sáp của rệp có thể bao phủ cả cành và quả cà phêlàm các bộ phận không thể phát triển được Ngoài ra lớp sáp này còn ngăn cảnkhông cho thuốc tiếp xúc với rệp, gây khó khăn trong việc phun thuốc phòng trừ.Cũng như rệp vẩy xanh và vẩy nâu, đi đôi với rệp sáp là nấm muội đen và kiến quả

cà phê sau khi bị rệp sáp gây hại sẽ bị muội đen và như vậy nếu không bị rụng dorệp sáp thì quả cũng khó phát triển vì nấm muội đen bao bọc quanh quả

Rệp sáp chích hút ở phần cổ rễ và thân rễ tạo ra vết thương, mở đường cho cácloài nấm trong đất xâm nhập và gây hiện tượng thối rễ Rệp thường tấn công ở cỗ

rễ trước sau đó lan dần ra các rễ tơ và rễ thứ cấp Rệp sáp kết hợp với nấm

Polyporus sp tạo ra một bộ phận gọi là măng sông bao quanh rễ cây Trong các

măng sông này, rệp sinh sống và chích hút rễ cây làm rễ cây không phát triển Lớpmăng sông này giúp rệp có thể chống chịu được những thay đổi của điều kiện ngoạicảnh và tồn tại lâu trong đất

Rệp sáp hại rễ xuất hiện quanh năm nhưng chủ yếu phát triển trong mùa mưa.Thời gian rệp gây hại nặng ngất là giữa mùa mưa

Phòng trừ

-Rệp sáp hại quả

Đối với những vùng có rệp sáp hại quả gây hại nặng trong vụ thu hoạch trướcthì cần tiến hành phun thuốc hóa học ngay sau khi thu hoạch và cắt cành để diệttrứng rệp trong cuống các mầm hoa chưa nở Có thể sử dụng một trong các loạithuốc sau : Supracid 40 EC (0,2 – 0,3%), Sutabox 75EC, Suprathion 40EC(0,2%-0,3%), phun 2 - 3 lần cách nhau 7-10 ngày Sau đó, cần phải thao dõi liên tục sựxuất hiện của rệp trên đồng ruộng

Đối với những vùng chưa bị hoặc bị rệp gây hại nhẹ cần phải thường xuyêntheo dõi sự xuất hiện của rệp trên đồng ruộng, nhất là trong những năm khô hạn, để

áp dụng các biện pháp phòng trừ kịp thời và hợp lý Nếu thấy rệp bắt đầu gây hạinặng cho một số cây thì tiến hành phun thuốc hóa học ngay Chú ý chỉ phun nhữngcây có rệp và phải phun đúng thuốc, đúng nồng độ, và đúng liều lượng Nếu khôngchẳng những rệp không chết mà còn có thể gia tăng số lượng trên đồng ruộng Hiệuquả của việc phun thuốc phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật phun thuốc do rệp nằm sâu

Trang 9

trong cuống quả lại còn được bảo vệ trong lớp sáp bên ngoài Đối với những vườn

đã bị rệp gây hại nặng, trước khi phun thuốc phải cắt và đốt các cành bị hại nặng đểdiệt bớt nguồn rệp trên đồng ruộng đồng thời tạo cho cây thông thoáng, dễ phunthuốc

- Rệp sáp hại rễ

Thường xuyên kiểm tra phần cổ rễ ở dưới mặt đất ( cách mặt đất 10cm) đểphát hiện sớm sự xuất hiện của rệp sáp Nếu thấy có rệp sáp ( trên 100con/ gốc )dùng Bi 58 40EC, 50EC, Basudin 50EC/ND, Sutabox 75EC với nồng độ 0,2%cộng thêm 1% dầu hỏa tưới cho mỗi gốc 0,5- 1 lít dung dịch và lấp đất lại… Cácthuốc nước nên pha với 1% dầu lửa tưới vào cổ rễ Đào đất đến đâu xử lý thuốc đến

đó và lấp đất lại

Đối với cây bị nặng thì nên đào bỏ và đốt

3 Mọt đục quả ( Stephanoderes hampei Ferr )

Mọt trưởng thành thường đục một lỗ tròn nhỏ cạnh núm hay giữa núm quả đểchui vào trong nhân, đục phôi nhũ tạo thành các rãnh nhỏ để đẻ trứng Sâu non ănphôi nhũ hạt Lúc đầu mọt chỉ phá hại một nhân nhưng khi số lượng mọt tăng thìhại luôn nhân còn lại Mọt còn gây hại cà phê đang lưu giữ trong kho

Mọt gây hại ở giai đoạn sâu non trưởng thành Con trưởng thành thích sốngtrong các quả chín, nhất là trong các quả khô Sau khi thu hoạch, mọt sẽ sống trongcác quả khô còn sót lại trên cây và rụng dưới đất, sau đó chuyển sang các quả xanhgià và chín đầu vụ Đối với quả non, hầu hết mọt đục vào rồi bỏ đi, tuy vậy cũnglàm cho các quả non này rụng Mọt gây hại trên cả ba giống cà phê: chè, vối và mít

Phòng trừ

Biện pháp phòng trừ có hiệu quả cao là nhặt sạch các quả khô và chín còn sótlại trên cây và dưới đất sau khi thu hoạch để cắt đứt nguồn mọt trên đồng ruộng.Bảo quản hạt ở ẩm độ dưới 13% Nếu mọt gây hại nặng phun bullstar 265,2 EC,Bulldock nồng độ 0,3% để phun trừ mọt vào giai đoạn quả xanh già, nên phun 2 lầncách nhau 7-10 ngày, có thể sử dụng Basudin 40EC (0,2 - 0,3%) để xử lý mọt

4.Sâu hồng (Zeuzera coffeae niet.)

Sâu đục vào thân hoặc canh cấp một làm lá vàng, héo, cành khô và chết Trênthân hoặc cành bị hại có một lỗ do sâu đục để chui vào thân hoặc cành Đoạn thân

và cành trên chỗ bị sâu đục dễ bị gãy Đôi khi, sâu đục sát gốc thân làm gãy cả cây

cà phê

Sâu chỉ đục từ dưới lên phía trên ngọn Trong quá trình đục, sâu thường đùncác mùn gỗ ra ngoài Đây là triệu chứng phát hiện sớm sự gây hại của sâu Sâu phá

Trang 10

hoại hầu như quanh năm Ngoài cây cà phê sâu còn gây hại trên cây bơ, chè,muồng

Phòng trừ

Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiên các lỗ sâu đục trên cây Nếu câymới héo lá nhẹ thì có thể dùng bông gòn hay giấy tẩm thuốc Bi 58 40EC, Ofatox400EC, Subatox 40EC nhét vào trong lỗ đục, sâu sẽ chết và cây bị sâu hại có thểphục hồi

-Nếu cây hay cành đã vàng, héo, chết khô thì chẻ phần thân hay cành bị gãy đểgiết sâu bên trong vì sâu có thể tiếp tục hoàn thành vòng đời trong các cây hay cành

đã khô và bay ra đẻ trứng vào thân những cây khác Phần thân còn lại sẽ phát sinhchồi vượt và chồi này sẽ được nuôi để tạo bộ tán mới cho cây

-Vì sâu chỉ gây hại rải rác trên đồng ruộng nên không cần phun thuốc trên diệnrộng

III.Các bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ

1 Bệnh gỉ sắt (hemileia vastatrix B & Br.)

Đầu tiên ở mặt dưới lá có những chấm nhỏ màu vàng lợt Các chấm này lớndần và hình thành lớp bột màu cam ở giữa vết bệnh, đó là bào tử của nấm gỉ sắt,sau đó vết bệnh bị cháy nâu đen Các vết cháy có thể liên kết với nhau làm cháytoàn bộ lá và làm cho lá rụng Nếu bị bệnh nặng cây có thể rụng hết lá dẫn đến hiệntượng khô cành, sản lượng kém và cây chết

Nhiệt độ và mưa là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triểncủa bệnh Các yếu tố khác là sự phân bố mưa, cường độ mưa, số lượng mầm bệnh

có mặt trước khi khởi đầu mùa mưa nguồn bệnh cũ đóng vai trò rất quan trọngtrong sự phát sinh và phát triển của bệnh gỉ sắt Do đó, những năm nào cây bị bệnhnặng, rụng nhiều lá thì năm sau bệnh trên cây đó sẽ phát sinh muộn hơn và bệnhnhẹ hơn Tại Tây Nguyên, bệnh phát sinh từ đầu mùa mưa (tháng 4, 5), phát triểntrong suốt mùa mưa, phát triển mạnh từ tháng 7, 8 và đạt đỉnh cao vào tháng 9,10,sau đó giảm dần

Trang 11

2.Bệnh đốm mắt cua (Cercospora cofeicola B.& Cke.)

Vết bệnh trên lá và quả thường hình tròn, ở giữa có nhiều vòng đồngtâm,chính giữa có máu xám có các chấm đen nhỏ, xung quanh màu nâu đỏ, ngoàicùng có màu vàng vết bệnh trên cành chạy dọc theo chiều dài cành Quả bị nấmgây hại nặng có thẻ bị thối đen từng phần hay toàn bộ Cây bị bệnh nặng thườngcằn cỗi, chậm phát triển, lá vàng rụng quả vàng và chín ép

Bệnh xuất hiện quanh năm, phổ biến trên các vườn chăm sóc kém, thiếu phânbón hoặc trồng trên đất xấu

Phòng trừ

Bón phân cân đối, tích cực chăm sóc tốt Trong trường hợp bệnh quá nặng cóthể phun Anvil 5SC (0,2%), tilt 250EC(0,1%), Bumper 250(0,1%) phun 2-3 lầncách nhau 15 ngày

3 Bệnh khô cành khô quả ( Collectotrichum spp.)

Trên quả, bệnh bắt đầu bằng những chấm nhỏ màu nâu trên vỏ quả, sau lanrộng ra và có màu nâu sẫm, phần bị bệnh lõm sâu xuống đây là triệu chứng đặctrưng của bệnh trên quả do nấm collectortichum gây ra Vết bệnh lan dần khắp vỏquả, ăn sâu vào trong nhân làm quả đen và rụng Bệnh cũng bắt đầu từ cuống quảhay điểm tiếp xúc giữa hai quả, những nơi mà nước có thể đọng lại

Trên cành, bệnh xuất hiện đầu tiên từ những đốt giữa của cành đầu tiên lànhững vết nhỏ màu nâu vàng, sau đó chuyển nâu và nâu sẫm Vết bệnh lan rộngkhắp chiều dài của đốt và lõm xuống so với các vùng kế bên Lá trên cành rụng dần

và chết Ở cây bị bệnh nặng, nấm tấn công cả cành lớn và thân

Bệnh làm khô quả, khô cành và chết cây Có nhiều nguyên nhân gây nên hiệntượng khô cành khô quả trên cà phê chè ở nước ta: Do nấm: collectotrichumcofeanum Noackk, tác nhân chính của bệnh CBD (Coffee Bery Disese) Do sinh lý:cây cho quả sớm, nhiều, mất cân đối giữa sinh trưởng và sinh thực dẫn đến kiệt sứckhô cành, khô quả (được gọi là bệnh Die – bach) hiện nay, bệnh khô cành khô quả

ở nước ta chủ yếu là do sinh lí

Phòng trừ

Bón phân cân đối trồng cây che bóng Phun một trong các loại thuốc sau:Antracol 75WP (0,3%), Nativo 750WG(0.04%), Derosal 50SC, 60WP với nồng độ0,2%, carbenzim 500FL, 50WP nồng độ 0,2%, Tilt 250EC/ND nồng độ 0,1%,Bumper 250EC nồng độ 0,1% Phun thuốc từ khi bệnh mới xuất hiện, phun 2 – 3lần cách nhau 1 tháng

4 Bệnh nấm hồng (corticium salmonicolor B & Br.)

Trang 12

Đầu tiên trên quả hay cành xuất hiện những chấm rất nhỏ màu trắng giống nhưbụi phấn Những chấm này phát triển tạo thành lớp phấn mỏng sau này có màuhồng Nếu xuất hiện ở cành thì thường lớp phấn này nằm ở mặt dưới cành hay ởgốc cành sát thân chính Nếu ở quả thì thường từ cuống quả Vết bệnh phát triểnchạy dọc theo cành và lan dần sang cả quả làm cành bị chết khô, quả thì héo hayrụng non.

Bệnh thích hợp với điều kiện ẩm độ cao, nhiều ánh sáng Trên cây, bệnhthường xuất hiện ở tầng trên Tại Tây Nguyên, bệnh phát sinh từ tháng 6 – 7, caođiểm vào tháng 9 và chấm dứt vào cuối mùa mưa(tháng 10 – 11) Bệnh phát triểnrất nhanh trên cây, làm chết cành rất nhanh, nhưng lây lan từ cây này sang cây khácthì chậm

Phòng trừ

Kiểm tra vườn cây vào đầu mùa mưa, phát hiện bệnh sớm và cát đốt các cànhbệnh phun một trong các loại sau: Nativo 750 WG(0,04%), Bayfidan 250EC(0,1%), Validacin 3 SC, 5SC, 5SP nồng độ 2% hay Anvil 5SC nồng độ 0,2%,phun 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày Nên phun thuốc lúc mới xuất hiện nấmmàu trắng

4 Bệnh lỡ cổ rễ ( Rhizoctonia solani, Fusarium spp.)

Bệnh gây hại ở phần cổ rễ con trong vườn ươm và trong giai đoạn KTCB.Phần thân tiếp giáp với mặt đất (gọi là cổ rễ) bị thối đen và teo lại làm cho nướckhông dẫn được từ rễ lên nên phần lá phía trên bị héo và chết Bệnh thường xuấthiện ở các vườn ươm có ẩm độ đất cao, ít thoáng, đất trong bầu bị dí chặt

Bắt đầu là cây chậm sinh trưởng, một phần cổ (phần thân tiếp giáp với rễ cọc,cách mặt đất khoảng 10- 20 cm) bị khuyết dần vào trong Sau đó, vết khuyết ăn sâuhơn, toàn bộ cổ rễ bị mất, cây vàng lá dần và chết Bệnh phát triển từ từ và lây lanqua việc làm cỏ, cuốc xới, nước mưa Bệnh thường xuất hiện trong mùa mưa, ởnhững nơi ẩm, đất ít được xới xáo Nguồn bệnh có thể bắt đầu từ các cây con đã bịbệnh trong vườn ươm Đất pha cát dễ bị bệnh này hơn đất đỏ

Phòng trừ

-Đất trồng cà phê phải có tầng canh tác dày, thoát nước tốt, nước ngầm thấp

- Cây con phải đạt tiêu chuẩn, không có triệu chứng của bệnh lở cổ rễ trongvườn ươm

- Tránh tạo vết thương trên phần gốc cây qua việc làm cỏ và đánh chồi sát gốc

- Phát hiện sớm khi cây vừa chớm bệnh lở cổ rễ Dùng Nativo 750 WG(0,04%), Bayfidan 250 EC (0,1%), Validacin 3SC, 5SC, 5SP 2% hay Bendazol

Trang 13

50WP nồng độ 0,2% Tưới kết hợp Validacin 3DD (2%), mỗi gốc tưới 2lít dungdịch thuốc cho mỗi loại, tưới 2 – 3 lần cách nhau 15 ngày.

6.Tuyến trùng hại rễ (Pratylenchus coffeae, Meloidogyne spp., Radopholus similis)

Tuyến trùng gây hại trên cà phê ở tất cả các loại tuổi, kể cả trong giai đoạnvườn ươm Nếu cây bị tuyến trùng gây hại trong giai đoạn vườn ươm và kiến thiết

cơ bản, cây sẽ còi cọc, thấp hẳn so với các cây xung quanh Trên cà phê kinhdoanh, cây sinh trưởng kém và vàng lá, rất dễ nhầm với triệu chứng vàng lá dochăm sóc kém và thiếu dinh dưỡng

Các triệu chứng trên thường xuất hiện cục bộ thành từng vùng trên vườn, khácvới triệu chứng vàng lá toàn vườn do cây bị thiếu dinh dưỡng Muốn xác địnhchính xác tác nhân ngây hại cần phải phân tích rễ và đất

Tuyến trùng Pratylenchus coffeae gây triệu chứng thối rễ tơ trên cà phê kinhdoanh và thối rễ cọc trên cà phê kiến thiết cơ bản Trên cà phê kiến thiết cơ bản,triệu chứng thối rễ cọc xuất hiện chủ yếu trên các vườn được trồng lại trên đất vườn

cà phê già cỗi và vườn cà phê kinh doanh đã bị tuyến trùng gây hại

Tuyến trùng meloidogyne spp tạo những nốt sưng nhỏ ở rễ, cũng có thể lànhững vết sưng lớn và dài dọc theo rễ

Tuyến trùng Radopholus similis tạo những vết thương lớn ăn sâu vào trong vỏ

rễ cọc, nếu cây bị hại nặng thì cả rễ tơ cũng bị thối và rất khó nhổ lên bằng tay.Các vết thương hay nốt sưng trên rễ do tuyến trùng gây ra sẽ tạo điều kiện chocác loại nấm Fusarium xâm nhiễm và gây hại

Tuyến trùng có thể di chuyển theo nước nên biện pháp tưới tràn giúp cho bệnhlây lan nhanh Biện pháp xới xáo, vét bồn trong các vườn đã bị tuyến trùng gây hạicũng tạo điều kiện cho tuyến trùng lây lan và nấm bệnh phát triển vì tạo vết thươngcho rễ

Phòng trừ

- Không sử dụng đất có nguy cơ nhiễm tuyến trùng để ươm cây Phải thay đổi

vị trí của vườn ươm nếu đất có tuyến trùng

Đối với cà phê kiến thiết cơ bản trồng lại trên đất đã trồng cà phê, sau khi nhổ

bỏ cà phê phải cày sâu nhiều lần, nhặt sạch các rễ cũ còn sót lại trong đất Sau đócải tạo đất trong vòng 2 – 3 năm bằng các cây không phải là ký chủ của loài tuyếntrùng đã gây hại trên vườn cà phê đã nhổ bỏ Xử lý hố trước khi trồng bằng vôi(1kg) kết hợp với bón phân chuồng, xử lý thuốc tuyến trùng như Mocap 10G

Ngày đăng: 08/08/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w