1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx

77 401 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về sự phát triển của ngân hàng nhân dân Trung Quốc và những tác động của nó đối với các nước trên thế giới
Tác giả Trương Công Danh
Người hướng dẫn BS. Bùi Quốc Thái
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Luận văn
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiên cứu về ngân hàng trung quốc

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG



Luận Văn

ĐỀ TÀI :Tìm hiểu về sự phát triển của Ngân hàng Nhân dân

Trung Quốc và những tác động của nó đối với các nước trên thế giới

GVHD: BS Bùi Quốc Thái SVTH: Trương Công Danh MSSV: 10097241

Trang 2

NHẬN XÉT GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………, ngày… tháng……năm 20…

Trang 3

Giảng viên hướng dẫn

Trang 4

Mục Lục

Lời tựa 10

Lời giới thiệu 11

PHẦN I GIỚI THIỆU HỆ TỔNG QUAN THỐNG NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC .14

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC 14

1.1 Quá trình cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc 14

1.1.1 Lịch sử hình thành 14

CHƯƠNG II: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG NHÂN DÂN TRUNG QUỐC 23

2.1 Sơ lược lịch sử hình thành Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc 23

2.2 Vai trò , Điều hành, bộ máy, danh sách thống đốc, lãi suất ,cấu trúc hệ thống đối với sự phát triển của hệ thống thanh toán tại Trung Quốc 26

2.2.1 Vai trò 26

2.2.1.1 Vai trò của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đối với sự phát triển của CUP 26

2.1.1.2 Vai trò của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đối với sự phát triển của hệ thống thanh toán tại Trung Quốc 27

2.2.2 Điều hành 28

2.2.2 Bộ máy 29

2.2.3 Danh sách thống đốc 30

2.2.4 Lãi suất 30

2.2.5 Về cấu trúc hệ thống thanh toán: 30

CHƯƠNG 3 32

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠN MẠI TRUNG QUỐC 32 3.1 Lịch sử phát triển hệ thống NHTM Trung Quốc 33

3.1.1 Hoạt động ngân hàng thời phong kiến 33

3.1.2 Vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc 35

3.1.2.1 Sự hình thành các khoản nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc 35 3.1.2.2 Quá trình xử lý nợ xấu của Trung Quốc 35

3.1.2.3 Ước tính tổng nợ xấu tồn đọng trong hệ thống tài chính Trung Quốc36 CHƯƠNG IV 40

HỆ THỐNG QUẢN LÝ GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC 40

Trang 5

4.1 Cơ quan điều hành chính sách tiền tệ và giám sát hoạt động ngân hàng40

4.3 Từng bước cải cách khuôn khổ pháp lý: 41

4.4 Các nguyên tắc cơ bản và Chiến lược trong giai đoạn mới: 41

PHẦN II: KINH NGHIỆM ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA TRUNG QUỐC 44

CHƯƠNG V : NHỮNG CẢI CÁCH TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA TRUNG QUỐC 44

5.1 Tổng quan 44

5.2 Các công cụ chính sách tiền tệ tại Trung Quốc từ năm 1998 45

CHƯƠNG VI: KINH NG-HIỆM ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC 50

6.1 Các giai đoạn trong điều hành tỷ giá hối đoái tại Trung Quốc 50

6.2 Một số kinh nghiệm rút ra từ điều hành chính sách tỷ giá của Trung Quốc53 PHẦN III: VỊ THẾ CỦA TRUNG QUỐC NGÀY NAY TRONG HỆ THỐNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 55

CHƯƠNG VII: XU THẾ QUỐC TẾ HÓA ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ 55

7.1 Những đặc trưng của một đồng tiền quốc tế 55

7.2 Trung Quốc và “cái bẫy đôla” 55

7.3 Chiến lược quốc tế hóa đồng nhân dân tệ 58

7.4 Đánh giá khả năng đồng CNY thay thế USD 60

7.4.1 sự cần thiết của việc dự trữ ngoại tệ 60

7.4.2 nhận định chung 60

7.4.3 khả năng đồng CNY thay thế USD 61

PHẦN IV: SỨC ÉP NÂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ CỦA TRUNG QUỐC 63 CHƯƠNG VIII: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HOÁI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ VẤN ĐỀ NÂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ 63

8.1 Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó đến cán cân thương mại của Trung Quốc với Mỹ, EU và Nhật Bản 63

8.2 Sức ép của các nước đối với việc nâng giá đồng nhân dân tệ và phản ứng của Trung Quốc 68

8.2.1 Sức ép của các nước đối với việc nâng giá đồng nhân dân tệ 68

8.2.1.1 Sức ép từ phía Mỹ 68

8.2.1.2 Sức ép của các tổ chức và quốc gia khác 70

Trang 6

8.2.2 Phản ứng của Trung Quốc 71

CHƯƠNG XI: TÁC ĐỘNG CỦA NÂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 73

9.1Về lĩnh vực xuất khẩu 73

9.2 Về lĩnh vực nhập khẩu: 73

9.3 Về đầu tư 74

9.4 Áp lực đối với lạm phát ở Việt Nam 75

9.5 Đánh giá về tác động của tăng giá nhân dân tệ đối với nền kinh tế Việt Nam 75 KẾT LUẬN 77

CÁC PHỤ LỤC ……………….79

Tài liệu tham khảo 82

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT

ABC: Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (Agriculture

Bank of China)

ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asia Development

Bank)

Trang 7

AMC: Công ty xử lý nợ và khai thác tài sản (Asset

Management Company)

BIS: Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank for

International Settlement)

BOC: Ngân hàng Trung Quốc ( Bank of China)

BTA: Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa

Kỳ

BEPS Hệ thống thanh toán điện tử theo lô

CAR: Hệ số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio)

CNAPS Hệ thống thanh toán quốc gia tiên tiến của Trung Quốc

CSTT : Cơ sở thông tin

CEPA Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện

(Comprehensive Economic Partnership Agreement)

CUP Công ty chuyển mạch thẻ quốc gia (China

UnionPay)

CNAPS Hệ thống thanh toán quốc gia tiên tiến của Trung Quốc

(Co-Processing Node Architecture for Parallel Systems)

CIS Tổ chức liên minh các quốc gia được thành lập

Commonwealth of Independent States

CBRC: Ủy ban giám sát hoạt động ngân hàng Trung Quốc (China Banking Regulatory Commision)

CCB: Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc ( China

Construction Bank)

CCTT Cán cân thanh toán

CCTM Cán cân thương mại

CEIM: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

CCP: Đảng Cộng Sản Trung Quốc (China Communist Party)

DNNN hay SOE: Doanh nghiệp nhà nước

DTBB Dự trữ bắt buộc

FDI: Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (Foreign Direct Investment)

FDIEs: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

FED: Quỹ dự trữ liên bang hay Ngân hàng Trung ương

Mỹ

FETP: Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Trang 8

FPI: Đầu tư gián tiếp từ nước ngoài (Foreign Porfolio Investment)

GDP: Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic

IMF: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund)

LHC Trung tâm thanh toán bù trừ địa phương

NHTM TQ Ngân hàng thương mại Trung Quốc

NHTƯ Ngân hàng trung ương

NDT Nhân dân tệ

NHTM QD Ngân hàng thương mại quốc doanh

OMO Nghiệp vụ Thị trường mở (Open Market

Operations)

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)

SWIFT Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn

thế giới (Society for Worldwide Interbank Financial

Telecommunication)

SDR Quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Rights)

RMB RENMINBI (đơn vị tiền tệ của Trung Hoa, Nhân Dân

Trang 9

Quốc từ năm

2006-2010

Bảng 8.3 : Cán cân thương mại của Nhật Bản với

Trung Quốc từ năm 2005-2009

Trang 10

Danh sách các hình, sơ đồ, biểu đồ

Hình 1.1 Trụ sở chính của Ngân hàng Trung Quốc

Hình 1.2 Ngân hàng trung ương Trung Quốc

Hình 8.1 Biểu đồ tỷ giá ngoại tệ của Trung Quốc / Hoa

Kỳ

Hình 8.2 : Biểu đồ Tỷ giá hối đoái giữa Nhân dân tệ với

đô la Mỹ tháng 1 và 2/2010

Hình 8.3 : Biểu đồ Thặng dư thương mại của Trung

Quốc với Mỹ từ năm 1985-2010

Hình 8.4 : Biểu đồ Cán cân thương mại của EU với

Trung Quốc từ năm 2006 – 2010

Hình 8.5 : Biểu đồ Cán cân thương mại của Nhật Bản

với Trung Quốc từ năm 2005 – 2009

Trang 11

Ở Việt Nam cho tới nay đã có nhiều nghiên cứu về Trung Quốc trên nhiều khía cạnh

và lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu sâu nào về khu vực ngân

hàng, một khu vực được coi là huyết mạch của nền kinh tế Luận văn: “Tìm hiểu về

sự phát triển của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc và những tác động của

nó đối với các nước trên thế giới ” Đây là một công trình nghiên cứu nghiêm túc

và công phu, mô tả một cách toàn diện hệ thống ngân hàng Trung Quốc, kể từ thời phong kiến sơ khai trải qua chặng đường dài phát triển với nhiều cải cách sâu rộng

để giờ đây có thể sánh ngang với hệ thống ngân hàng của những nước tiên tiến trên thế giới.

Cùng với lịch sử hình thành và phát triển của khu vực ngân hàng thương mại, luận văn cũng dành phần đáng kể đi sâu phân tích những thay đổi trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, để từ đó giúp độc giả thấy được tại sao nó lại trở thành một ngân hàng trung ương mạnh mà mỗi động thái của nó hiện nay làm cả thế giới phải dõi theo.

Luận văn không chỉ nói về hệ thống ngân hàng Trung Quốc với những điểm mạnh và điểm yếu được lý giải một cách sâu sắc mà đi cùng với nó là những tác động của đối với các nước trên thế giới trong đó có Việt nam

Trang 12

Lời giới thiệu

Sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 - 2009, Trung Quốc bắt đầu được xem

là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế toàn cầu, thậm chí còn được coi là ngườichèo lái chính cho sự thay đổi kinh tế, xã hội và môi trường toàn cầu, điều mà mới chỉ

10 năm trước đây là khó hình dung

Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong ba thập kỷ qua đã đưa Trung Quốc từ mộtnước có nền kinh tế lạc hậu lên đứng thứ hai trên thế giới về qui mô tổng sản phẩmquốc nội, chỉ đứng sau Mỹ và vượt trên cả Nhật Bản Trung Quốc hiện đang là nướcxuất khẩu đứng đầu thế giới đồng thời là nước có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới.Đồng Nhân dân tệ được nhiều nhận định cho rằng sẽ trở thành đồng tiền quốc tế vàonăm 2020

Khi Trung Quốc ngày càng đóng vai trò lớn hơn trong nền kinh tế thế giới, lĩnh vựctài chính - ngân hàng Trung Quốc cũng thu hút sự chú ý nhiều hơn Hệ thống ngânhàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Trung Quốc, vì nó thu hút gầnnhư toàn bộ tiền tiết kiệm của hộ gia đình và cung cấp đến 95% vốn cho khu vựcdoanh nghiệp Tiền gửi tiết kiệm ở hệ thống ngân hàng Trung Quốc là rất lớn, chiếmđến 160% GDP

Khu vực ngân hàng cũng là một khu vực tăng trưởng vào loại nhanh nhất ở TrungQuốc, đạt tốc độ tăng trung bình 19% trong suốt hai thập kỷ qua Tính đến cuối năm

2008, tổng tài sản của toàn hệ thống là 62,3 ngàn tỷ Nhân dân tệ, hơn gấp hai lần GDPcủa nước này Đến nay, về mặt quy mô và phạm vi hoạt động, ngành ngân hàng TrungQuốc có thể sánh ngang với các nền kinh tế công nghiệp hóa hàng đầu Tuy nhiên,ngành ngân hàng Trung Quốc vẫn được coi là đang ở giai đoạn đầu phát triển khinguồn thu nhập chủ yếu của các ngân hàng thương mại vẫn từ hoạt động tín dụng,chiếm trên 85%

Luận văn này nhằm mục đích nghiên cứu một cách hệ thống khu vực ngân hàngTrung Quốc và được chia thành ba phần với 9 chương có kết cấu như sau Phần I giớithiệu tổng quan hệ thống ngân hàng Trung Quốc bao gồm cả lịch sử hình thành và

Trang 13

phát triển của hệ thống ngân hàng Trung Quốc với trọng tâm đặt vào việc phân tíchnhững cải cách mà ngành ngân hàng Trung Quốc đã trải qua cho đến ngày nay Phần

II nghiên cứu kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ, kể cả chính sách quản lýngoại hối và điều hành tỷ giá hối đoái Phần III là đánh giá vị thế của Trung Quốcngày nay trong hệ thống tài chính - ngân hàng thế giới thông qua những phân tích về

xu thế quốc tế hóa của đồng Nhân dân tệ và những biện pháp đối phó với cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu vừa qua của Trung Quốc Phần IV phản ánh về sức ép nânggiá đồng Nhân Dân Tệ Qua đó cho thấy sự tác động mạnh mẽ đối với các nước trênthế giới , trong đó có Việt nam Phần Phụ lục cung cấp những số liệu cập nhật nhất về

kinh tế vĩ mô và hệ thống ngân hàng Trung Quốc Em hy vọng rằng luận văn “Tìm hiểu về sự phát triển của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc và những tác động của nó đối với các nước trên thế giới ” sẽ cung cấp cho bạn đọc những phân

tích, đánh giá hữu ích

Chắc chắn rằng việc nghiên cứu luận văn này còn nhiều thiếu sót Rất mong nhậnđược ý kiến đóng góp của bạn đọc

Trang 15

PHẦN I GIỚI THIỆU HỆ TỔNG QUAN THỐNG NGÂN

- Giai đoạn ( 1980-1993):

Trong giai đoạn này, chiến lược mở cửa ngành Ngân hàng với mục đích là để thu hútcác nguồn vốn từ bên ngoài và cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài bằngcách cung cấp các dịch vụ tài chính tốt hơn cho các tập đoàn kinh tế nước ngoài hoạtđộng tại Trung Quốc Do cầu nội địa đối với các dịch vụ tài chính tăng lên, Chính phủTrung Quốc đã từng bước nới lỏng các hạn chế mang tính địa lý đối với các ngânhàng nước ngoài thông qua việc cho phép mở rộng sự hiện diện của các ngân hàngnày từ các đặc khu kinh tế sang các thành phố lớn và thành phố ven biển Đến cuốinăm 1993, các ngân hàng nước ngoài đã thiết lập được 76 pháp nhân, hoạt động tại 13thành phố với tổng tài sản lên tới 8,9 tỷ USD, phạm vi kinh doanh tập trung vào cácdịch vụ ngoại hối cho các công ty nước ngoài và người nước ngoài tại Trung Quốc

- Giai đoạn (1993- 2001):

Công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc đã có những tiến bộ quan trọng trong giaiđoạn này, thể hiện qua tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường xã hộichủ nghĩa, với sự bùng nổ của thương mại và đầu tư trực tiếp của nước ngoài Tuynhiên, để khuyến khích hơn nữa sự tham gia của các nhân tố nước ngoài tại TrungQuốc thông qua việc cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, Chính phủ Trung Quốc đãthông qua một loạt các chính sách và sửa đổi các luật, quy định có liên quan Với tốc

độ phát triển liên tục của đầu tư nước ngoài cũng như sự mở rộng không ngừng của

Trang 16

các doanh nghiệp Trung Quốc ra thị trường thế giới, các nhà cung cấp dịch vụ tàichính nước ngoài ngày càng mong muốn được trực tiếp kinh doanh tại Trung Quốc.Trong bối cảnh đó, năm 1994 Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một văn bản pháp

lý toàn diện điều chỉnh các hoạt động của các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoàitrên toàn lãnh thổ Trung Quốc với tên gọi là: Quy chế của nước Cộng hòa Nhân dânTrung Hoa về quản lý các định chế tài chính có vốn nước ngoài Quy chế này đượcphát triển từ quy định được ban hành từ 1985 mang tên Quy chế của nước Công hòaNhân dân Trung Hoa về quản lý các ngân hàng có vốn nước ngoài và ngân hàng liêndoanh hoạt động tại các đặc khu kinh tế Quy định mới đã cung cấp các hướng dẫnpháp lý đối với việc gia nhập thị trường và hoạt động thanh tra các ngân hàng có vốnnước ngoài Trong khi đó, hoạt động của các ngân hàng nước ngoài đã được mở rộng

từ các thành phố ven biển và các thành phố lớn ra toàn quốc và các ngân hàng nướcngoài được phép mở chi nhánh tại tất cả các thành phố của Trung Quốc Đến năm

1996, Chính phủ Trung Quốc công bố Quy chế về việc thí điểm kinh doanh đồngnhân dân tệ tại khu vực Thương Hải - Phố Đông của các định chế trài chính nướcngoài Quy định này cho phép các ngân hàng nước ngoài tiếp cận hoạt động kinhdoanh bằng đông nhân dân tệ phục vụ các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài Chính

vì vậy đã thúc đẩy sự phát triển của các ngân hàng nước ngoài đạt con số 175, tăng 99ngân hàng so với 4 năm trước đó, trong khi tài sản có của các ngân hàng này đã tănggấp 4 lần

Cũng chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, các ngân hàngnước ngoài trở nên thận trọng hơn trong việc mở rộng hoạt động của mình tại khu vựcchâu Á, do đó hoạt động kinh doanh của các ngân hàng nước ngoài tại Trung Quốccũng bị giảm sút Một số ngân hàng thậm chí còn đóng cửa Từ 1998 đến 2001, chỉ có

15 tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng được thành lập tại Trung Quốc Chinh phủTrung Quốc đã phải thực hiện hàng loạt các biện pháp để kích thích hoạt động của cácngân hàng nước ngoài tại thị trường này Trong đó, việc lựa chọn Thâm Quyến làthành phố thứ hai sau Thượng Hải được thực hiện thí điểm cho phép các ngân hàng cóvốn nước ngoài tham gia thị trường liên ngân hàng để họ có thể tiếp cận nguồn vốnbằng đồng nhân dân tệ; cho phép các ngân hàng có vốn nước ngoài có trụ sở tạiThượng Hải thực hiện kinh doanh đồng nhân dân tệ tại Quảng Đông, Quảng Tây và

Hồ Nam Mặc dù, hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng này đã giảm

Trang 17

xuống trong các năm đó, các ngân hàng nước ngoài lại có thể mở rộng kinh doanhđồng nhân dân tệ.

- Giai đoạn 2002- 2006:

Với việc Trung Quốc chính thức gia nhập WTO vào ngày 11/12/2001, ngành Ngânhàng của Trung Quốc đã chứng kiến những thay đổi sâu sắc trong giai đoạn này.Trong thời gian 5 năm ân hạn theo quy định trong thoả thuận gia nhập, Chính phủTrung Quốc đã tôn trọng các cam kết và mở cửa thêm các lĩnh vực kinh doanh chocác ngân hàng có vốn nước ngoài tham gia Những nỗ lực mở cửa và điều chỉnh hợp

lý, nhanh chóng về mặt chính sách đã tạo điều kiện cho các ngân hàng nước ngoài mởrộng hoạt động Sau 5 năm gia nhập WTO, mặc dù đã có một số vụ sáp nhập, sốlượng tổ chức kinh doanh do các ngân hàng nước ngoài thành lập đã tăng từ 190 lên

312

 Sau đây là một số biện pháp mở cửa đựoc sử dụng trong giai đoạn này:

Tôn trọng các cam kết WTO: Những hạn chế về đối tượng khách hàng đối với hoạt

động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng có vốn nước ngoài đã được dỡ bỏ ngaysau khi gia nhập WTO Ngoài ra, hoạt động kinh doanh bằng đồng nhân dân tệ củacác ngân hàng nước ngoài cũng đã được mở rộng từ bốn thành phố lớn là ThượngHải, Thâm Quyến, Thiên Tân và Đại Liên ra toàn quốc, đối tượng khách hàng cũngđược mở rộng từ các cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài sang các doanh nghiệp vàngười dân Trung Quốc Cũng trong thời gian này, các hạn chế khác đối với các ngânhàng có vốn nước ngoài từng bước được nới lỏng, như hạn chế về tài sản nợ bằngđồng nhân dân tệ được dỡ bỏ; giới hạn về tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ từ nguồn trong nướcđối với các ngân hàng có vốn nước ngoài đã được bãi bỏ tuân theo nguyên tắc đối xửquốc gia được thoả thuận trong cam kết gia nhập WTO

1.1.2 Các sáng kiến độc lập với các cam kết gia nhập WTO:

Trung Quốc cũng tiến hành hàng loạt các sáng kiến tự do hoá độc lập với những camkết WTO nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách và thị trường của nền kinh tế

Thứ nhất, nhằm mục đích khuyến khích các ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh tạicác khu vực không gần biển như khu vực miền Trung, miền Tây và vùng đông Bắcnơi chưa có dịch vụ ngân hàng, một số thành phố trong đó có Tây An, Thẩm Dương,Cáp Nhĩ Tân, Trường Xuân, Lan Châu, Tây Ninh đã mở của cho các ngân hàng có

Trang 18

vốn nước ngoài thực hiện kinh doanh bằng đồng nhân dân tệ trước thời hạn, đồng thờiđẩy nhanh việc xem xét thông qua các thủ tục cho các ngân hàng có vốn nước ngoài

mở chi nhánh tại các khu vực này

Thứ hai, yêu cầu về vốn hoạt động đối với các ngân hàng có vốn nước ngoài được hạxuống một cách hợp lý nhằm nới lỏng các hạn chế về vốn khả dụng đối với các ngânhàng này

Thứ ba, tương tự như các ngân hàng trong nước các ngân hàng có vốn nước ngoàiđược phép tham gia vào các hoạt động kinh doanh các công cụ phái sinh, các hoạtđộng quản lý tài sản, lưu ký và đại lý bảo hiểm ở nước ngoài

Thứ tư, theo thoả thuận đối tác thân thiện hơn (CEPA) với các đặc khu hành chínhHồng Kông và Ma Cao, các ngân hàng ở hai đặc khu này được đối xử ngang bằng khixin phép mở chi nhánh hoặc các dự án kinh doanh mới ở Đại lục

Thứ năm, để khuyến khích sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài vào khu vựcngân hàng trong Đại lục, Trung Quốc cho phép và khuyến khích các nhà đầu tư chiếnlược nước ngoài đủ tiêu chuẩn mua cổ phần của các ngân hàng Trung Quốc trên cơ sởthương mại và tự nguyện

Như vậy, việc mở cửa hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã tập trung vào ba khu vựcchiến lược là Châu thổ sông Dương Tử, Châu thổ sông Châu Giang và Khu kinh tế BốHải, từng bước mở cửa ra toàn quốc

1.1.3 Từng bước cải cách khuôn khổ pháp lý:

Thực hiện các cam kết gia nhập WTO và dựa trên sự phân tích những điều kiện thựctiễn của Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc đã sửa đổi, ban hành nhiều luật và quyđịnh mới Những văn bản pháp luật quan trọng gồm: Luật Quản lý và Giám sát Ngânhàng của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Quy định của nước Cộng hoà Nhândân Trung Hoa về Quản lý các định chế tài chính có vốn nước ngoài và các văn bảnhướng dẫn thi hành Những quy định tại các văn bản này đã cung cấp cơ sở vững chắc

để tiếp tục tiến trình mở cửa khu vực ngân hàng Trung Quốc Tháng 12/2003, Chínhphủ Trung Quốc đã ban hành Quy chế mua cổ phần tại các định chế tài chính TrungQuốc của các định chế tài chính nước ngoài Trong đó, quy định các tiêu chuẩn về quy

mô tài sản, mức vốn và khả năng sinh lời cũng như giới hạn tối đa được mua cổ phầnđối với nhà đầu tư nước ngoài Do đó, Điều Luật này đã thúc đẩy hơn nữa sự hợp tácgiữa các ngân hàng Trung Quốc và các ngân hàng nước ngoài

Trang 19

Ngoài ra, Trung Quốc cũng mở rộng sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài, tăngcường công tác thanh tra trên cơ sở rủi ro Uỷ ban Giám sát Ngân hàng đã tăng cườngnăng lực giám sát và phân tích từ xa, cải thiện việc lập kế hoạch và thanh tra tại chỗ.Nhờ đó, chất lượng thanh tra đã được tăng cường đáng kể, góp phần lành mạnh cácngân hàng nước ngoài tại Trung Quốc.

1.1.4 Những đóng góp chủ yếu của các ngân hàng nước ngoài:

Thứ nhất, đóng góp cho sự phát triển của đầu tư và thương mại quốc tế: Các ngânhàng nước ngoài có lợi thế cạch tranh hơn các ngân hàng Trung Quốc Chính các ngânhàng này đã tiên phong trong việc đổi mới doanh nghiệp, đồng thời có nhiều kinhnghiệm và phong phú về sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đặc biệt trong lĩnh vực thươngmại quốc tế và cơ sở hạ tầng hệ thống thanh toán, cho vay hợp vốn, quản lý tiền mặt

và tài sản Sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài tại Trung Quốc đã làm phongphú thêm các sản phẩm trên thị trường ngân hàng, nâng cao chất lượng phục vụ củacác ngân hàng, do đó đã đóng góp vào việc xúc tiến thương mại và đầu tư ra nướcngoài Bên cạnh đó, thông qua hoạt động đầu tư tại Trung Quốc, các ngân hàng nướcngoài đã mang lại nguồn vốn cho sự phát triển của kinh tế này

Thứ hai, góp phần phát triển theo chiều sâu thị trường tài chính cũng như cải cách vàtái cơ cấu khu vực ngân hàng ở Trung Quốc Các ngân hàng nước ngoài đã và đangphát triển về cả số lượng và quy mô kinh doanh tại Trung Quốc, đồng thời đã giúp giatăng chất lượng dịch vụ ngân hàng ở tất cả các cấp độ, khuyến khích cạnh tranh thịtrường, tăng cường năng lực của khu vực ngân hàng nhằm đáp ứng được nhu câu củathị trường Để tăng cường năng lực tổng thể và tính cạnh tranh của khu vực ngânhàng, Trung Quốc đã đưa ra một loạt các cải cách nhằm hỗ trợ quá trình mở cửa Đếncuối năm 2003, Ngân hàng Xây dựng và Ngân hàng Ngoại thương Trung Quốc đãđược chọn làm thí điểm tái cơ cấu thành các ngân hàng cổ phần, với tổng số vốn bơmvào lên đến 45 tỷ USD Cuối năm 2005, Ngân hàng Công thương Trung Quốc cũngđược bơm vốn 15 tỷ USD Đồng thời, các ngân hàng thương mại vừa và nhỏ cũngđược cải cách và tái cơ cấu Các biện pháp này, cùng với sự tham gia của các định chếtài chính nước ngoài với tư cách là nhà đầu tư chiến lược, đã góp phần cải thiện quảntrị doanh nghiệp, quản lý rủi ro, tăng cường khả năng đổi mới, sáng tạo và nâng caonăng lực cạnh tranh

Trang 20

Thứ ba, góp phần đổi mới doanh nghiệp và sản phẩm: Với việc mở cửa lĩnh vực ngânhàng đã nhập khẩu những công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến, cũng như là các sảnphẩm và dịch vụ hoàn thiện được thị trường kiểm chứng, giúp các ngân hàng TrungQuốc nâng cao năng lực tài chính Các ngân hàng Trung Quốc đã củng cố hệ thốngquản lý nội bộ của họ thông qua việc tối ưu hoá cơ cấu quản lý, thăm dò và triển khaicác mô hình quản lý ngành dọc, nhiều ngân hàng đã đặt chức năng quan hệ kháchhàng làm trọng tâm, hợp lý hoá các quy trình, thủ tục kinh doanh để tạo điều kiện choviệc kiểm soát rủi ro hiệu quả

Thứ tư, góp phần tăng cường năng lực thanh tra: Trung Quốc nhấn mạnh tầm quantrọng của việc giảm nhẹ rủi ro trong quá trình mở cửa, qua các biện pháp thanh traphòng ngừa Trên cơ sở các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, Trung Quốc đã xây dựngđược môi trường thanh tra công bằng và minh bạch, có những tiến bộ đáng kể trongviệc hợp nhất các tiêu chuẩn và yêu cầu thanh tra đối với các ngân hàng Bên cạnh đó,Trung Quốc tăng cường các biện pháp thanh tra xuyên quốc gia thông qua các thoảthuận hợp tác thanh tra với các nước trong khu vực và thế giới

1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản và Chiến lược trong giai đoạn mới:

Cuối năm 2006, ngành Ngân hàng Trung Quốc bắt đầu bước vào giai đoạn mới.Trung Quốc thúc đẩy quá trình mở cửa, nâng cao mức độ mở cửa, tăng cường nănglực quản lý rủi ro của khu vực ngân hàng, bảo vệ sự ổn định chung của hệ thống ngânhàng, qua đó thúc đẩy sự phát triển ổn định và lành mạnh của nền kinh tế Để xâydựng chiến lược mở cửa trong thời kỳ mới, ngành Ngân hàng Trung Quốc đã tuân thủ

4 nguyên tắc sau: (i) Đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế trong khuôn khổ tối ưuhoá (ii) Có khả năng thúc đẩy cải cách ngân hàng, cạnh tranh thi trường công bằng,hai bên cùng có lợi và nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng TrungQuốc (iii) Tuân thủ các cam kết WTO và tiếp tục mở cửa khu vực ngân hàng nội địa.(iv) Quá trình mở cửa phải có quy định về thận trọng đi kèm để có thể duy trì sự ổnđịnh của hệ thống ngân hàng và đảm bảo an ninh tài chính

1.1.6 Trên cơ sở các nguyên tắc nêu trên, Trung Quốc đưa ra các chính sách chủ yếu sau:

Tuân thủ các cam kết WTO và tiếp tục mở cửa hơn nữa với bên ngoài

Theo các cam kết WTO, Trung Quốc đã xoá bỏ các quy định hạn chế về khách hàng

và khu vực địa lý đối với hoạt động kinh doanh đồng nhân dân tệ của các ngân hàng

Trang 21

có vốn đầu tư nước ngoài kể từ ngày 11/12/2006 Để khuyến khích các ngân hàng cóvốn đầu tư nước ngoài triển khai kinh doanh tại miền Đông Bắc, miền Tây và miềnTrung, Trung Quốc có chính sách ưu đãi trong việc thành lập cơ sở mới và tiếp cận thịtrường.

Đưa ra chính sách định hướng thành lập tại địa phương để đáp ứng nhu cầu phát triểncủa các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài Các ngân hàng có vốn đầu tư nướcngoài có thể tự lựa chọn hình thức hoạt động phù hợp tại Trung Quốc theo chiến lượckinh doanh của ngân hàng Để đẩy mạnh sự phát triển của các ngân hàng này và bảo

vệ lợi ích của người gửi tiền, Trung Quốc khuyến khích các ngân hàng nước ngoàithành lập các ngân hàng con tại địa phương hoặc chuyển đổi các chi nhánh hiện tạithành các ngân hàng con Các pháp nhân thành lập tại địa phương của các ngân hàngnước ngoài được phép cung cấp tất cả các dịch vụ bằng ngoại tệ và nội tệ, được hưởngquy chế đối xử như các ngân hàng Trung Quốc

Tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho các chi nhánh ngân hàng nước ngoài Khuyếnkhích các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng các hình thức hoạt động đadạng để phát triển ở Trung Quốc

Về giám sát phòng ngừa rủi ro: Do mức độ mở cửa lĩnh vực ngân hàng lớn nên sẽđem đến một số rủi ro nhất định Trung Quốc cũng nhận thức được rằng trong quátrình mở cửa sẽ phát sinh nhiều rủi ro khác nhau Do vậy, việc nâng cao năng lựcthanh, sử dụng nhiều hơn nữa các phương pháp thanh tra hệ thống, đa dạng và đặc thù

để đảm bảo sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng là rất cần thiết, qua đó quátrình mở cửa sẽ diễn ra thuận lợi hơn

Quá trình mở cửa lĩnh vực ngân hàng của Trung Quốc đi kèm với thanh tra phòngngừa nghiêm ngặt theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế tốt nhất Nguyên tắc thanhtra ngân hàng cơ bản của Trung Quốc là “thực hành thanh tra tổng hợp, quản lý rủi ro,tăng cường kiểm soát nội bộ và nâng cao tình minh bạch” trong khi trọng tâm củacông tác thanh tra là giám sát các loại hình rủi ro chủ yếu của các ngân hàng thươngmại và các rủi ro hệ thống ngân hàng Mục đích của phương pháp tiếp cận này là củng

cố hệ thống quản lý rủi ro và kiểm soát của các ngân hàng thương mại, yêu cầu cómột mức độ minh bạch cao hơn để có thể áp dụng kỷ luật thị trường đối với các ngânhàng Trong giai đoạn mở cửa tiếp theo, Trung Quốc hướng tới việc thực hiện Cácnguyên tắc cơ bản về Thanh tra Ngân hàng hiệu quả do Uỷ ban Basel về Thanh tra

Trang 22

ngân hàng đề ra để tăng cường tính hiệu quả và minh bạch của công tác thanh tra.Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng Do việc xây dựngmột khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh luôn là ưu tiên hàng đầu của quá trình mở cửa.Tóm lại, mục tiêu của quá trình mở cửa lĩnh vực ngân hàng của Trung Quốc là nângcao khả năng cạnh tranh và xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh và phát triểnbền vững; huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển kinh tế.

Trang 23

CHƯƠNG II: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG NHÂN DÂN TRUNG QUỐC

Trang 24

2.1 Sơ lược lịch sử hình thành Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc

2.2 Vai trò , Điều

hành, bộ máy, danh sách thống đốc, lãi suất ,cấu trúc hệ thống đối với sự phát triển của hệ thống thanh toán tại Trung Quốc

Trang 25

đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường thẻ Do vậy, bốn ngân hàng thươngmại lớn nhất tại Trung Quốc đã xây dựng ra các hệ thống của riêng mình và thẻ củangân hàng nào chỉ được sử dụng trong nội bộ hệ thống ngân hàng đó Tuy nhiên,nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những khách hàng sử dụng thẻ đồng thời TrungQuốc cũng nhận thấy lĩnh vực thanh toán thẻ là một lĩnh vực quan trọng, do vậy năm

2002 Chính phủ Trung Quốc đã quyết định thống nhất các hệ thống thẻ trong phạm vitoàn quốc, giao cho Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc chịu trách nhiệm triển khaithực hiện CUP được hình thành với mục tiêu kết nối tất cả tất cả các mạng thanh toánthẻ trong nước và được xác định là mô hình duy nhất tại Trung Quốc

Để chuẩn bị cho quá trình thành lập CUP, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã cử cácđại diện tham gia vào ban trù bị thành lập CUP Bên cạnh đó, góp vốn vào CUP dướihình thức góp vốn từ một nhà máy in tiền trực thuộc Ngân hàng Trung ương (Ngânhàng Nhân dân Trung Quốc) Chính sách hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương đối vớiCUP cũng khá mạnh mẽ, với yêu cầu tất cả các ngân hàng phát hành thẻ trong lãnhthổ Trung Quốc đều phải tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật do CUP quy định và đượcNgân hàng Nhân dân Trung Quốc phê chuẩn

Hiện nay, Chính phủ và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc vẫn luôn có chính sách hỗtrợ CUP về nhiều mặt Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc thực hiện quản lý đối vớiCUP, đưa ra quy chế, quy định cho hoạt động của CUP, có các chính sách hỗ trợ, phốihợp với các bộ, ngành liên quan quản lý về mặt tổ chức, nhân sự của CUP

2.1.1.2 Vai trò của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đối với sự phát triển của hệ thống thanh toán tại Trung Quốc

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đóng vai trò là nhà vận hành hệ thống thanh toáncốt lõi CNAPS, bao gồm hai tiểu hệ thống HVPS và BEPS và hệ thống CIS Đồngthời, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cũng là đơn vị quản lý và giám sát các hệthống thanh toán khác Đặc biệt đối với hệ thống thanh toán thẻ CUP, Ngân hàngNhân dân Trung Quốc tuy không phải là đơn vị trực tiếp vận hành nhưng đã địnhhướng và hỗ trợ tổ chức này trong quá trình phát triển

Chính sách phí của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc được xây dựng không nhằmmục đích lợi nhuận mà chỉ để bù đắp chi phí, giúp các ngân hàng thương mại đưa ramức phí phù hợp, trên cơ sở cân bằng về lợi ích của nhà vận hàng hệ thống và các

Trang 26

thành viên Đối với các giao dịch tổng tức thời, mức phí là 5,5 CNY (nhân dân tệ) chomỗi giao dịch Với các giao dịch bù trừ, mức phí phụ thuộc vào thời điểm khởi tạogiao dịch, từ 0,03 đến 1 CNY mỗi giao dịch Hệ thống CIS miễm phí Với hệ thốngthanh toán thẻ, mức phí được xác định theo thị trường và phù hợp với hướng dẫn củaChính phủ.

Việc giám sát của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc dựa trên các tiêu thức được ápdụng cho các hệ thống thanh toán, cụ thể: Thiết kế được rút ra từ kinh nghiệm về cácchuẩn mực của SWIFT; Thiết kế hệ thống tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi do Ngânhàng Thanh toán quốc tế (BIS) phát triển; Thiết kế đồng thời cũng phù hợp với tìnhhình thực tế của Trung Quốc; Hệ thống thanh toán thẻ phù hợp với các tiêu chuẩn củaquốc gia trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực quốc tế; Hệ thống thanh toán ngoại tệ ápdụng theo định dạng thông điệp của SWIFT

Tóm lại, để phát triển nhanh các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt nhằmgóp phần giảm tỷ trọng thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế là yêu cầu cấp thiếtđối với mỗi quốc gia hiện nay, nhất là đối với Việt Nam Trong đó, cơ sở hạ tầngtrong thanh toán đóng vai trò quan trọng, cụ thể là các hệ thống thanh toán là nhân tố

cơ bản để phát triển các phương tiện thanh toán hiện đại, thuận tiện và đáp ứng nhucầu của người sử dụng dịch vụ Tại Trung Quốc, mô hình kết nối chuyển mạch là mộttrong những mô hình được tổ chức theo nguyên tắc tập trung cao độ, với sự kết nốitrực tiếp hệ thống thanh toán thẻ của các ngân hàng phát hành, thanh toán thẻ vớitrung tâm của CUP Vai trò của Chính phủ và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đượcthể hiện rõ nét trong việc định hướng phát triển trung tâm chuyển mạch thẻ nói riêng

và thị trường thẻ nói chung Nhờ đó, CUP đã phát triển và trở thành một mô hình rấtthành công ở Trung Quốc, thể hiện ở tốc độ phát triển, mức độ mở rộng mạng lưới vàthị phần nhanh chóng, thúc đẩy mạnh mẽ việc sử dụng thẻ ở Trung Quốc, tạo điềukiện giảm nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt trong các giao dịch bán lẻ Hiện nay CUPđang vươn rộng tầm ảnh hưởng vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành một tổ chứcthẻ ngày càng có uy tín và là đối thủ cạnh tranh của nhiều tổ chức thẻ quốc tế lớn nhưVISA, Marstercard Đây có thể là một trong những mô hình mà Việt Nam cần thamkhảo và học tập

2.2.2 Điều hành

Trang 27

Bộ máy điều hành tối cao của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc gồm Thống đốc và một số phó thống đốc Vị trí thống đốc được bổ nhiệm hay bãi nhiệm bởi Chủ tịch nước Ứng viên vào vị trí thống đốc được đề xuất bởi Thủ tướng và phê chuẩn

bởi Quốc hội Khi Quốc hội không tổ chức kỳ họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ phêchuẩn việc bổ nhiệm này Các phó thống đốc do Thủ tướng bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm.Ngân hàng trung ương Trung Quốc áp dụng hệ thống trách nhiệm tập trung của thống đốc, theo đó thống đốc quản lý công việc chung của toàn ngân hàng, các phó thống đốc trợ giúp thống đốc hoàn thành trách nhiệm

Thống đốc đương nhiệm là ông Chu Tiểu Xuyên Các phó thống đốc cấp cao bao gồm

Su Ning, Wong Hongzhang, Hồ Hiểu Luyện, Liu Shiyu, Ma Delun, Dị Cương, Du Jinfu, Li Dongrong, Guo Qingping

 Khảo sát và thống kê tài chính

 Kế toán và ngân quỹ

Trang 28

Những tổ chức sau trực thuộc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc:

 Trung tâm phân tích và theo dõi chống rửa tiền Trung Quốc

 Trường cán bộ ngân hàng trung ương Trung Quốc

 Nhà xuất bản tài chính Trung Quốc

 Thời báo tài chính Trung Quốc

 Trung tâm thanh toán quốc gia Trung Quốc

 Cơ quan in ấn tiền và ấn chỉ ngân hàng Trung Quốc

 Cơ quan quản lý tiền vàng Trung Quốc

 Cơ quan tin học hóa tài chính Trung Quốc

 Hệ thống giao dịch ngoại hối Trung Quốc

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc có 9 chi nhánh khu vực ở Thiên Tân, Thẩm Dương, Thượng Hải, Nam Kinh, Tế Nam, Vũ Hán, Quảng Châu, Thành Đô và Tây

An, 2 trụ sở điều hành ở Bắc Kinhvà Trùng Khánh, 303 chi nhánh thứ cấp cấp thành phố và 1809 chi nhánh thứ cấp cấp huyện, khu

Sáu văn phòng đại diện ở nước ngoài gồm Châu Mỹ, Châu Âu (tại London), Tokyo, Châu Phi, Frankfurt và văn phòng ở Ngân hàng phát triển vùng Caribê

2.2.3 Danh sách thống đốc

 Nam Hán Thần (南 南 南 ): tháng 10 năm 1949 – tháng 10 năm 1954

 Tào Cúc Như (南 南 南 ): tháng 10 năm 1954 – tháng 10 năm 1964

 Hồ Lập Giáo (南 南 南 ): tháng 10 năm 1964 – 1966

 Trần Hi Dũ (南 南 南 ): tháng 5 năm 1973 – tháng 1 năm 1978

 Lý Bảo Hoa (南 南 南 ): tháng 1 năm 1978 – tháng 4 năm 1982

 Lữ Bồi Kiệm (南 南 南 ): tháng 4 năm 1982 – tháng 3 năm 1985

 Trần Mộ Hoa (南 南 南 ): tháng 3 năm 1985 – tháng 4 năm 1988

 Lý Quý Tiên (南 南 南 ): tháng 4 năm 1988 – tháng 7 năm 1993

 Chu Dung Cơ (南 南 南 ): tháng 7 năm 1993 – tháng 6 năm 1995

 Đới Tường Long (南 南 南 ): tháng 6 năm 1995 – tháng 2 năm 2002

 Chu Tiểu Xuyên (南 南 南 ): tháng 12 năm 2002 – nay

2.2.4 Lãi suất

Các loại lãi suất của ngân hàng luôn là bội số của số chia hết cho 9 thay vì chia hết cho 25 như các nước khác trên thế giới Ví dụ: 0,27% thay vì 0,25%

Trang 29

2.2.5 Về cấu trúc hệ thống thanh toán:

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã xây dựng được một cơ sở hạ tầng thanh toán vớivai trò cốt lõi của hệ thống thanh toán CNAPS (Hệ thống thanh toán quốc gia tiên tiếncủa Trung Quốc), ngoài ra, còn có các hệ thống thanh toán nội bộ của các định chếngân hàng, các hệ thống thanh toán chứng từ, các hệ thống thanh toán thẻ và các hệthống thanh toán hối phiếu,…

Cấu phần chính của hệ thống thanh toán cốt lõi của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc

là hệ thống thanh toán giá trị cao (HVPS) và hệ thống thanh toán điện tử theo lô(BEPS) Hệ thống HVPS là hệ thống thanh toán tổng tức thời, triển khai hoạt độngtrên toàn quốc từ năm 2005, xử lý cho các giao dịch thanh toán có giá trị lớn vàchuyển tiền khẩn, tạo sự an toàn và hiệu quả cho việc quyết toán liên ngân hàng giữacác định chế tài chính và các thị trường tài chính Hệ thống BEPS là một hệ thốngthanh toán bán lẻ xử lý cho các giao dịch theo lô trên cơ sở giá trị ròng, như các ủynhiệm thu, các giao dịch chứng từ và chuyển tiền giá trị thấp với chi phí thấp và cácdịch vụ quyết toán khối lượng lớn cho các định chế ngân hàng, đáp ứng các nhu cầukhác nhau của xã hội Từ tháng 6/2006, hệ thống này đi vào hoạt động trên toàn quốcvới khối lượng giao dịch bình quân ngày trên 300.000 giao dịch và giá trị đạt 5 tỷnhân dân tệ (tương ứng hơn 10 nghìn tỷ đồng Việt Nam)

Các Trung tâm thanh toán bù trừ địa phương (LHC) xử lý các khoản thanh toán liênngân hàng dựa trên chứng từ tại địa phương Hầu hết, các LHC thuộc sở hữu củaNgân hàng Nhân dân Trung Quốc, chỉ một phần nhỏ còn lại thuộc sở hữu của cácngân hàng thành viên

Trang 30

CHƯƠNG 3

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠN MẠI TRUNG QUỐC

Trang 31

3.1 Lịch sử phát triển hệ thống NHTM Trung Quốc

3.1.1 Hoạt động ngân hàng thời phong kiến

Khái quát quá trình hình thành và phát triển của hệ thống NHTM TQ Trước khi thành lập nớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949, hệ thống ngân hàng Trung Quốc bao gồm ngân hàng Trung ương (NHTƯ), ba ngân hàng thơng mại lớn

là Ngân hàng Bu điện, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Trung Hoa, một số các ngân hàng và các tổ chức tài chính nhỏ độc lập khác Năm 1949, ba NHTM lớn này

đã đợc sáp nhập hoặc liên kết với ngân hàng Trung ương là ngân hàng chủ đạo cungcấp phần lớn dịch vụ ngân hàng ở Trung Quốc cho tới năm 1978.Sau năm 1978, theo chơng trình cải cách kinh tế chuyển đổi cơ chế quản lý tập trung cao độ sang

cơ chế quản lý có mức tự do hoá và phân cấp quản lý cao hơn, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Xây Dựng và Ngân hàng Trung Hoa đợc tách riêng khỏi hoạt động của ngân hàng Trung ương Việc tách riêng các hoạt động ngân hàng xuất phát

từ ý tởng cho rằng một hệ thống phân cấp quản lý cao hơn sẽ hoạt động hiệu quả hơn Mỗi ngân hàng theo sự chỉ định sẽ cung cấp dịch vụ cho một ngành nhất định của nền kinh tế Quan điểm này ngăn cản sự cạnh tranh giữa các ngân hàng và buộc các khách hàng- nông dân, các doanh nghiệp công nghiệp và các công ty thơng mại hoặc các công ty có vốn đầu t nớc ngoài- trong từng ngành phải giao dịch với một ngân hàng chuyên doanh.Hiện nay, hệ thống ngân hàng Trung quốc bao gồm nhiều ngân hàng khác nhau Dới Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (ngân hàng trung ơng)

là các ngân hàng chuyên doanh lớn sau: 1 Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc 2 Ngân hàng Trung Quốc 3 Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc4 Ngân hàng Công Thơng Trung Quốc8

5 Ngân hàng Bưu điện 6 Ngân hàng Phát triển Quốc doanh7 Ngân hàng Xuất Nhập khẩu8 Ngân hàng Phát triển Nông nghiệpNgân hàng Nhân dân Trung Hoa là ngân hàng trung ơng của Trung Quốc có ba hệ thống chi nhánh theo khu vực hành chính Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa là tổ chức cấp bộ tơng đơng Bộ Tài Chính, chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện các chính sách tiền tệ và lãi suất; giám sát các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, các công ty bảo hiểm; kiểm tra phê chuẩn việc thành lập, sáp nhập, giải thể các tổ chức tài chính.Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc đợc thành lập vàp năm 1955, đóng cửa năm 1957, mở cửa lại từnăm 1963 đến năm 1965 và đợc tái lập vào năm 1979 Trách nhiệm chính của ngân hàng này là nhận tiền gửi, cho vay các dự án nông nghiệp và công nghiệp nông thôn, cung cấp dịch vụ thanh toán cho các doanh nghiệp công thơng nông thôn Gầnđây, ngân hàng này đã đợc phép huy động và cho vay bằng ngoại tệ và thực hiện thanh toán quốc tế Ngân hàng này có chi nhánh ở tất cả các tỉnh, thành phố và các huyện.Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc hoạt động từ năm 1954 đến năm 1966 Ngân hàng này sáp nhập vào Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa trong 13 năm, sau đó đợc tái lập vàp năm 1979 Từ năm 1994, nghiệp vụ mang tính chính sách trong ngân

Trang 32

sách trớc đây do Ngân hàng Xây dựng đảm nhiệm, ví dụ: những khoản vay trung vàdài hạn trong xây dựng mang tính cơ bản, cải tạo kĩ thuật, khoản vay ngoại hối lớn

để xuất nhập khẩu thiết bị đồng bộ loại lớn và tín dụng xuất khẩu, đã dần dần giao cho Ngân hàng Phát triển nhà nớc và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc Ngânhàng Xây dựng Trung Quốc chủ yếu kinh doanh nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn mang tính thơng nghiệp, đồng thời làm các dịch vụ uỷ thác mang tính chính sách của ngân hàng phát triển Nhà nớc, nhiệm vụ chủ yếu là dựa trên kế hoạch của nhà nớc và các phơng châm chính sách có liên quan, huy động, phân phối và tổ chức cung ứng tiền vốn xây dựng

trung và dài hạn, giám sát, quản lý việc sử dụng vốn Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc ngoài thiết lập các cơ quan chi nhánh ở các địa phơng trên toàn quốc theo khuvực hành chính, còn thiết lập các chi nhánh ở các địa phơng có nhiệm vụ xây dựng khá tập trung và địa phơng sở tại có hạng mục trọng điểm.Ngân hàng Công thơng Trung Quốc đợc tách khỏi ngân hàng Trung -ương năm 1984 Ngân hàng Công thơng Trung Quốc chủ yếu kinh doanh tài chính ở thành phố, phục vụ cho doanh nghiệp công thơng, các cơ quan đoàn thể và công dân thành thị, nhiệm vụ chủ yếu

là hỗ trợ sản xuất công nghiệp, mở rộng lưu thông hàng hoá, hỗ trợ ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy tiến bộ và cải tạo khoa học kĩ thuật, phục vụ cho việc xây dựng kinh tế Cùng với sự cạnh tranh đan xen về dịch vụ giữa các ngân hàng ngày càng khốc liệt, phạm vi nghiệp vụ của ngân hàng Công thơng Trung Quốc mở rộng hơn nữa, theo hớng tổng hợp hoá, NH đã đảm nhiệm dịch vụ cho các doanh nghiệp ở hưởng trấn, nghiệp vụ xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ ngoại hối , đồng thời thành lập các ngân hàng chi nhánh ở nước ngoài

Ngân hàng Trung Quốc được thành lập vào năm 1908 và đã hoạt động với tư cách

là ngân hàng trung ương của Trung Quốc trong thời gian 40 năm dới hình thức góp vốn nhà nớc và t nhân, trong đó sở hữu nhà nớc chiếm đa số

Từ năm 1949, Ngân hàng Trung Hoa chủ yếu tập trung vào nghiệp vụ nhận tiền gửi,cho vay bằng ngoại tệ và thanh toán quốc tế Ngân hàng này có chi nhánh ở tất cả các tỉnh, thành phố, huyện và hoạt động với một hệ thống chi nhánh và đại lý trên toàn cầu.Ngân hàng Bu điện đợc tái lập vào năm 1986 sau 38 năm ngừng hoạt động

ở đại lục Là một ngân hàng cổ phần trong đó cổ đông chính là chính quyền trung ơng và địa phơng Quy mô kinh doanh của Ngân hàng Bưu điện không hạn chế chỉ trong ngành thơng mại, do đó ngân hàng này đã cung cấp dich vụ tài chính trên toànthế giới Là một Ngân hàng đa năng, Ngân hàng Bưu điện có lợi thế cạnh tranh hơn

so với bốn ngân hàng chuyên doanh chỉ đợc kinh doanh theo các chức năng đợc quyđịnh cho tới giữa thập niên 90

Từ cuối thập niên 80, nhiều ngân hàng thơng mại địa phơng đã đợc thành lập và đặt

Trang 33

tại các tỉnh hoặc các đặc khu kinh tế nh: Ngân hàng Phát triển Quảng Đông, Ngân hàng Thơng mại Trung Quốc, Ngân hàng phát triển Thâm Quyến và Ngân hàng phát triển Phố Đông Gần đây, các ngân hàng nớc ngoài đã không ngừng mở cửa chinhánh hoạt động và văn phòng ở Trung Quốc Các chi nhánh này đợc phép tham giacác hoạt động kinh doanh ngoại tệ ở Trung Quốc và gần đây, một số ngân hàng nớc ngoài đợc phép tham gia các hoạt động ngân hàng liên quan tới đồng NDT Một số các ngân hàng t nhân cũng đợc phép hoạt động tại Trung Quốc Ngân hàng Dân Sinh Trung Quốc là ngân hàng t nhân đầu tiên đợc Quốc vụ viện và Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa cho phép hoạt động vào năm 1995 Các ngân hàng t nhân nhận tiền gửi với lãi suất cao hơn so với các tổ chức tài chính lớn và họ cũng cho vay với lãi suất cao hơn so với các ngân hàng lớn Các NHTM TQ không ngừng phát triển cả về quy mô lẫn chất lợng chứng tỏ vai trò của hệ thống NHTM trong nền kinh tế đang tăng lên rất nhanh.Bớc vào thế kỉ 21, Trung Quốc đã xây dựng một

hệ thống tổ chức tài chính hoàn chỉnh với Ngân hàng Trung ơng làm lãnh đạo, NHTM QD và các NHTM khác làm nòng cốt, các hệ thống ngân hàng khác nh ngânhàng chính sách, cơ quan tài chính ngân hàng và cơ quan tài chính ngoại tệ cùng tồntại

3.1.2 Vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc

3.1.2.1 Sự hình thành các khoản nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc

Khác với các quốc gia châu Á khác như Nhật Bản và Thái Lan, nợ xấu là kết quả của những vụ sụp đổ thị trường tài chính và bong bóng tài sản thì nguyên nhân gây

ra nợ xấu của Trung Quốc chính là cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi hoạt động của các NHTM Nhà nước lớn chỉ như những cơ quan hành chính Nhà nước,

có nhiệm vụ cho vay theo chỉ định cho các công ty và dự án Nhà nước vốn làm ăn kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ Những khoản vay này cũng không qua quy trình phân tích tín dụng chặt chẽ nên rủi ro tín dụng là điều không tránh khỏi Vì thế, quá trình xử lý nợ xấu ở Trung Quốc gắn trực tiếp với các biện pháp cải cách được thực hiện bởi Chính phủ nhằm chuyển đổi nền kinh tế Trung Quốc từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường cũng như quá trình tái cấu trúc các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và hệ thống tài chính

3.1.2.2 Quá trình xử lý nợ xấu của Trung Quốc

Quá trình xử lý nợ xấu của Trung Quốc có thể chia thành ba giai đoạn chính:

Giai đoạn thứ nhất, giữa những năm 1990 diễn ra quá trình tái cấu trúc tài chính

nhằm chuyển đổi hệ thống ngân hàng, cụ thể là tách cho vay chính sách khỏi cho vay thương mại bằng cách thành lập 3 ngân hàng chính sách chịu trách nhiệm xử lý các khoản vay chính sách 4 NHTM Nhà nước lớn của Trung Quốc bắt đầu sử dụng cách phân loại nợ thành 5 nhóm theo cách chia của BIS, thay vì 4 nhóm như trước

Trang 34

đây, thực hiện phê duyệt tín dụng một cách độc lập với ít can thiệp hành chính từ phía chính quyền địa phương hơn.

Giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ năm 1999 đến năm 2003, đánh dấu bằng sự thành lập

của 4 công ty quản lý tài sản được Chính phủ tài trợ (Asset Management

Corporation- AMC), mỗi công ty tương ứng với một trong số 4 NHTM Nhà nước lớn (chiếm tới 70% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng), nhằm giải quyết những khoản nợ xấu của 4 ngân hàng này từ trước năm 1996 có tổng giá trị lên tới 1,4 nghìn tỷ NDT (169 tỷ USD), chiếm 19% GDP của Trung Quốc năm 1999 (Bing Wang and Richard Peiser, 2007) Các khoản nợ xấu được chuyển giao tại mức giá trị sổ sách trực tiếp từ 4 NHTM cho 4 AMC tương ứng được thực hiện suốt năm

1999 và 2000 và trách nhiệm của 4 AMC này là phải xử lý hết các khoản nợ xấu này trong vòng 10 năm

Giai đoạn thứ ba, Trung Quốc tập trung vào tái cấu trúc các NHTM Nhà nước bằng

cách mời gọi sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có chọn lọc và niêm yết ra công chúng nhằm tăng tính minh bạch và nâng cao năng lực quản trị của

4 NHTM Nhà nước lớn này

3.1.2.3 Ước tính tổng nợ xấu tồn đọng trong hệ thống tài chính Trung Quốc

Xử lý nợ xấu giai đoạn 1999-2000 của Trung Quốc tập trung vào 4 ngân hàng lớn nhất chi phối hệ thống tài chính

Nợ xấu của Trung Quốc tập trung vào 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất do các ngân hàng này là nguồn lực chủ yếu để tài trợ cho các doanh nghiệp nhà nước Vào những năm 1990, 4 ngân hàng thương mại nhà nước, được gọi là “Big Four” là Ngân hàng Trung Quốc (The Bank of China-BOC), Ngân hàng Công Thương Trung Quốc (Industrial and Commercial Bank of China-ICBC); Ngân hàng Xây Dựng TrungQuốc (Construction Bank of China-CCB) và Ngân hàng Nông Nghiệp Trung Quốc (Agricultural Bank of China-ABC)

Những ngân hàng này chịu tránh nhiệm chính trong việc cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Big Four chiếm 65% hoạt động ngân hàng của Trung Quốc tại thời điểm đó

Theo Ngân hàng thanh toán Quốc tế (BIS), nợ xấu (NPL) của Trung Quốc ước tính

Trang 35

vào khoảng 3.200 tỷ nhân dân tệ (NDT) vào thời điểm năm 2001 Bằng cách thành lập

ra các công ty mua bán nợ là công ty quản lý tài sản (AMC: Asset Management Corporations), Trung Quốc đã xử lý được khoảng 1.400 tỷ NDT nợ xấu trên bảng cân đối của Big Four, chiếm 20,8% dư nợ tín dụng vào thời điểm 1998

3.1.2.3 Triển vọng và những tồn tại về vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc

Sơ đồ 3.1 Mô hình xử lý nợ xấu Trung Quốc.

Bộ tài chính Trung Quốc đã lập ra 4 AMC để mua lại nợ xấu cho Big Four Mỗi AMC

có vốn chủ sở hữu trị giá 10 tỷ NDT Cơ cấu vốn của AMC gồm có 4 nguồn chính:

Trang 36

vốn chủ sở hữu (Bộ Tài Chính góp vốn) do đó đây là khoản tiền mặt; khoản vay nợ từ các định chế tài chính khác (do đó đây cũng là tiền mặt); tiền vay từ Ngân hàng Trungương Trung Quốc (PBOC) và tiền vay từ các AMC qua phát hành trái phiếu kỳ hạn 10năm.

Thực tế vào thời điểm 2000, các AMC không vay được nợ từ các định chế khác Các AMC được PBOC cấp cho khoản vay trị giá 208 tỷ NDT Như vậy, tổng tiền mặt mà các AMC có chỉ là 208 tỷ NDT cộng với 40 tỷ NDT từ các AMC 2, tổng cộng đạt 248

tỷ NDT Quá trình xử lý nợ xấu như sau

Big Four sẽ chuyển giao 14.000 tỷ NDT nợ xấu cho các AMC Các AMC sẽ chuyển giao lại cho Big Four 248 tỷ NDT cộng với số trái phiếu kỳ hạn 10 năm Như vậy, cầnlưu ý ở đây là không phải các AMC phát hành trái phiếu cho các tổ chức tài chính khác để huy động vốn mà là chính các ngân hàng thương mại nợ xấu sẽ là chủ nợ các trái phiếu đó Lúc này, trên bảng cân đối của Big Four nợ xấu sẽ không còn Thay vào

đó, họ nhận được một khoảng tiền mặt trị giá 248 tỷ NDT và trở thành chủ nợ của AMC Vì vậy, bảng cân đối tài sản của các ngân hàng đã được làm sạch đi rất nhiều (vì chỉ xử lý được ½ số nợ xấu của Big Four) Còn trên bảng cân đối tài sản của ACMS, họ sẽ nhận về các khoản nợ xấu

Qua mô hình xử lý nợ xấu của Trung Quốc, hơn 80% nợ xấu (trong tổng cộng 14.000

tỷ NDT nợ xấu được xử lý) là trái phiếu của AMC Để các trái phiếu của các AMC trởnên có giá trị pháp lý và có độ tin cậy, PBOC đứng ra bảo lãnh toàn bộ cho số trái phiếu đó

Ưu điểm trong mô hình xử lý nợ xấu của Trung Quốc là không làm phát sinh nhiều chi phí để xử lý nợ xấu vì thực chất chỉ có 248 tỷ NDT tiền mặt được bơm ra để xử lý cho 14.000 tỷ NDT Điều này sẽ làm giảm số tiền được bơm ra nhằm hạn chế tối thiểuảnh hưởng đến lạm phát Thứ hai, Trung Quốc trung hòa số tiền được bơm ra bằng cách yêu cầu các Big Four dùng số tiền mặt nhận được “nộp” vào quỹ dự trữ tại PBOC (tức tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc) Do đó, không phải ngẫu nhiên mà từ sau năm

2000, dự trữ của các ngân hàng tại PBOC tăng cao đột biến (từ 300 tỷ NDT vào năm

Trang 37

1999 lên trên hơn 1.000 tỷ NDT vào năm 2001) Ngày nay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Trung Quốc thuộc loại cao nhất trên thế giới cũng là vì lý do này.

Tuy nhiên, mô hình này vẫn còn tồn tại nhược điểm Vì hàng năm các AMC phải trả lãi cho các trái phiếu mà họ phát hành nên đặc biệt là trong 2-3 năm đầu hoạt động, các AMC không còn tiền mặt để chi trả Nhiều chuyên gia phân tích ngân hàng tại Trung Quốc cho rằng, PBOC sau đó đã tăng các khoản cho vay cho các AMC để các AMC có tiền trả lãi Như vậy, thực chất trong mô hình xử lý nợ xấu của Trung Quốc, ngoài số tiền được chuyển giao lúc đầu thì hàng năm còn phát sinh thêm dòng tiền trả lãi Điều này sẽ ảnh hưởng đến lạm phát nếu như PBOC không cân đối được dòng tiền hút vào thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc Vì thông tin về các AMC là không minh bạch nên không ai biết được PBOC bơm ra bao nhiêu tiền cho các AMC

Các AMC sau khi mua nợ sẽ được quyền thanh lý tài sản để xử lý nợ Tuy nhiên, một điểm nổi bật là các AMC có quyền chuyển đổi nợ thành vốn cổ phần Sở dĩ AMC có thể làm được điều này vì đối tượng vay nợ chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước Việc hoán đổi nợ thành vốn cổ phần nhằm duy trì quyền kiểm soát của nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước

Trang 38

CHƯƠNG IV

HỆ THỐNG QUẢN LÝ GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC

4.1Cơ quan điều hành chính sách tiền tệ và giám sát hoạt động ngân hàng

Ở Trung Quốc, việc điều hành chính sách tiền tệ và giám sát hoạt động ngân hàng được thực hiện bởi hai tổ chức chính Ngân hàng Nhân Dân Trung Hoa thực hiện chức năng chính của ngân hàng trung ương là điều hành chính sách tiền tệ với mô hình tổ chức

giống như Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ (FED) gồm hội sở chính và các chi nhánh khu vực Ủy ban Giám sát Hoạt động Ngân hàng thực hiện việc giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng

Với mô hình tổ chức như hiện nay, nhiều người cho rằng, Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa đã giảm đáng kể sự can thiệp của các chính quyền địa

phương như ng Thực ra đây là giai đoạn sắp xếp lại thì đúng hơn vì một số ngân hàng đã được thành lập trước đó.

4.2 Ủy ban Kiểm soát Ngân hàng Trung Quốc (CBRC)

CBRC là cơ quan trực thuộc Quốc Vụ Viện, được thành lập với mục đích tăng cường, cải thiện hoạt động quản lý ngân hàng của Quốc Vụ Viện, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, tính ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng Trung Quốc.Trong tuyên bố thành lập, CBRC thông báo, ưu tiên số 1 của họ là cải thiện công tác quản lý tại 4 ngân hàng quốc doanh chủ chốt Đây là các cột trụ của hệ thống ngân hàng Trung Quốc,4 ngân hàng này đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các ngân hàng nước ngoài

Gần một tháng sau khi chính thức thành lập, ủy Ban kiểm soát Ngân Hàng Trung Quốc (CBRC) đã mời các chuyên gia ngân hàng giàu kinh nghiệm của thế giới tư vấn cho chiến lược phát triển khu vực ngân hàng và hệ thống ngân giám sát hàng trung quốc Điều đáng chú ý nhất là các chuyên gia này được tiếp cận thông tin và

tư liệu về hoạt động của các ngân hàng Trung Quốc

(CBRC) sẽ tăng cường giám sát các ngân hàng và tổ chức tín dụng bằng cách kiểm tra đột xuất tình hình nợ xấu , thúc đẩy cải cách toàn diện trong các ngân

Ngày đăng: 21/03/2013, 17:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Số trang - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
ng Số trang (Trang 8)
Bảng 8.3 :  Cán cân thương mại của Nhật Bản với - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
Bảng 8.3 Cán cân thương mại của Nhật Bản với (Trang 9)
Hình 1: Trụ sở chính của Ngân hàng Trung Quốc - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
Hình 1 Trụ sở chính của Ngân hàng Trung Quốc (Trang 14)
Sơ đồ 3.1  Mô hình xử lý nợ xấu Trung Quốc. - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
Sơ đồ 3.1 Mô hình xử lý nợ xấu Trung Quốc (Trang 35)
Hình 8.1 Biểu đồ tỷ giá ngoại tệ của Trung Quốc / Hoa Kỳ - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
Hình 8.1 Biểu đồ tỷ giá ngoại tệ của Trung Quốc / Hoa Kỳ (Trang 60)
Hình 8.2 : Biểu đồ Tỷ giá hối đoái giữa Nhân dân tệ với đô la Mỹ tháng  1 và - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
Hình 8.2 Biểu đồ Tỷ giá hối đoái giữa Nhân dân tệ với đô la Mỹ tháng 1 và (Trang 61)
Bảng 1 cho thấy cán cân thương mại của Mỹ với Trung Quốc trong giai đoạn - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
Bảng 1 cho thấy cán cân thương mại của Mỹ với Trung Quốc trong giai đoạn (Trang 62)
Bảng 8. 2: Cán cân thương mại của EU với Trung Quốc từ năm 2006-2010 - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
Bảng 8. 2: Cán cân thương mại của EU với Trung Quốc từ năm 2006-2010 (Trang 62)
Hình 8.4 : Biểu đồ Cán cân thương mại của EU với Trung Quốc từ năm 2006 – - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
Hình 8.4 Biểu đồ Cán cân thương mại của EU với Trung Quốc từ năm 2006 – (Trang 63)
Bảng 8.3 :  Cán cân thương mại của Nhật Bản với Trung Quốc từ năm 2005-2009 - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
Bảng 8.3 Cán cân thương mại của Nhật Bản với Trung Quốc từ năm 2005-2009 (Trang 63)
Hình 8.5 :  Biểu đồ Cán cân thương mại của Nhật Bản với Trung Quốc từ năm - LUẬN VĂN ngân hàng trung quốcx
Hình 8.5 Biểu đồ Cán cân thương mại của Nhật Bản với Trung Quốc từ năm (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w