Rất tự nhiên khi xuất hiện câu hỏi: Liệu tiến trình này có cuối cùng chạm tới điểm kết thúc, một lý thuyết tối hậu cho vũ trụ có thể bao gộp tất cả các lực và tiên đoán mọi quan sát chún
Trang 4I
Mỗi chúng ta tồn tại, nhưng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi
Và trong chốc lát ấy khám phá chỉ một mẩu nhỏ của toàn bộ vũ trụ Thế
nhưng con người là một giống loài biết tò mò Ta băn khoăn, ta tìm câu trả lời Sống trong một vũ trụ mênh mông cứ lần lượt tử tế rồi tàn nhẫn, ngắm nhìn thượng giới thăm thẳm bên trên, người ta vẫn thường luôn băn khoăn với một tập hợp những câu hỏi kiểu như: Làm sao ta hiểu được thế giới ta đang sống trong đó? Vũ trụ hành xử như thế nào? Đâu là bản chất của thực tại? Tất cả đến từ đâu? Vũ trụ có cần một đấng sáng tạo? Phần lớn chúng ta không bỏ tất cả thời gian bận tâm tới những câu hỏi này, nhưng hầu hết chúng ta đều bận tâm tới chúng vào một lúc nào đó trong khoảnh thời gian của mình
Theo truyền thống thì tuýp những câu hỏi này là dành cho triết học, nhưng triết học đã chết từ lâu Nó không theo kịp sự phát triển của khoa học, đặc biệt là vật lý Các nhà khoa học đã trở thành những người mang ngọn đuốc khám phá cho sứ mệnh đi tìm tri thức Mục đích của quyển sách này là đưa ra những câu trả lời được đề xuất từ những khám phá và tiến triển trong các lý thuyết gần đây Chúng dẫn ta tới một bức tranh vũ trụ mới rất khác biệt về vũ trụ và chỗ của chúng ta trong đó so với vũ trụ truyền thống mà chúng ta vẫn biết, và bức tranh đó thậm chí còn khác biệt ngay với những gì chúng ta đã vẽ nên chỉ một hai thập kỉ trước đó Tuy nhiên, những đường phác họa cho khái niệm mới này có thể lần ngược lại từ trước đó gần một thế kỉ
Theo khái niệm truyền thống về vũ trụ, mọi đối tượng chuyển động theo những quỹ đạo xác định cụ thể và có một lịch sử xác định Chúng ta có thể xác định vị trí chính xác của chúng tại mỗi thời điểm Dù cho lối miêu tả này rất thành công cho các mục đích thường ngày, vào thập niên 1920 người ta phát hiện rằng nó không thể miêu tả chính xác các hành vi có vẻ kì quặc quan sát được trên các thực thể ở phạm vi nguyên tử và dưới nguyên tử Thay vào đó là sự cần thiết phải tiếp nhận một cơ cấu vật lý mới, gọi là vật lý lượng tử Các lý thuyết lượng tử hóa ra vừa chính xác một cách đáng ngạc nhiên khi được dùng để dự đoán các hiện tượng ở phạm vi này, đồng thời
có thể tái tạo ra những dự đoán của các lý thuyết cổ điển khi áp dụng cho thế giới vĩ mô trong cuộc sống thường ngày Dù vậy, lý thuyết lượng tử và cổ điển lại dựa trên những khái niệm rất khác nhau về thực tại vật lý
Trang 5Thuyết lượng tử có thể được trình bày theo nhiều cách khác nhau,
nhưng cách mô tả gần với trực giác nhất đã được đề ra bởi Richard (Dick)
Feynman, một nhân vật muôn màu muôn vẻ làm việc tại Viện Công nghệ
California (California Institution of Technology – Caltech - lnd) và chơi trống
vỗ tại một con ngõ nối ra phố Theo Feynman, một hệ không chỉ có một lịch
sử mà là mọi lịch sử khả dĩ Trong khi đi tìm các câu trả lời, chúng ta sẽ giải thích chi tiết cách tiếp cận của Feynman, và áp dụng nó để khám phá ý
tưởng về một vũ trụ mà bản thân nó không có một lịch sử duy nhất, hay
thậm chí cũng không có một sự tồn tại độc lập Đó dường như là một ý
tưởng khác biệt từ căn bản, thậm chí đối với nhiều nhà vật lý Quả thật,
giống như nhiều ý tưởng trong khoa học ngày nay, nó có vẻ vi phạm trực
giác chung Nhưng trực giác chung lại dựa trên kinh nghiệm hằng ngày của chúng ta, không dựa trên bản thân vũ trụ như nó được phô bày qua các kì
quan công nghệ có thể cho phép chúng ta nhìn sâu vào các nguyên tử hoặc ngoảnh ngược về vũ trụ thuở xa xưa
Trước thời của vật lý hiện đại người ta vẫn có một niềm tin tổng quát là tất
cả kiến thức của thế giới có thể đạt được từ những quan sát trực tiếp, mọi vật tồn tại theo cách chúng hiện ra, và được nhận thức thông qua các giác quan của chúng ta Tuy nhiên thành công ngoạn mục của vật lý hiện đại, dựa trên những khái niệm giống như của Feynman vốn xung đột với kinh nghiệm hằng ngày, đã cho thấy chuyện đó không thành vấn đề Cái nhìn ngờ nghệch về thực tại từ đó không thể tương thích với vật lý hiện đại Để đương đầu với những nghịch lý ấy chúng ta sẽ tiếp thu một lối tiếp cận gọi là thực tại phụ thuộc mô hình luận Nó dựa trên ý tưởng rằng bộ não chúng ta diễn dịch tín hiệu vào từ các cơ quan cảm nhận bằng cách tạo ra một mô hình của thế giới Một khi mô hình đó giải thích thành công các hiện tượng, chúng ta có xu hướng gán cho nó, cũng như các yếu tố và khái niệm tạo nên nó, phẩm chất của thực tại hay còn gọi là chân
lý tuyệt đối Nhưng có những cách khác nhau để mô hình hóa cùng một tình huống vật lý, mỗi cách áp dụng những yếu tố và khái niệm cơ bản khác nhau
“…Và đây triết lý của tôi”
Trang 6Nếu hai lý thuyết vật lý hay mô hình dự đoán chính xác cùng một sự kiện, không
ai có thể nói cái nào thực hơn cái nào; thay vào đó, chúng ta tự do chọn bất kì
mô hình nào là thuận tiện nhất
Suốt lịch sử khoa học, chúng ta đã phát hiện ra một chuỗi các lý thuyết hay
mô hình càng về sau càng tốt hơn cái có trước nó, từ Plato tới thuyết cổ điển của Newton cho tới lý thuyết lượng tử hiện đại Rất tự nhiên khi xuất hiện câu hỏi: Liệu tiến trình này có cuối cùng chạm tới điểm kết thúc, một lý thuyết tối hậu cho vũ trụ có thể bao gộp tất cả các lực và tiên đoán mọi quan sát chúng ta có thể thấy, hay chúng ta sẽ mãi mãi tiếp tục tìm ra những lý thuyết tốt hơn, nhưng không bao giờ chạm tới được một lý thuyết không thể cải tiến thêm được nữa? Chúng ta chưa có câu trả lời nhất định cho câu hỏi này, nhưng hiện giờ ta đang
có một ứng viên cho lý thuyết tối thượng về mọi thứ, nếu có, gọi là thuyết M Thuyết M là mô hình duy nhất có tất cả các đặc tính mà chúng ta nghĩ lý thuyết cuối cùng phải có, và nó sẽ là lý thuyết mà phần lớn thảo luận sau này của
chúng ta sẽ dựa trên nó
Thuyết M không phải là lý thuyết theo lối nghĩ thông thường Nó là cả một gia đình các lý thuyết khác nhau, mỗi cái là một cách mô tả tốt cho riêng những quan sát trong một phạm vi các tình huống vật lý Nó từa tựa như bản đồ Như vẫn thường biết, người ta không thể vẽ toàn bộ bề mật trái đất trên một bản đồ đơn lẻ Phép chiếu Mercator thông dụng dùng cho các bản đồ thế giới luôn khiến các khu vực phình rộng dần ra về phía bắc và nam mà lại không thể che phủ cả cực Bắc cũng như cực Nam Để vẽ được trọn vẹn trái đất, người ta phải dùng một bộ các bản đồ Mỗi cái che phủ một khu vực có giới hạn Khi hai bản đồ chồng lấn lên nhau, chúng sẽ chỉ tới cùng một khu vực Thuyết M cũng tương
tự Các lý thuyết khác nhau trong gia đình thuyết M có thể trông rất khác nhau, nhưng chúng đều có thể coi như những khía cạnh của một lý thuyết cơ sở Tất
cả chúng đều là các phiên bản của thuyết M và chỉ áp dụng được trong một số phạm vi có giới hạn – ví dụ, khi các đại lượng cụ thể giống như năng lượng vẫn còn bé Giống như những bản đồ lấn lên nhau trong phép chiếu Mercator, khi phạm vi của các phiên bản khác nhau này chồng lấn, chúng sẽ dự đoán cùng một hiện tượng Nhưng cũng như việc không có bản đồ phẳng nào đủ tốt để đại diện cho toàn bộ bề mặt trái đất, không có một lý thuyết đơn lẻ nào có thể là đại diện tốt cho mọi quan sát trong mọi tình huống
Trang 7Chúng ta sẽ mô tả làm cách nào thuyết M có thể sẽ đưa ra câu trả lời cho tạo hóa Theo thuyết M, vũ trụ của chúng ta không phải là vũ trụ duy nhất
Ngược lại, thuyết M dự đoán vô vàn các vũ trụ được tạo ra từ hư không Sự kiến tạo của chúng không đòi hỏi sự can thiệp của một đấng siêu nhiên hay còn gọi là Chúa Thay vào đó, vô vàn các vũ trụ này ló dạng một cách tự nhiên từ các định luật vật lý Chúng là các dự đoán của khoa học Mỗi vũ trụ đó có nhiều lịch sử khả dĩ và nhiều trạng thái có thể có vào những thời điểm về sau, ví dụ như vào những lúc như hiện tại, rất lâu sau sự bắt đầu của chúng Phần lớn những trạng thái này là hoàn toàn khác biệt với vũ trụ chúng ta quan sát được và hoàn toàn không thích hợp cho bất kì dạng sống nào Chỉ một số rất ít cho phép những sinh vật như chúng ta tồn tại Nên chính sự hiện diện của chúng ta đã chọn ra từ mênh mông trong số này này chỉ những vũ trụ tương thích với sự tồn tại của chúng ta Mặc dù chúng ta bé mọn và không đáng kể so với tầm vóc vũ trụ, điều này khiến ta thấy mình trong vai chúa tể của tạo hóa
Để hiểu được vũ trụ ớ mức độ sâu sắc nhất, chúng ta không chỉ cần biết
cách mà nó hành xử, mà còn phải vì sao nó hành xử
Vì sao có thứ gì đó hơn là hư không?
Vì sao chúng ta tồn tại?
Tại sao là bộ các định luật này mà không phải một tập hợp nào khác?
Đây là Câu hỏi Tối Hậu của Sự Sống, Vũ Trụ và của Mọi thứ Chúng ta sẽ
nỗ lực trả lời những câu hỏi đó trong quyển sách này Câu trả lời của chúng ta
sẽ không giống như trong “Cẩm nang cho người quá giang tới Ngân Hà”, đơn
giản là “42”
Bản đồ thế giới Thực tế có thể đòi hỏi một chuỗi các thuyết chồng lấn lên
nhau để đại diện cho vũ trụ, cũng như ta cần các bản đồ gối chồng lên nhau
để đại diện cho trái đất
Trang 9Skoll chú sói sống trong rừng Woe
Cứ bay ra là lại dọa chị Hằng
Mặt Trời kia sao cứ mãi trốn chạy
Sói Hati dòng dõi của Hridvinir
Trong thần thoại Viking, Skoll và Hati rượt đuổi mặt trăng và mặt trời
Khi hai con sói chộp được một trong hai, thiên thực sẽ xuất hiện Khi điều đó xảy ra, con người trên mặt đất lại nháo nhào đi giải cứu mặt trăng, mặt trời bằng cách gây ra càng nhiều tiếng động càng tốt nhằm dọa bọn sói Cũng có những thần thoại tương tự vậy trong các nền văn hóa khác Nhưng sau một thời gian người ta phải nhận ra là mặt trời hay mặt trăng rồi cũng ló dạng khỏi thiên thực bất chấp việc họ có chạy lòng vòng vừa la hét vừa gõ vào đồ vật hay không Thêm một thời gian nữa người ta nhận ra là thiên thực không xảy ra ngẫu nhiên: chúng xảy ra theo những kiểu mẫu thường xuyên lặp lại chính chúng Trình tự này dễ thấy nhất đối với mặt trăng và đã cho phép người Babylon cổ đại dự đoán khá chính xác các lần nguyệt thực dù họ
không nhận ra rằng đó là do trái đất đã ngăn cản ánh sáng từ mặt trời Nhật thực vốn khó dự đoán hơn nhiều bởi vì nó chỉ có thể thấy được trong một vệt hẹp rộng khoảng 30 dặm trên trái đất Tuy nhiên, một khi đã nắm bắt được, các kiểu mẫu ấy chứng tỏ rằng thiên thực chẳng phải dựa trên những cơn hứng tùy tiện của các đấng siêu nhiên, mà thực ra đều bị chi phối bởi các định luật
Trang 10Mặc cho những thành công trong dự đoán chuyển động của các thiên thể, phần lớn sự kiện trong tự nhiên trông không thề đoán trước đối với tổ tiên của chúng ta Núi lửa, động đất, bão tố, dịch hại và cả cái móng chân mọc vẹo đều có vẻ như xảy ra không có lý do rõ ràng hay không theo quy cách nào Vào thời cổ đại thật là hiển nhiên khi đổ cho một phe phái những thần thể ma mãnh hay quái ác là nguyên nhân cho những vận động bạo lực của tự nhiên Tai họa thường được giáng xuống như là dấu hiệu cho thấy ai
đó đã xúc phạm các vị thần Ví dụ, vào khoảng năm 5600 TCN ngọn núi lửa Mazama ở Oregon bùng nổ, mưa đất đá và tro bụi cháy rực hàng năm trời,
và sau nhiều năm mưa rơi nước dâng đầy miệng hố mà ngày nay gọi là Hồ Lõm Người da đỏ Klamath ở vùng Oregon có một truyền thuyết khá ăn khớp với các chi tiết địa kiến tạo của sự kiện nhưng họ cho thêm một chút kịch tính bằng cách mô tả một con người như nguồn căn của thảm họa này
Năng lực tội lỗi của con người thật lớn đến nỗi họ luôn luôn tìm ra cách nào
đó để kết tội mình Theo như truyền thuyết, Llao, tù trưởng của Âm Giới phải lòng cô con gái xinh đẹp của vị tù trưởng Klamath Cô khước từ ông ta, và
để trả thù Llao tìm cách hủy diệt Klamath trong lửa May mắn thay, theo
truyền thuyết, Skell, tù trưởng của Thượng Giới đã rủ lòng thương con người
và giao chiến với địch thủ âm giới của ông Tới cuối cùng Llao, trọng thương, rút về bên trong ngọn Mazana, để lại một cái lỗ khổng lồ, chính là hố lõm chứa đầy nước sau này
Thiên thực Người cổ đại chẳng biết được điều thật sự gây ra thiên
thực, nhưng họ hẳn đã phải chú ý tới quy cách xảy ra của chúng
Trang 11Sự mông muội đối với các cách thức của tự nhiên dẫn những người cổ đại tới việc chế tác ra những vị thần làm chúa tể tất cả hay từng khía cạnh đời sống con người Có những vị thần của tình yêu và chiến tranh; của mặt trời, mặt trăng, và của bầu trời; thần của đại dương và sông suối; thần của mưa và sấm chớp; và cả động đất hay núi lửa Khi các thấy hài lòng, loài người được đối đãi bằng thời tiết tốt lành, hòa bình và tránh được thảm họa thiên nhiên hay bệnh tật Khi các thần thấy mất lòng, họ giáng xuống nào hạn hán, nào chiến tranh, dịch bệnh và chết chóc Chính vì liên hệ giữa
nguyên nhân và hậu quả là vô hình trong mắt họ, những vị thần có vẻ bất khả thấu hiểu, và con người lệ thuộc sự nhân từ của họ Tuy nhiên kể từ Thales của Miletus (khoảng 624 TCN – khoảng 546 TCN) gần 2600 năm về trước, mọi thứ bắt đầu thay đổi Tư tưởng tin rằng tự nhiên tuân theo những nguyên tắc phi mâu thuẫn vốn có thể giải mã được đã nổi lên Và rồi bắt đầu cho một quá trình lâu dài nhằm thay thế cho niềm tin vào sự cai trị của các vị thần bằng khái niệm về một vũ trụ chi phối bởi các định luật tự nhiên, và được tạo ra theo một bản thảo mà ngày nào đó ta có thể học được cách đọc
nó
Xét trên chiều dài lịch sử nhân loại, chất vấn khoa học là một nỗ lực còn
rất mới Giống loài của chúng ta, Người hiểu biết (Homo sapiens), bắt nguồn
từ vùng Châu phi cận Shahara vào khoảng năm 200,000 TCN Ngôn ngữ viết chỉ xuất hiện từ năm 7000 TCN, là sản phẩm của những cộng đồng quây quần quanh các mùa vụ ngũ cốc (Một số trong các bản viết cổ nhất liên quan tới khẩu phần bia hằng ngày cho mỗi công dân.) Những ghi chép sớm nhất từ nền văn minh vĩ đại của Hy Lạp cổ đại có từ thế kỉ thứ chín TCN, nhưng đỉnh cao của nền văn minh đó, “giai đoạn cổ điển”, phải đến nhiều trăm năm sau đó, bắt đầu trước năm 500 TCN một chút Theo Aristotle (384 TCN – 322 TCN), chính vào lúc đó Thales đã lần đầu tiên phát triển tư tưởng
về một thế giới mà ta có thể hiểu được, rằng những việc phức tạp xảy ra xung quanh ta có thể gói gọn lại thành những nguyên lý đơn giản hơn và được giải thích mà không cần viện tới các giải thích mang tính huyền bí hay thần thánh
Thales được tin là đã lần đầu tiên dự đoán đúng hiện tượng nhật thực vào năm 585 TCN dù cho sự chính xác của dự đoán đó cỏ vẻ như chỉ là một
cú ăn may Ông là một nhân vật ẩn khuất không để lại ghi chép nào của mình Quê hương của Thales là một trong những trung tâm trí tuệ của vùng đất Ionia, định cư bởi những người Hy Lạp và đã vươn sức ảnh hưởng của mình từ Thổ Nhĩ Kỳ tới tận nước Ý Khoa học Ionia là một nỗ lực nổi bật bởi niềm hứng thú trong việc lột tả những định luật cơ sở để giải thích các hiện tượng tự nhiên, một cột mốc kì vĩ trong lịch sử tư tưởng nhân loại Hướng tiếp cận của họ đầy lý lẽ và trong nhiều trường hợp dẫn tới những kết luận tương tự một cách đáng ngạc nhiên so với các phương thức tiên tiến hơn của chúng ta ngày nay mà chúng ta tin vào Nó đã đại diện cho một khởi đầu
Trang 12lớn lao Nhưng qua hàng thế kỉ, phần nhiều khoa học Ionia đã bị lãng quên – chỉ loay hoay được tái khám phá hoặc là tái sáng tạo, lắm lúc hơn một lần Theo truyền thuyết, trình bày toán học đầu tiên chúng ta ngày nay có thể gọi là một định luật của tự nhiên được lần ngược thời gian tới thời của một người Ionia tên là Pythagoras (khoảng 580 TCN – khoảng 490 TCN), nổi tiếng với định lý mang tên ông: bình phương cạnh huyền (cạnh dài nhất) của một tam giác vuông bằng tổng các bình phương của hai cạnh còn lại
Pythagoras còn được cho là đã phát hiện ra quan hệ số học giữa chiều dài dây trong các nhạc cụ với các tổ hợp họa âm của âm thanh Theo ngôn ngữ ngày nay ta sẽ diễn tả quan hệ đó bằng phát biểu là tần số – số dao động trong một giây – của một dây đang rung động dưới áp lực cố định thì tỉ lệ nghịch với chiều dài của dây Từ góc nhìn thực tế, điều này giải thích tại sao đàn guitar bass phải có dây dài hơn đàn guitar thường Pythagoras không hẳn như đã thực sự khám phá ra điều này – ông cũng không phát hiện ra định lý mang tên ông – nhưng có bằng chứng là một vài quan hệ giữa dây và
âm vực đã được biết đến trong thời của ông Nếu vậy, người ta có thể gọi công thức toán học đơn giản đó là ví dụ đầu tiên của thứ mà chúng ta bây giờ gọi là vật lý lý thuyết
Tách biệt với định lý của Pythagoras về các dây dao động, các định luật vật lý duy nhất được biết đến chính xác vào thời cổ đại là ba định luật được chi tiết hóa bởi Archimedes (khoảng 287 TCN – khoảng 212 TCN), đích thực là nhà vật lý nhất đáng kính vào thời xưa Theo thuật ngữ ngày nay, định luật về đòn bẩy giải thích cho việc các lực nhỏ có thể nâng các vật có trọng lượng lớn bởi vì đòn bẩy khuếch đại một lực dựa trên tỉ số giữa các
Ionia Các học giả ở Ionia nằm trong số những người đầu tiên đã giải thích các hiện tượng tự nhiên bằng các định luật tự nhiên thay vì huyền thoại hay thần lý
Trang 13khoảng cách tính từ điểm tựa của đòn bẩy Định luật về sự nổi phát biểu rằng một vật nhúng vào một chất lỏng sẽ chịu một lực hướng lên cân bằng với trọng lực của khối chất lỏng bị chiếm chỗ Và định luật phản xạ xác nhận rằng góc giữa chùm sáng tới và gương bằng với góc giữa gương và chùm phản xạ Nhưng Archimedes đã không gọi chúng là các định luật, cũng
không giải thích chúng dựa trên quan sát và đo đạc Thay vào đó ông coi chúng như các định lý thuần toán học, trong một hệ thống mang tính tiên đề giống như hệ thống mà Euclid đã tạo ra cho hình học
Trong khi ảnh hưởng của Ionia lan tỏa, lại xuất hiện những cá nhân khác thấy rằng vũ trụ sở hữu một trật tự nội tại, một trật tự có thể hiểu được thông qua quan sát và lý luận Anaximander (khoảng 610 TCN – khoảng 546 TCN), một người bạn và cũng có thể là học trò của Thales, lập luận rằng vì những đứa trẻ sơ sinh là bất lực, nếu con người đầu tiên bằng cách nào đó xuất hiện trên trái đất như là một đứa trẻ sơ sinh, nó phải không thể tồn tại được Với ý tưởng có thể là sự mơ hồ đầu tiên của con người về sự tiến hóa, Anaximander lập luận, con người vì vậy phải tiến hóa từ những loài động vật khác có con non rắn rỏi hơn Ở Sicily, Empedocles (khoảng 490 TCN – khoảng 430 TCN) đã quan sát công dụng của một dụng cụ gọi là clepsydra Đôi khi dùng như vật múc, nó gồm một khối cầu với một chiếc cổ loe rộng và một lỗ dưới đáy cầu Khi nhấn chìm trong nước nó sẽ đầy, và nếu như chiếc cổ loe được bít lại, món đồ này có thể được nhấc ra mà
không làm nước rơi khỏi cái lỗ Empedocles chú ý rằng khi ta bít chiếc cổ lại trước khi nhúng chìm, chiếc clepsydra sẽ không thể đầy được Ông lập luận rằng điều gì đó vô hình phải ngăn không cho nước chui vào khối cầu qua cái
lỗ – Empedocles đã phát hiện ra thành tố vật chất mà chúng ta gọi là không khí
Cùng khoảng thời gian đó, ở một vùng lãnh địa Ionia ở phía bắc Hy Lạp, Democritus (khoảng 460 TCN – khoảng 370 TCN) cũng đang suy tư điều gì
sẽ xảy ra khi ta bẻ hay cắt một vật thành nhiều mảnh Ông lập luận rằng bạn phải không thể tiếp tục quá trình này vô hạn Thay vào đó, ông giả thuyết rằng mọi vật, kể cả các vật sống, được tạo nên từ các hạt cơ sở không thể bị cắt hay bẻ thành nhiều mảnh được Ông đặt tên cho các hạt tận cùng này là
atoms (nguyên tử), từ tính từ Hy Lạp nghĩa là “không cắt được nữa”
Democritus tin rằng mọi hiện tượng vật chất đều là sản phẩm của sự va chạm của các nguyên tử Quan điểm của ông, tạm gọi thuyết nguyên tử, cho rằng mọi hạt di chuyển chung quanh trong không gian, và, trừ phi có xáo động, sẽ di chuyển thẳng tiến mãi mãi Ngày nay ý tưởng đó được gọi là định luật quán tính Ý tưởng cách mạng cho rằng chúng ta chì là những cư dân bình thường của vũ trụ, không phải những thực thể đặc biệt tách biệt tồn tại ở trung tâm vũ trụ, đã đạt được nhờ Aristarchus (khoảng 310 TCN –
khoảng 230 TCN), một trong số những nhà khoa học Ionia cuối cùng Chỉ một trong số những tính toán của ông tồn tại, một phân tích hình học phức tạp từ những quan sát thực tế kĩ lưỡng ông thu được từ kích thước bóng của
Trang 14trái đất trên mặt trăng khi có nguyệt thực Ông kết luận rằng mặt trời phải to hơn nhiều so với trái đất Có lẽ có cảm hứng từ ý tưởng rằng những vật nhỏ xíu phải chuyển động xung quanh những vật lớn xác mà không phải kiểu nào khác, Aristarchus là người đầu tiên đã tuyên bố rằng trái đất không là trung tâm trong hệ hành tinh của chúng ta, thay vào đó nó và các hành tinh khác chuyển động theo quỹ đạo xoay xung quanh mặt trời lớn hơn nhiều Nó là một bước nhỏ từ ý tưởng trái đất chỉ là một hành tinh cho tới ý tưởng rằng mặt trời của chúng ta cũng không có gì đặt biệt Aristarchus ngờ rằng đó chính là vấn đề và ông tin rằng các ngôi sao ta thấy trên bầu trời đêm thật ra cũng không hơn gì ngoài những mặt trời xa xăm
Những người Ionia chỉ thuộc về một trong số nhiều trường phái của triết học Hy Lạp cổ đại, mỗi phái có những truyền thống khác nhau và thường xuyên xung đột Không may, quan điểm về tự nhiên của những người Ionia – rằng tự nhiên có thể được giải thích thông qua các định luật tổng quát và rút gọn thành một tập hợp các nguyên lý – chỉ phát huy ảnh hưởng mạnh mẽ trong vài thề kỉ Một lý do cho điều đó là vì các giả thuyết của Ionia thường
có vẻ như không có chỗ đứng cho khái niệm ý chí tự do hay mục đích, hay ý niệm về các vị thần có thể can thiệp vào các công việc của thế giới Đây là một khước từ đáng kinh ngạc đã gây bất an một cách sâu sắc cho nhiều bộ
óc Hy Lạp cũng như nó vẫn còn làm đối với nhiều người ngày nay Nhà triết học Epirurus (341 TCN – 270 TCN), lấy làm ví dụ, đã phản đối thuyết nguyên
tử trên lập trường “tốt hơn nên tuân theo những huyền thoại về các vị thần thay vì trở thành “nô lệ” cho sự an bài của các nhà triết học tự nhiên.”
Aristole cũng khước từ khái niệm nguyên tử vì ông không thể chấp nhận ý tưởng rằng con người lại được tổng hợp từ những vật thể vô hồn, không sự sống Ý tưởng của những người Ionia về một vũ trụ không có con người làm trung tâm là một cột mốc trong hiểu biết của chúng ta về vũ trụ, nhưng nó là một tư tưởng rồi sẽ bị đình trệ mà không được đoái hoài, hay được chấp nhận rộng rãi trở lại, tới tận thời của Galileo, gần hai mươi thế kỉ sau đó
Dù có sáng tỏ như những phỏng đoán về tự nhiên rút ra từ đó, các tư tưởng của người Hy Lạp cổ đại sẽ không thể vượt qua khảo hạch để thành khoa học có hiệu lực trong thời hiện đại Vì một lẽ, những người Hy Lạp cổ đại đã không sáng tạo ra các phương pháp mang tính khoa học, các giả thuyết của họ không được phát triển nhằm mục đích tìm kiếm sự xác minh từ thực nghiệm Do thế nếu một học giả tuyên bố một nguyên tử di chuyển theo một đường thẳng cho tới khi nó va phải một nguyên tử thứ hai và một học giả khác tuyên bố một nguyên tử di chuyển theo đường thẳng cho tới khi nó đâm vào một quái vật ba mắt, thì cũng chẳng có cách nào khách quan đề dàn xếp cuộc tranh luận Cùng với đó, không có sự phân biệt rạch ròi giữa các quy chế của con người và các định luật vật lý Trong thế kỉ thứ năm
TCN, ta lấy làm ví dụ, Anaximaner viết rằng mọi thứ nổi lên từ một chất cơ bản, và sẽ quay về là nó, nhằm tránh “nộp phạt và trả giá cho sự bất lương của chúng” Và theo như nhà triết học Ionia Heraclitus (khoảng 535 TCN –
Trang 15khoảng 475 TCN), mặt trời cư xử như nó vẫn vậy vì ngược lại nữ thần công
lý sẽ đi triệt hạ nó Nhiều trăm năm sau đó, những môn đồ Không Sân Si, một trường phái của các triết gia Hy Lạp nổi lên khoảng thế kỉ thứ 3 TCN, đã rạch ròi giữa các quy chế của con người với các định luật tự nhiên, nhưng
họ cũng gộp luôn các nhân cách mà họ coi là thuộc về vũ trụ – như sự tôn kính Chúa và phục tùng cha mẹ – vào chung chỗ với các định luật tự nhiên Một cách ngược ngạo giống vậy, họ thường miêu tả các quá trình vật lý
trong khuôn khổ hợp pháp và tin rằng chúng cần phải được tuân phục, mặt
dù những đối tượng được đòi hỏi phải “tuân thủ” các định luật là không có sự sống Nếu bạn nghĩ khó mà bắt người ta đi đúng luật giao thông, thử tưởng tượng việc thuyết phục một thiên thạch di chuyển trên một quỹ đạo ellipse Truyền thống này tiếp tục ảnh hưởng lên những bộ óc kế thừa các nhà khoa học Hy Lạp nhiều thế kỉ tiếp theo Vào khoảng thế kỉ thứ mười ba nhà triết học Thiên Chúa sơ khai Thomas Aquinas (khoảng 1225 – 1274) đã tiếp thu quan điểm này và dùng nó để xác nhận cho sự tồn tại của Thượng đế, ông viết “ Rõ ràng rằng (các thực thể không sống) chạm tới kết thúc của mình không phải bằng xác suất mà là bằng dự định Cho nên phải có một thực thể cá nhân với trí tuệ mà từ đó, mọi vật được yêu cầu tới kết thúc của
chúng.” Thậm chí mãi tới thế kỉ mười sáu, nhà chiêm tinh học vĩ đại người Đức Johannes Kepler (1571 – 1630) vẫn còn tin rằng các hành tinh sở hữu nhận thức giác quan và tuân theo các định luật về chuyển động được chúng nắm bắt bằng “tư duy”
Tư tưởng cho rằng các định luật phải được phục tùng có chủ ý phản ánh sự tập trung của những người cổ đại đối với việc vì sao tự nhiên biểu hiện như cách nó đang biểu hiện hơn là nó biểu hiện như thế nào Aristotle
là một trong những người đề xuất hàng đầu cho cách tiếp cận này, khước từ
ý tưởng rằng khoa học chủ yếu dựa các quan sát Các đo đạc tỉ mỉ và tín toán toán học thường gặp đủ kiểu khó khăn vào thời cổ đại Ý tưởng về cơ
số mười mà ta thấy rất tiện lợi ngày nay trong các phép toán chỉ có khoảng
từ năm 700 SCN, khi người Ấn Độ có những bước tiến to lớn cho việc biến
nó thành một công cụ toán học mạnh mẽ Các kí hiệu cho phép cộng và trừ vẫn chưa xuất hiện mãi tới tận thế kỉ mười lăm Và dấu bằng cũng như các đồng hồ đo được chi tiết tới từng giây cũng chưa xuất hiện cho tới tận thế kỉ mười sáu
Aristotle, dù vậy, vẫn không coi những vấn đề trong đo đạc và tính toán
là trở ngại để phát triển một môn vật lý có thể đưa ra các dự đoán định
lượng Hơn nữa, ông thấy không cần thiết phải làm chuyện đó Thay vào đó, Aristotle xây dựng vật lý của ông dựa trên các nguyên lý cuốn hút ông một cách hàn lâm Ông che lấp sự thật mà ông cảm thấy không thu hút và tập trung nỗ lực cho các lý do mà mọi việc xảy ra, với khá ít công sức bỏ ra để xem chi tiết thực sự điều gì đang xảy ra Aristotle chỉ điều chỉnh các kết luận của mình khi sự bất đồng lồ lộ với quan sát không thể phớt lờ được Nhưng những điều chỉnh đó thường chỉ là những giải thích kiểu ứng biến và không
Trang 16làm được gì hơn là chắp vá lên sự mâu thuẫn Theo cái cung cách ấy, không cần biết lý thuyết của ông chệch khỏi thực tế như thế nào, ông luôn có cách
để chỉnh nó lại vừa đủ để có vẻ như không còn xung đột Ví dụ như giả
thuyết về chuyển động của ông tuyên bố rằng các vật thể rơi với một tốc độ không đổi tỉ lệ thuận với trọng lượng của chúng Để giải thích cho sự thật là các vật thể tăng tốc khi rơi, ông sáng chế ra một nguyên lý mới – rằng các vật thể tiến tới một cách hứng khởi hơn, thành thử sẽ tăng tốc, khi chúng đến gần với vị trí nghỉ tự nhiên, một nguyên lý có vẻ như giống một miêu tả đích xác cho một số người cụ thể hơn là cho các vật thể không có sự sống
Dù các giả thuyết của Aristotle thường có ít giá trị dự đoán, hướng tiếp cận của ông đối với khoa học đã thống lĩnh tư duy phương Tây cho đến gần hai ngàn năm
Những người Thiên Chúa giáo kế thừa Hy Lạp đã khước từ ý tưởng rằng vũ trụ bị chi phối bởi các định luật vô tư Họ cũng khước từ ý tưởng con người không ở giữa một chỗ được đặc ân ở trong vũ trụ đó Mặc dù thời trung cổ không hề có lấy một hệ triết lý dễ hiểu, bối cảnh chung vẫn là vũ trụ như một ngôi nhà búp bê của chúa, với tôn giáo là một nghiên cứu có giá trị hơn nhiều so với các hiện tượng tự nhiên Còn thực ra, năm 1277 Giám mục Tempier của Paris, theo chỉ dụ của giáo hoàng John XXI, đã xuất bản một danh sách 219 sai phạm hay còn gọi là những điều dị giáo mà sẽ bị kết tội Trong số các điều dị giáo có tư tưởng về một tự nhiên tuân theo các định luật, vì điều này xung đột với sự toàn năng của Chúa Điều thú vị là Giáo Hoàng John đã bị mất mạng dưới tác dụng của lực hấp dẫn chỉ vài tháng sau đó khi bị trần điện của mình rơi xuống đầu
“Nếu có một điều ta đã học suốt sự trường trị của
mình, đó là sức nóng tăng”
Trang 17Khái niệm hiện đại về các định luật tự nhiên ló dạng đầu tiên vào thế kỉ mười bảy Kepler có vẻ như là người đầu tiên hiểu được thuật ngữ này theo tiêu chuẩn khoa học hiện đại, mặc dù như đã nói, ông vẫn còn bảo lưu một quan điểm duy tâm về các vật thể vật lý Galileo (1564–1642) đã không dùng thuật ngữ “định luật” trong phần lớn các công trình khoa học của mình (dù
nó xuất hiện trong một số dịch bản của các công trình này) Dù có dù không việc dùng đến từ này, Galileo đã thực sự khám phá ra rất nhiều định luật và ủng hộ nguyên tắc quan trọng rằng quan sát là nền tảng của khoa học và mục đích của khoa học là để nghiên cứu các quan hệ định lượng tồn tại giữa các hiện tượng vật lý Nhưng người đầu tiên xây dựng một cách tường tận
và năng nổ khái niệm về các định luật của tự nhiên như chúng ta hiểu ngày nay chính là René Descartes (1596–1650) Descartes tin rằng tất cả các hiện tượng vật lý phải được giải thích trong khuôn khổ sự va chạm của các khối lượng di chuyển, bị chi phối bởi ba định luật – các tiền thân cho những định luật chuyển động của Newton Ông quả quyết rằng các định luật này luôn có hiệu lực ở mọi nơi và mọi lúc, và khẳng định đích xác rằng sự phục tùng các định luật này không ngụ ý rằng các thực thể đó có tư duy Descartes cũng hiểu được tầm quan trọng của cái mà ngày nay chúng ta gọi là “sơ kiện”
(điều kiện đầu - lnd) Chúng mô tà trạng thái của một hệ thống vào điểm đầu
bất kỳ khoảng thời gian nào mà ta đi tìm những dự đoán Với một tập hợp cho trước các sơ kiện, các định luật tự nhiên xác định một hệ thống sẽ tiến hóa như thế nào theo thời gian, nhưng thiếu một tập hợp các sơ kiện cụ thể,
sự tiến hóa không thể được xác định Nếu, lấy làm ví dụ, tại thời điểm zero một con chim bồ câu ngay phía trên đầu thả rơi một vật, quỹ đạo của vật thể
đó được xác định bởi các định luật của Newton Nhưng kết cục sẽ rất khác nhau tùy thuộc vào, tại thời điểm zero, con bồ câu đang ngồi yên trên sợi cáp điện thoại hay đang bay với vận tốc 20 dặm một giờ Để áp dụng các định luật của vật lý, ta phải biết một hệ bắt đầu như thế nào, hoặc ít nhất trạng thái của nó tại thời điểm xác định nào đó (Một người có thể sử dụng các định luật để lần theo một hệ ngược về trước đó theo thời gian.)
Cùng với niềm tin vừa hồi sinh về các định luật của tự nhiên các nỗ lực mới để dàn xếp các định luật này với ý niệm về Chúa cũng bắt đầu xuất hiện Theo Descartes, Chúa có thể tự ý hoán đổi chân lý hay phi lý của các tuyên bố theo luân thường hay các định lý toán học, tự nhiên không làm việc
đó Ông tin rằng Chúa thụ phong các định luật nhưng không có sự chọn lựa cho các định luật; thay vào đó, Chúa chọn chúng vì các định luật mà chúng
ta trải nghiệm là những định luật duy nhất có thể Điều này có vẻ như xâm phạm tới thẩm quyền của Chúa, nhưng Descartes đã lách vòng qua điều đó bằng cách tuyên bố rằng các định luật là không thể thay thế vì chúng là sự phản ánh cho bản chất nội tại của chúa Nếu đó là thật, ta vẫn có thể nghĩ là Chúa có sự chọn lựa để tạo ra vô vàn các thế giới khác nhau, mỗi cái tương
Trang 18ứng với một tập hợp khác nhau các sơ kiện, nhưng Descartes cũng từ chối điều này Bất luận sắp xếp của mọi thứ như thế nào tại khởi đầu của vũ trụ, ông khẳng định, theo thời gian một thế giới tương tự với thế giới của chúng
ta sẽ lại tiến hóa lên Thêm vào đó, Descartes cảm thấy rằng, một khi Chúa thiết đặt cho thế giới vận động, Chúa bỏ nó hoàn toàn đơn độc
Một ý kiến tương tự (với một vài ngoại lệ) đã được tiếp nhận bởi Isaac Newton (1643 – 1727) Newton là người đã giành được sự đồng thuận rộng rãi cho khái hiện đại của định luật khoa học với ba định luật chuyển động và
và định luật của ông về lực hấp dẫn của ông, là những thứ lý giải cho quỹ đạo của trái đất, mặt trăng, và các hành tinh, và giải thích các hiện tượng đại loại như những con triều Một nhúm những công thức ông tạo ra, và cấu trúc toán học tinh vi mà từ đó chúng ta chuyển hóa chúng, vẫn còn được dạy ngày nay, và được vay mượn bất cứ khi nào một kiến trúc sư thiết kế một tòa nhà, một kĩ sư thiết kế chiếc xe, hay một nhà vật lý tính toán làm cách nào nhắm một tên lửa cho nó đáp lên sao Hỏa Như nhà thơ Alexander Pope từng nói:
Tự nhiên với Định luật ẩn khuất trong đêm:
Chúa bảo, Newton tồn tại! và thảy sáng bừng
Ngày nay hầu hết các nhà khoa học sẽ nói một định luật tự nhiên là một quy tắc dựa trên sự đều đặn quan sát được và cung cấp những dự đoán vượt qua tình huống tức thời mà nó dựa trên Ví dụ, chúng ta có lẽ vẫn chú ý
là mặt trời mọc từ hướng đông mỗi sáng trong đời mình, và giả sử một định luật “Mặt trời luôn mọc ở hướng đông.” Đây là một tổng quát hóa vượt qua những quan sát có giới hạn của chúng ta về việc mặt trời mọc và tạo ra
những dự đoán có thể kiểm tra trong tương lai Mặt khác, một phát biểu kiểu như “Những chiếc máy tính trong văn phòng này màu đen” không là một định luật tự nhiên bởi vì nó chỉ liên quan tới những chiếc máy tính ở trong văn phòng và không tạo ra những dự báo tỉ như “Nếu như văn phòng của tôi mua một chiếc máy tính mới, nó sẽ mang màu đen.”
Hiểu biết hiện đại của chúng ta về thuật ngữ “định luật của tự nhiên” là một vấn đề mà các triết gia cãi nhau trường kì, và nó là một câu hỏi tinh tế hơn nhiều so với khi ta mới đầu nghĩ Ví dụ, triết gia John W Caroll so sánh phát biểu “Tất cả các khối cầu bằng vàng đều có bán kính dưới một dặm” với phát biểu như “Tất cả khối cầu bằng uranium-235 đều có bán kính dưới một dặm.” Những quan sát của chúng ta về thế giới bảo rằng không có khối cầu bằng vàng nào có bán kính rộng hơn một dặm, và ta có thể khá tự tin là sẽ chẳng bao giờ có Tuy nhiên, chúng ta cũng không có lý do gì để tin rằng không thể có một vật như thế, thành thử phát biểu đó không được coi là một định luật Mặt khác, phát biểu “Tất cả khối cầu bằng uranium-235 đều có bán kính dưới một dặm.” có thể nghĩ như là một định luật của tự nhiên vì, theo những gì ta biết về vật lý hạt nhân, một khi một khối cầu uranium-235 lớn lên
tới một bán kính lớn hơn khoảng sáu inch (1 “lóng” = 2,54 cm - lnd), nó sẽ tự
triệt diệt bản thân trong một vụ nổ hạt nhân Thế nên ta có thể chắc rằng
Trang 19những quả cầu như thế không tồn tại (Và cũng không hay ho gì để đi làm thứ đó!) Sự phân biệt này thành vấn về bởi vì nó minh họa rằng không phải tất cả sự tổng quát hóa chúng ta quan sát được có thể nghĩ tới như những định luật của tự nhiên, và rằng hầu hết các định luật của tự nhiên tồn tại như phần nhỏ của một hệ thống phức liên kết rộng hơn của các định luật
Trong khoa học hiện đại các định luật tự nhiên thường được miêu bằng toán học Chúng có thể hoặc tuyệt đối hoặc xấp xỉ, nhưng chúng phải được quan sát là đứng vững được với không ngoại lệ – nếu như không trên toàn
vũ trụ, chí ít phải dưới một tập hợp các điều kiện thi hành Ví dụ, chúng ta nay đã biết các định luật của Newton phải được hiệu chỉnh nếu các đối
tượng di chuyển ở những vận tốc gần vận tốc ánh sáng Nhưng chúng ta vẫn coi các định luật của Newton là định luật vì chúng đứng vững, ít nhất với một sự xấp xỉ rất tốt, trong những trường hợp các tốc độ mà chúng ta gặp phải thường thấp hơn nhiều vận tốc ánh sáng
Nếu tự nhiên tuân thủ bởi các định luật, ba câu hỏi ló dạng:
1 Đâu là nguồn gốc các định luật?
2 Có không các ngoại lệ cho các định luật, nói cách khác, phép
màu?
3 Có không chỉ một tập hợp duy nhất các định luật khả dĩ?
Những câu hỏi quan trọng này đã được truy vấn theo nhiều cách bởi các nhà khoa học, triết học, và thần học Câu trả lời truyền thống cho câu hỏi đầu tiên – trả lời của Kepler, Galileo, Descartes, và Newton – là các định luật
là công trình của Chúa Tuy nhiên, đó không khác gì hơn một định nghĩa về chúa như là đại diện của các định luật tự nhiên Trừ phi ai đó gán cho Chúa một số đặc tính khác, như là Chúa trong kinh Cựu Ước, vịn tới Chúa như lời đáp lại cho câu hỏi đầu tiên chỉ là thay thế một bí ẩn này bằng bí ẩn khác Vậy nếu như ta để Chúa can dự tới câu hỏi đầu tiên, nút kẹt lại đến ở câu hỏi thứ hai: Có không phép màu, hay ngoại lệ cho các định luật?
Ý kiến về câu trả lời cho câu hỏi thứ hai bị chi rẽ sâu sắc Plato và
Aristotle, các tác gia Hy Lạp cổ đại nhiều ảnh hưởng nhất, đoan chắc là
không thể có ngoại lệ cho các định luật Nhưng nếu như ta lấy quan điểm kinh thánh, thì Chúa không chỉ tạo ra các định luật mà còn gây cuốn hút
bằng cách cầu nguyện để tạo ra ngoại lệ – hồi sinh người bệnh đang hấp hối, hay mang kết thúc sớm cho những cơn hạn hán, hay phục hồi bóng gậy thành môn thể thao trong Thế Vận Hội Đối lập với quan điểm của Descartes, hầu hết các các bộ óc Thiên Chúa giáo đều duy trì niềm tin rằng Chúa phải
có khả năng trì hoãn các định luật để thi triển phép màu Ngay cả Newton cũng tin vào phép màu theo một kiểu Ông nghĩ rằng quỹ đạo của các hành tinh phải không ổn định bởi vì hấp dẫn trọng trường của một hành tinh lên hành tinh khác sẽ gây ra xáo trộn tới các quỹ đạo và sự xáo trộn sẽ tích lũy theo thời gian dẫn đến kết quả là các hành tinh hoặc sẽ rơi vào mặt trời hoặc
sẽ bị quăng khỏi thái dương hệ Chúa phải đang liên tục thiết đặt lại các quỹ đạo, ông tin vậy, hay “tua lại đồng hồ thiên thể, nhằm ngăn nó xuống cấp.”
Trang 20Tuy nhiên, hầu tước Pierre-Simon de Laplace (1749 – 1827), thường gọi là Laplace, tranh luận rằng sự chệch hướng sẽ mang tính chu kì, ví dụ, đặc trưng bằng những vòng lặp, thay vì tích lũy Hệ mặt trời do đó sẽ tự thiết đặt lại và sẽ không cần tới sự can thiệp linh thiêng để giải thích vì sao nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay
Chính Laplace là người thường được xem như đã đề xướng thuyết tất định khoa học: Có trạng thái của vũ trụ tại một thời điểm, một tập hợp hoàn chỉnh các định luật sẽ trọn vẹn xác định được cả tương lai và quá khứ Điều này loại trừ khả năng cho những phép màu hay vai trò chủ động của Chúa Thuyết tất định khoa học mà Laplace xây dựng là lời đáp của các nhà khoa học hiện đại cho câu hỏi thứ hai Nó, thực chất, là nền tảng của toàn bộ khoa học hiện đại, và một nguyên tắc quan trọng trong suốt quyển sách này Một định luật khoa học sẽ không thành một định luật khoa học nếu nó chỉ đứng vững khi một đấng siêu nhiên nào đó quyết định sẽ không can thiệp Nhận ra điều này, Napoleon được kể lại là đã hỏi Laplace rằng Chúa ăn khớp với bức tranh này như thế nào, Laplace đã đáp lại: “Bệ hạ, thần vẫn chưa cần giả thuyết đó.”
Bởi vì người ta sống trong vũ trụ và tương tác với các đối tượng trong
đó, thuyết tất định khoa học cũng phải đúng trên con người Nhiều người, ngược lại, trong khi vừa chấp nhận thuyết tất định khoa học chi phối các quá trình vật lý, vừa tạo ra một ngoại lệ cho hành vi của con người vì họ tin con người là có ý chí tự do Descartes, lấy làm ví dụ, để bảo tồn tư tưởng về ý chí tự do, quả quyết rằng tư duy con người là gì đó khác với thới giới vật lý
và không tuân theo các định luật này Trong quan điểm của ông một người gồm có 2 thành phần, một thân xác và một linh hồn Thân xác không là gì ngoài một cỗ máy bình thường, nhưng linh hồn thì nằm ngoài chủ đề của các định luật khoa học Descartes vốn có hứng thú đối với giải phẫu học và sinh
lý và đã liên hệ một cơ quan bé xíu ở trung tâm não bộ, gọi là tuyến tùng như là chỗ khu trú nguyên bản của linh hồn Tại phần tuyến đó, ông tin rằng, tất cả ý nghĩ của chúng ta được hình thành, là giếng nguồn của ý chí tự do
“Tôi nghĩ anh nên cặn kẽ hơn ngay đây ở bước hai”
Trang 21Con người ta có ý chí tự do không? Nếu chúng ta có ý chí tự do, ở đâu trên cây tiến hóa nó đã bắt đầu phát triển? Thế loài tảo lam lục hay vi khuẩn
có ý chí tự do không, hay là hành vi của chúng là tự động và nằm trong lãnh địa của các định luật khoa học ? Phải chăng chỉ các cơ thể đa bào có ý chí
tự do, hay chỉ các loài thú có ? Ta có lẽ nghĩ một con tinh tinh đang thực hành ý chí tự do khi nó chọn xơi một quả chuối, hay con mèo khi nó cào bấy
bộ sofa của bạn, nhưng còn con sán có tên Caenorhabditis elegans – một
sinh vật đơn giản tạo thành từ 959 tế bào? Nó có vẻ như chẳng bao giờ suy nghĩ, “Thật là mấy con vi khuẩn mặn mà mà mình chén bữa tối đây,” dù nó
có sự ưu tiên cho thức ăn và sẽ hoặc chấp nhận một bữa tối kém hấp dẫn hoặc đi bới móc ra thứ gì đó tốt hơn, phụ thuộc vào kinh nghiệm gần đây Phải chăng đó cũng là thực hành ý chí tự do?
Dù chúng ta cảm giác là mình có thể chọn điều mình làm, hiểu biết của chúng ta về nền tảng phân tử của sinh học cho thấy các quá trình sinh lý tuân thủ các quy luật vật lý và hóa học và do thế sẽ tất định như quỹ đạo của các hành tinh Những thí nghiệm gần đây trong thần kinh học ủng hộ quan điểm rằng bộ não vật lý của chúng ta, vốn tuân theo các định luật đã biết của khoa học, xác định các hành động của chúng ta, chứ không phải một thế lực nào đó tồn tại bên ngoài những định luật này Cho ví dụ, một nghiên cứu trên các bệnh nhân đang trải qua giải phẫu não khi tỉnh phát hiện rằng bằng các kích thích điện lên những vùng thích hợp của bộ não, người ta có thể tạo ra
ở bệnh nhân mong muốn để di chuyển bàn tay, cánh tay, hay chân, hay cử động môi và nói chuyện Thật khó mà tưởng tượng làm sao ý chí tự do có thể vận hành nếu hành vi của chúng ta được xác định bằng các định luật vật
lý, cho nên nó cho thấy chúng ta không gì hơn ngoài những cỗ máy sinh học
và rằng ý chí tự do chỉ là một ảo tưởng
Trong khi thừa nhận rằng hành vi của con người thực sự được xác định bởi các định luật tự nhiên, nó có vẻ hợp lý khi kết luận rằng kết quả được xác định theo một cách phức tạp và với rất rất nhiều biến số khiến cho nó trở nên bất khả thi để dự đoán trong thực tế Ví như người ta phải cần biết tới trạng thái khởi đầu của mỗi phân tử trong hàng triệu tỉ tỉ các phân tử trong cơ thể con người rồi giải kiểu như chừng ấy số hệ phương trình Việc ấy phải mất vài tỉ năm, và sẽ hơi trễ để hụp xuống một khi người đối diện đang ngắm đường cho một cú đánh
Vì nó hoàn toàn phi thực tế khi dùng các định luật vật lý nền tảng để dự đoán hành vi con người, chúng ta tiếp nhận cái gọi là lý thuyết thực tiễn Trong vật lý, một lý thuyết thực tiễn là một cơ cấu được tạo ra để mô hình hóa một số hiện tượng cụ thể quan sát được mà không phải miêu tả chi tiết tất cả các quá trình cơ sở Ví dụ, ta không thể giải chính xác các phương trình chi phối tương tác hấp dẫn của mỗi nguyên tử trong cơ thể của một người với mỗi nguyên tử của trái đất Nhưng tất cả vì các mục đích thực tế
Trang 22lực hấp dẫn giữa một người và trái đất có thể được miêu tả trong khuôn khổ chỉ một vài con số, như là tổng khối lượng của một người Tương tự, do không thể giải các phương trinh chi phối hành vi của các nguyên tử và phân
tử, ta đành phát triển một lý thuyết thực tiễn gọi là hóa học để cung cấp một
lý giải vừa đủ cho việc các nguyên tử và phân tử cư xử như thế nào trong các phản ứng hóa học mà không phải lý giải mọi chi tiết của tương tác
Trong trường hợp đối với con người, vì không thể giải các phương trình xác định hành vi của chúng ta, chúng ta dùng một lý thuyết thực tiễn là con
người có ý chí tự do Ngành nghiên cứu về ý chí của chúng ta, và các hành
vi xuất phát từ đó, là khoa học tâm lý Kinh tế học cũng là một lý thuyết thực tiễn, dựa trên ý tưởng về ý chí tự do và giả định rằng người ta sẽ đánh giá các phương thức thay thế nhau có thể có cho một hành động và chọn lấy cái tốt nhất Lý thuyết thực tiễn đó chỉ thành công tương đối trong việc dự đoán hành vi vì, như ta đều biết, quyết định thường không duy lý hay chỉ dựa trên
sự phân tích vốn khiếm khuyết về hậu quả của lựa chọn Đó là vì sao thế giới luôn thành một mớ lộn xộn
Câu hỏi thứ ba chất vấn về vấn đề liệu các định luật xác định cả vũ trụ
và hành vi của con người là duy nhất Nếu câu trả lời của bạn cho câu hỏi thứ nhất là Chúa tạo ra các định luật, vậy thì câu hỏi này hiểu là, Chúa có tự
do trong việc chọn lựa chúng ? Cả Plato và Aristotle đều tin, cũng như
Descartes và trễ hơn nữa là Einstein, rằng các nguyên tắc của tự nhiên tồn tại vì một lẽ “cần thiết”, nghĩa là, đó là những quy tắc duy nhất tạo ra sự nhận thức logic Dựa trên niềm tin của mình về nguồn gốc của các định luật tự nhiên theo logic, Aristotle và những người đi theo ông cảm giác rằng người
ta có thể “suy ra” các định luật đó không cần chú ý nhiều tới việc tự nhiên thực sự hành xử như thế nào Điều đó, cùng sự tập trung vào vì sao các đối tượng tuân theo các quy tắc hơn là thực sự các quy tắc này là gì, chủ yếu toàn dẫn ông tới những định luật định tính thường sai lầm và trong mọi
trường hợp không chứng tỏ sự hữu dụng cho lắm, cho dù là nó đã thống trị
tư duy khoa học suốt nhiều thế kỉ Chỉ rất lâu sau đó những người như
Galileo mới dám thách thức uy thế của Aristotle và quan sát tự nhiên theo cách thực sự của nó, thay vì điều mà “lý do” thuần khiết bảo rằng nó nên như vậy Quyển sách này bám rễ trên khái niệm về thuyết tất định khoa học, ngụ ý rằng câu trả lời cho câu hỏi hai là không có phép màu, hay ngoại lệ trong các định luật của tự nhiên Tuy nhiên, chúng ta sẽ quay lại để chất vấn sâu hơn câu hỏi một và hai, các vấn đề về các định luật ló dạng như thế nào
và có hay không chúng là các định luật duy nhất khả dĩ Nhưng trước tiên, ta
sẽ đề cập đến vấn đề về thứ mà các định luật của tự nhiên miêu tả Phần lớn các nhà khoa học sẽ nói chúng là các phản ánh toán học của một thực tại bên ngoài tồn tại độc lập với người quan sát nó Nhưng nếu chúng ta suy xét cách thức mà chúng ta quan sát và hình thành những khái niệm về mọi thứ chung quanh, chúng ta lại đâm đầu vào một câu hỏi, rằng chúng ta có thực
sự có lý do để tin rằng một thực tại khách quan tồn tại?
Trang 24III
Cách đây vài năm hội đồng thành phố Monza, Ý, ngăn chặn việc các chủ thú nuôi giữ cá vàng trong những chiếc chậu cá cong Những người cổ súy cho biện pháp này đã giải thích phần nào khi tuyên bố rằng sẽ thật tàn nhẫn khi giữ một chú cá trong chiếc chậu với các thành chậu cong bởi vì, khi nhìn ra, con cá sẽ có một cái nhìn méo mó về thực tại Nhưng làm sao ta biết mình có một bức tranh chân thực, không biến dạng về thực tại? Có thể là không không khi nói rằng bản thân chúng ta cũng đang ở trong một cái chậu
cá vàng lớn nào đó và tầm nhìn chúng ta bị bóp méo bởi một cái thấu kính khổng lồ? Bức tranh về thực tại của cá vàng khác với chúng ta, nhưng liệu ta
có thể chắc rằng nó kém thực hơn? Cái nhìn của cá vàng không giống với chúng ta, nhưng cá vàng vẫn có thể xây dựng các công thức khoa học chi phối chuyển động của các đối tượng chúng quan sát bên ngoài chiếc chậu
Ví dụ, do sự biến dạng, một đối tượng ta quan sát đang chuyển động tự do trên một đường thẳng sẽ được quan sát chuyển động theo một đường cong bởi cá vàng Tuy là thế, cá vàng vẫn có thể xây dựng các công thức khoa học từ hệ quy chiếu bị biến dạng của chúng và điều đó sẽ luôn được giữ đúng và cho phép chúng dự đoán về chuyển động tương lai của các đối tượng bên ngoài chiếc chậu Các định luật của chúng thì phức tạp hơn các định luật trong hệ quy chiếu của chúng ta, nhưng tính đơn giản chỉ là vấn đề nếm trải Nếu một con cá vàng có thể xây dựng một công thức như vậy, chúng ta đáng ra vẫn phải công nhận cái nhìn của cá vàng như là một bức tranh có hiệu lực về thực tại
Một thí dụ nổi tiếng trong những bức tranh khác biệt nhau về thực tại là
mô hình được giới thiệu vào khoảng năm 150 bởi Ptolemy (khoảng 85-
khoảng 165) để miêu tả chuyển động của các thiên thể, Ptolemy xuất bản công trình của mình trong một chuyên thư mười ba quyển thường được biết
đến dưới tên gọi Ả Rập của nó, Almagest Bộ Almagest bắt đầu bằng cách
giải thích các lý do cho việc nghĩ trái đất là hình cầu, bất động và được đặt tại trung tâm vũ trụ Mặc cho mô hình nhật tâm của Aristarchus, các niềm tin
đó đã được giữ lấy bởi hầu hết những người Hy Lạp có học ít nhất từ thời Aristotle, người đã tin rằng bằng những lý do huyền bí mà trái đất nên ở
Trang 25trung tâm của vũ trụ Trong mô hình của Ptolemy trái đất đứng yên ở trung tâm và các hành tinh và ngôi sao di chuyển chung quanh nó theo những quỹ đạo phức tạp liên quan tới những tạp luân, như những vòng xoay trên những vòng xoay
Mô hình này có vẻ tự nhiên vì ta không cảm thấy trái đất dưới chân
mình chuyển động (trừ những khi động đất hay những khoảnh khắc sân si) Những học vấn sau này ở châu Âu đều dựa trên các nguồn của Hy Lạp
được truyền lại, nên các tư tưởng của Aristotle và Ptolemy đã trở thành nền tảng cho phần nhiều trong tư duy phương Tây Mô hình về vũ trụ của
Ptolemy đã được tiếp nhận bởi nhà thờ Công Giáo và được thiết đặt thành chủ nghĩa chính thức suốt mười bốn thế kỉ Phải mãi tới năm 1543 thì một
mô hình thay thế mới được đề xuất bởi Copernicus trong quyển sách của
ông De revolutionibus orbium coelestium (Bàn về cuộc Cách mạng của các
thiên cầu), xuất bản chỉ ngay năm ông ta mất (dù ông đã làm việc với lý
thuyết này trong mấy thập kỉ)
Copernicus, như Aristarchus chừng mười bảy thế kỉ trước, mô tả thế giới trong đó mặt trời đứng yên và các hành tinh sắp xếp xung quanh nó trên những quỹ đạo tròn Dù ý tưởng chẳng mới, sự hồi sinh của nó đã vấp phải
sự phản kháng mạnh mẽ Mô hình Copernicus bị tuyên là nghịch với Kinh
Vũ trụ theo Ptolemy Trong cái nhìn của Ptolemy, chúng ta sống
ở trung tâm vũ trụ
Trang 26Thánh, vốn được dẫn giải là đã nói rằng các hành tinh chuyển động xung quanh trái đất, dù Kinh Thánh chưa bao giờ tuyên bố rõ ràng điều đó Trong thực tế, lúc Kinh Thánh được viết ra người ta vẫn còn tin là mặt đất phẳng
Mô hình Copernicus dẫn tới một cuộc tranh cãi nảy lửa rằng có không việc Trái Đất đứng yên, đáo chung bằng phiên tòa xét xử Galileo về tội dị giáo vào năm 1633 cho việc ủng hộ mô hình Copernicus, và cho việc nghĩ “rằng
ai đó có thể nắm giữ và biện hộ cho một ý tưởng là đúng sau khi nó đã được tuyên bố và định nghĩa trong Thánh Kinh.” Ông bị tuyên có tội, bị giam lỏng tại nhà suốt quãng đời còn lại, và bị buộc công khai rút lại ý tưởng Ông
được kể lại là đã lầm bầm trong hơi thở của mình “Eppur si mouve,” “Nhưng
nó vẫn động.” Năm 1992 Nhà thờ Công giáo La Mã công nhận họ đã sai khi kết tội Galileo
Vậy đâu mới là thực, hệ thống kiểu Ptolemy hay Copernicus? Dù là không lạ gì ai đó nói Copernicus đã chứng minh Ptolemy sai, điều đó là
không đúng Giống như trường hợp về cái nhìn bình thường của chúng ta và cái nhìn của cá vàng, người ta có thể dùng bất kì bức tranh nào làm mô hình cho vũ trụ, nên các quan sát của chúng ta về thượng giới có thể được giải thích bằng giả thiết hoặc trái đất hoặc mặt trời đứng yên Mặc cho vai trò của
nó trong các tranh cãi triết học về bản chất của vũ trụ, lợi thế thực sự của hệ Copernicus chỉ đơn giản là các phương trình chuyển động sẽ đơn giản hơn nhiều trong hệ quy chiếu với mặt trời đứng yên Một loại khác về thực tại
thay thế xảy ra trong bộ phim khoa học viễn tưởng Ma Trận, trong đó loài
người bằng cách nào đó đang sống trong một thực tại ảo giả lập tạo ra bởi các máy tính có trí tuệ đễ giữ họ ôn hòa và được thỏa mãn trong khi những chiếc máy tính hút điện sinh học từ họ (hay là gì cũng được) Có lẽ điều này cũng không quá viễn vông, bởi vì nhiều người vẫn thích dành thời gian cho thực tại ảo trên các website giống như Cuộc Sống Thứ Hai Làm sao ta biết
ta không phải chỉ là những nhân vật trong một bộ phim truyền hình phát trên máy tính? Nếu chúng ta sống trong một thế giới giả lập được tổng hợp, các
sự việc sẽ không cần thiết có logic hay phi mâu thuẫn hay tuân theo các định luật Những ngoại thể nắm kiểm soát có thể thấy thú vị hay hài hước khi quan sát các phản ứng của chúng ta khi, ví dụ như, mặt trăng tách làm đôi, hay mọi người ăn kiêng trên thế giới phát triển một sự thèm thuồng không kiểm soát nổi đối với bánh kem chuối Nhưng nếu những ngoại thể ấy thực
sự áp đặt các định luật phi mâu thuẫn, không cách nào ta có thể nói được là
có một thực tại đằng sau cái giả lập Rất dễ để nói rằng cái thế giới các
ngoại thể đó đang sống là thế giới “thực” và thế giới được tổng hợp là “giả”
Trang 27Nhưng nếu – như ta – các thực thể trong thế giới giả lập không thể nhìn vào
vũ trụ của họ từ bên ngoài, sẽ không có lý do để họ nghi ngờ bức tranh của chính họ về thực tại Đây là một phiên bản hiện đại về ý tưởng mà tất cả chúng ta đều là những hình ảnh trong giấc mơ của người khác
Đây là những thí dụ mang chúng ta đến một kết luận quan trọng trong
quyển sách này: Không có một bức tranh – hay khái niệm độc lập lý thuyết
về thực tại Thay vào đó chúng ta sẽ tiếp nhận quan điểm mà ta gọi là thực
tại phụ thuộc mô hình luận: ý tưởng rằng một lý thuyết vật lý hay bức tranh thế giới là một mô hình (thường là về bản chất toán học) và một tập hợp các quy tắc liên hệ các yếu tố của mô hình với các quan sát Điều này cung cấp một cơ cấu mà cùng với nó ta sẽ đi diễn giải khoa học hiện đại
Các triết gia từ Plato về sau đã tranh cãi bao năm về bản chất của thực tại Khoa học cổ điển đều dựa trên niềm tin rằng có một thế giới thực tại ở bên ngoài với các đặc tính xác định và độc lập với người quan sát đang
nhận thức nó Theo khoa học cổ điển, các đối tượng cụ thể tồn tại và có các đặc tính vật lý, tỉ như tốc độ và khối lượng, vốn có những giá trị xác định cụ thể Theo quan điểm này các giả thuyết của chúng ta là những nỗ lực để mô
tả các đối tượng đó và đặc tính của chúng, và các đo đạc và nhận thức của chúng ta tương ứng với chúng Cả người quan sát và vật bị quan sát là các phần của một thế giới có sự tồn tại khách quan, và bất cứ sự rạch ròi nào giữa chúng đều không có tầm quan trọng có nghĩa Nói một cách khác, nếu bạn thấy một đàn ngựa vằn tranh nhau một chỗ trong bãi đỗ, đó là vì thực sự
có một bầy ngựa vằn tranh nhau một chỗ trong bãi đỗ Tất thảy các người quan sát đang nhìn sẽ đo đạc cùng các đặc tính, và đàn ngựa sẽ có cùng
Trang 28các đặc tính đó bất kể có ai đang quan sát chúng hay không Trong triết học niềm tin đó gọi là thuyết duy thực
Dù thuyết duy thực có vẻ là một quan điểm cuốn hút, như ta sẽ thấy sau này, những gì ta biết về vật lý hiện đại khiến nó khó mà biện hộ được Ví dụ, theo những nguyên lý của vật lý lượng tử, vốn là một miêu tả chính xác về tự nhiên, một hạt không vừa không có một vị trí xác định vừa không có một vận tốc xác định trừ phi và tới khi các đại lượng này được đo bởi một người quan sát Cho nên không đúng khi nói rằng phép đo đó đưa ra một kết quả chắc chắn bởi vì đại lượng được đo có giá trị đó tại thời điểm của phép đo Thực
tế, trong một số trường hợp các đối tượng cá biệt còn không có một sự tồn tại độc lập mà là tồn tại chỉ như một phần của một đồng thể nhiều phần Và nếu như một giả thuyết gọi là nguyên lý ảnh nổi được chứng minh đúng, ta
và thế giới bốn chiều của chúng ta có lẽ rủ bóng trên biên của một thời gian năm chiều rộng hơn Trong trường hợp đó, tình trạng của chúng ta trong vũ trụ cũng sẽ tương tự như của con cá vàng
không-Các nhà duy thực nghiêm khắc thường tranh cãi rằng bằng chứng mà các lý thuyết khoa học đại diện cho thực tại nằm trong thành công của họ Nhưng những lý thuyết khác nhau có thể miêu tả thành công cùng các hiện tượng từ các cơ cấu có khái niệm dị biệt Thực tế, nhiều lý thuyết khoa học
đã chứng minh thành công sau đó được thay thế bởi lý thuyết khác, những lý thuyết tương đương dựa trên những khái niệm hoàn toàn khác về thực tại Theo truyền thống những người không chấp nhận thuyết duy thực bị gọi
là những người kháng thực Những người kháng thực đòi hỏi một sự rạch ròi giữa kiến thức thực nghiệm và kiến thức lý thuyết Một cách tiêu biểu họ tranh luận rằng quan sát và thí nghiệm đều có ý nghĩa nhưng các lý thuyết không là gì hơn ngoài các công cụ hữu dụng mà không đại diện bất kì chân lí sâu hơn nào có thể là nền tảng của các hiện tượng được quan sát Một vài người kháng thực còn thậm chí muốn cách ly khoa học khỏi những thứ
không thể được quan sát Vì lẽ đó, nhiều người trong thế kỉ mười chín
khước từ ý tưởng về nguyên tử trên lập trường là ta không bao giờ có thể thấy một hạt George Berkeley (1685 – 1753) thậm chí còn đi xa hơn khi nói rằng không gì tồn tại ngoài tư duy và các ý tưởng của nó Khi một người bạn mách với tác gia và nhà viết từ điển người Anh TS Samuel Johnson (1709-1784) rằng tuyên bố của Berkeley không thể bị bác bỏ, Johnson được kể là
đã đáp lại bằng cách bước tới 1 hòn đá to, đá nó, và tuyên bố, “Tôi bác bỏ
nó đây.” Dĩ nhiên cơn đau mà TS Johson trải nghiệm ở chân ông cũng là
Trang 29một ý tưởng trong đầu ông ta, nên ông đã không thực sự phủ định các ý tưởng của Berkeley Nhưng hành động của ông đã minh họa cho quan điểm của triết gia David Hume (1711 – 1776), người đã viết rằng dù chúng ta
không có lập trường có lý lẽ nào để tin vào một thực tại khách quan, chúng
ta cũng không có lựa chọn nào ngoài hành xử như nó là có thật
Thực tại phụ thuộc mô hình luận ngắn mạch tất cả các tranh luận và thảo luận giữa hai trường phái tư duy duy thực và kháng thực
Theo thực tại phụ thuộc mô hình luận, sẽ là vô ích khi đi hỏi có không một mô hình thực, mà chỉ cần có không việc mô hình đó đồng thuận với quan sát Nếu có cả hai mô hình cùng đồng thuận với quan sát, thì không ai
có thể nói cái nào thực hơn cái nào Người ta có thể dùng bất kì mô hình nào tiện lợi hơn trong từng tình huống theo đánh giá Ví dụ, nếu một người đang
ở trong chậu, bức tranh của cá vàng sẽ hữu dụng, nhưng với những người ở bên ngoài, nó sẽ rất rầy rà khi mô tả các sự kiện ở một thiên hà heo một hệ quy chiếu của một chiếc chậu trên trái đất, đặc biệt khi chiếc chậu còn đang
di chuyển cùng trái đất trên quỹ đạo xung quanh mặt trời và lại còn xoay quanh trục của nó
Chúng ta tạo ra các mô hình trong khoa học, nhưng chúng ta còn tạo ra chúng trong cuộc sống hằng ngày Thực tại phụ thuộc mô hình luận áp dụng không chỉ cho các mô hình khoa học mà còn cho các mô hình tinh thần có ý thức và không ý thức mà chúng ta thảy đều tạo ra nhằm diễn giải và hiểu được thế giới hằng ngày Không có cách nào để loại bỏ người quan sát – chúng ta – khỏi nhận thức của chính chúng ta về thế giới, vốn được tạo ra thông qua các xử lý bằng giác quan và thông qua cách chúng ta suy nghĩ và
“Cả hai vị đều có điểm chung TS Davis vừa phát hiện một hạt chưa ai từng thấy và GS Higbe vừa phát hiện một thiên hà chưa ai từng thấy.”
Trang 30lý luận Nhận thức của chúng ta – và do đó quan sát của chúng ta lên cái mà các giả thuyết của chúng ta dựa trên – là không trực tiếp, mà thay vào đó được định hình bằng một loại thấu kính, cấu trúc diễn giải của bộ não con người
Thực tại phụ thuộc mô hình luận tương ứng cách chúng ta nhận thức các đối tượng Với thị giác, bộ óc của một người nhận một chuỗi các tín hiệu truyền xuống các dây thần kinh thị giác Các tín hiệu này không kiến tạo nên loại hình ảnh bạn sẽ chấp nhận trên truyền hình Có một điểm mù nơi các dây thần kinh thị giác kết nối vào nhãn cầu, và phần duy nhất trong trường thị giác của bạn có độ phân giải tốt là một khu vực hẹp khoảng một độ của góc nhìn chung quanh trung tâm của nhãn cầu, một vùng rộng bằng ngón cái của bạn khi duỗi thẳng cánh tay Và do thế dữ liệu thô gửi tới não giống như một bức hình toàn điểm ảnh với một cái lỗ ở trong May mắn thay, bộ não người xử lý dữ liệu đó, kết hợp tín hiệu vào từ cả hai mắt, lấp đầy các chỗ trống với giả định là các đặc tính thị giác của các vị trí lân cận thì tương tự và chèn cho nhau Hơn nữa, nó đọc một dãy hai chiều các dữ liệu từ nhãn cầu
và tạo ra từ đó ấn tượng về một không gian ba chiều Bộ não, nói cách khác,
đi xây dựng một bức tranh tinh thần hay một mô hình
Bộ não xây dựng mô hình quá khéo tới nỗi nếu người ta được lắp một cặp kính có thể xoay hình ảnh trong mắt họ lộn ngược xuống, bộ não, sau một thời gian, thay đổi mô hình nhờ vậy họ có thể nhìn được mọi thứ lật đúng lên trở lại Nếu cặp kính được lấy đi, người ta sẽ thấy thế giới bị lật ngược trong một chốc, rồi điều chỉnh trở lại Điều này cho thấy ý nghĩa của việc khi một người nói “Tôi thấy một chiếc ghế” chỉ là vì người ấy đã dùng ánh sáng tán xạ từ chiếc ghế để xây dựng một hình ảnh tinh thần hay mô hình về chiếc ghế Nếu mô hình là lộn ngược từ trên xuống, hãy cầu may cho bộ não của ai đó kịp điều chỉnh nó trước khi có ai thử ngồi lên chiếc ghế Một vấn đề khác mà thực tại phụ thuộc mô hình luận giải quyết, hay chí
ít cũng tránh được, là ý nghĩa của sự tồn tại Làm sao tôi biết rằng một chiếc bàn vẫn tồn tại khi tôi đi ra khỏi phòng và không thể thấy nó? Nó có nghĩa lý
gì khi nói những thứ chúng ta không thể thấy, như các electron hay quark – những hạt được bảo là tạo nên proton và neutron – tồn tại? Ai đó có thể có một mô hình trong đó chiếc bàn biến mất khi tôi rời phòng và hiện ra lại ở cùng vị trí khi tôi quay lại, nhưng đó sẽ trông khập khiễng, và nếu có gì xảy
ra khi tôi ở ngoài, như trần nhà sụp xuống chẳng hạn? Làm thế nào, với mô hình cái-bàn-biến-mất-khi-tôi-rời-phòng, tôi có thể giải đáp thực tế là lần tiếp
Trang 31theo tôi đi vào, cái bàn lại hiện ra tan nát, dưới đống xà bần của trần nhà?
Mô hình trong đó chiếc bàn vẫn đặt đó thì đơn giản hơn nhiều và đồng thuận với quan sát Đó là tất cả những gì một người có thể đòi hỏi
Trong trường hợp của các hạt dưới nguyên tử mà ta không thể thấy, các electron là một mô hình để giải thích cho các quan sát như các vệt trong khoang sương hay các điểm sáng trên ống đèn hình ti vi, cũng như nhiều hiện tượng khác Chuyện kể lại rằng electron đã được phát hiện vào năm
1897 bởi nhà vật lý người Anh J.J Thomson tại Phòng thí nghiệm Cavendish
ở Đại học Cambridge Ông đang làm thí nghiệm với các dòng điện bên trong các ống kính rỗng, một hiện tượng được biết như là tia cathode Các thí nghiệm của ông dẫn tới một kết luận táo bạo rằng các tia bí ẩn được cấu thành từ các “vi thể” là các cấu tử của các nguyên tử, vốn vẫn được tin là đơn vị cơ sở không thể chia tách của vật chất Thomson đã không “thấy” một electron, phỏng đoán của ông cũng không được khẳng định một cách trực tiếp hoặc tường minh bằng những thí nghiệm của ông Nhưng mô hình đã chứng minh tính chủ đạo trong các ứng dụng từ khoa học cơ bản tới kĩ thuật,
và ngày nay tất cả các nhà vật lý tin vào các electron, dù cho bạn không thể thấy chúng
Các hạt quark, mà ta cũng chẳng thể thấy, là một mô hình để giải thích những đặc tính của các proton và neutron trong hạt nhân nguyên tử Dẫu các proton và neutron được nói là tạo thành từ các quark, chúng ta sẽ không bao giờ thấy một quark vì lực liên kết giữa các quark tăng theo sự chia tách,
Các Tia Cathode Chúng ta không thể thấy các electron cá biệt, nhưng
chúng ta có thể thấy các hiệu ứng chúng tạo ra
Trang 32cho nên các quark biệt lập, tự do không thể tồn tại trong tự nhiên Thay vào
đó, chúng luôn tồn tại theo những nhóm ba (tạo thành proton hay neutron), hoặc các cặp đôi của một quark và một phản quark (các hạt meson pi), và biểu hiện giống như chúng được nối nhau bởi các sợi dây thun
Câu hỏi liệu nó có nghĩa lý không khi nói các quark thực sự tồn tại nếu bạn không bao giờ có thể cô lập một hạt đã từng là một vấn đề gây tranh cãi những năm đầu sau khi nó được đề xuất Ý tưởng rằng các hạt nhất định được tạo nên từ những tổ hợp một vài hạt dưới-dưới hạt nhân cung cấp một nguyên lý ngăn nắp để từ đó rút ra một giải thích cuốn hút và đơn giản cho các đặc tính của chúng Nhưng dù các nhà vật lý đã dần quen việc chấp nhận các hạt vốn chỉ được suy luận ra sự tồn tại nhờ vào các chớp nháy thống kê trong dữ liệu liên quan tới các sự tán xạ của các hạt, ý tưởng gán thực tại cho một hạt mà, theo nguyên tắc, là không thể quan sát được thật khó cam với nhiều nhà vật lý Theo năm tháng, dẫu vậy, khi mô hình quark dẫn tới càng ngày càng nhiều các dự đoán chính xác, sự đối lập ấy phai nhạt dần Một điều chắc chắn có thể là khi một vài sinh vật ngoài hành tinh với mười bảy cánh tay, mấy con mắt hồng ngoại và tập tính phun kem đánh bông khỏi lỗ tai cũng thực hiện các quan sát thí nghiệm tương tự như chúng
ta, nhưng sẽ mô tả chúng mà không dùng tới các quark Cho dù vậy, theo thuyết lý thực tại phục thuộc mô hình, các quark tồn tại trong một mô hình đồng thuận với các quan sát của chúng ta về hành vi của các hạt dưới hạt nhân Thực tại phụ thuộc mô hình luận có thể cung cấp một cơ cấu để thảo luận các câu hỏi kiểu như: Nếu thế giới được tạo ra cách đây một khoảng thời gian xác định, điều gì đã xảy ra trước đó? Một triết gia Thiên Chúa giáo thời sơ khai, Thánh Augustine (354 – 430), nói rằng câu trả lời không phải là Chúa đi chuẩn bị địa ngục dành riêng cho những ai hỏi mấy câu giống như vậy, mà là thời gian là một đặc tính của thế giới mà Chúa tạo ra và thời gian không tồn tại trước thời điểm sáng tạo, vốn ông tin rằng đã diễn ra cách đó không lâu Đó là một mô hình khả dĩ, vốn được bênh vực bởi những người duy trì niềm tin rằng mô tả trong kinh Khởi Nguyên là đoan chắc đúng mặc
dù thế giới chứa đựng các hóa thạch và các bằng chứng khác khiến cho nó trông lâu đời hơn nhiều (Họ đặt chúng đó để lòe ta chăng?) Một người có thể có một mô hình khác, trong đó thời gian liên tục ngược lại cách đây 13,7
tỉ năm tới tận vụ nổ lớn Mô hình có thể giải thích hầu hết trong các quan sát hiện tại, bao gồm các chứng cứ địa kiến tạo và lịch sử, là đại diện tốt nhất chúng ta có về quá khứ Mô hình thứ hai này có thể giải thích các thu thập phóng xạ và hóa thạch và thực tế là chúng ta nhận được ánh sáng từ các thiên hà cách chúng ta hàng triệu năm ánh sáng, vì vậy mô hình này – thuyết
vụ nổ lớn – thì hữu dụng hơn mô hình đầu tiên Dù vậy, không mô hình nào
có thế nói là thực hơn cái còn lại
Trang 33Một số người ủng hộ một mô hình trong đó thời gian lùi lại thậm chí xa hơn vụ nổ lớn Nó còn chưa rõ ràng nếu một mô hình trong đó thời gian liên tục trước cả vụ nổ lớn sẽ tốt hơn khi giải thích các quan sát hiện tại vì nó có
vẻ như các định luật về tiến hóa của vũ trụ sẽ vô hiệu tại vụ nổ lớn Nếu đúng vậy, sẽ chẳng có nghĩa lý gì để tạo ra một mô hình trong đó thời gian trải ra trước cả vụ nổ lớn, bởi vì những gì xảy ra tại đó sẽ chẳng có những kết quả quan sát được cho hiện tại, vì vậy chúng ta cũng có lẽ sẽ bám lấy ý tưởng rằng vụ nổ lớn chính là điểm sáng tạo của thế giới
Một mô hình tốt là một mô hình:
1 Thanh thoát
2 Ít chứa những yếu tố tùy tiện cũng như có thể điều chỉnh
3 Đồng thuận giải thích cho tất cả cả các quan sát đang tồn tại
4 Tạo ra những dự đoán chi tiết về các quan sát trong tương lai mà
có thể phản chứng hay phủ nhận mô hình nếu chúng không được xác nhận
Ví dụ như, giả thuyết của Aristotle rằng thế giới được tạo nên từ bốn yếu tố, đất, khí, lửa và nước, và rằng các đối tượng hành động để hoàn
thành mục đích của chúng là thanh thoát và không chứa các yếu tố có thể điều chỉnh Nhưng trong nhiều trường hợp nó không tạo ra các dự đoán xác định, và khi nó dự đoán, các dự đoán không phải luôn luôn đồng thuận với
Các Quark Khái niệm về quark là một yếu tố cốt yếu trong các lý
thuyết vật lý cơ bản của chúng ta mặc dù các quark tách biệt không thể quan sát được
Trang 34quan sát Một trong những dự đoán này là các đối tượng nặng hơn sẽ rơi nhanh hơn vì mục đích của chúng là rơi Có vẻ như chẳng ai đã nghĩ rằng nó quan trọng để đi kiểm tra điều này cho tới khi có Galileo Có một câu truyện rằng ông đã kiểm tra nó bằng cách thả rơi các vật nặng từ Tháp Nghiêng Pisa Đây hẳn là chuyện được thêu dệt Nhưng chúng ta biết chắc ông đã thả lăn các vật nặng trên một mặt dốc xuống và quan sát thấy chúng đều tăng tốc với cùng tỉ lệ, đối nghịch với dự đoán của Aristotle
Những tiêu chí trên thì rõ ràng là chủ quan Sự thanh thoát, lấy làm ví
dụ, không phải thứ dễ dàng đo đạc, nhưng nó được tưởng thưởng cao giữa các nhà khoa học bởi vì các định luật tự nhiên thì phải nén một cách có gói ghém các trường hợp cụ thể về một công thức đơn giản Sự thanh thoát liên quan tới hình thức của giả thuyết, nhưng nó cũng liên quan chặt chẽ tới việc
có ít những yếu tố có thể điều chỉnh, do lẽ một lý thuyết nhét đầy các nhân tố chấp vá sẽ chẳng mấy thanh thoát Tóm gọn lời Einstein, một lý thuyết nên càng đơn giản càng tốt, nhưng không đơn giản hơn Ptolemy cho thêm các tạp luân vào các quỹ đạo tròn của của các thiên thể nhằm khiến mô hình của ông có thể mô tả chính xác chuyển động của chúng Mô hình đáng ra còn có thể được làm chính xác hơn bằng cách thêm các tạp luân cho các tạp luân, hay thậm chí hàng loạt tạp luân vào đó Dù sự phức tạp thêm vào có thể làm cho mô hình thêm chính xác, các nhà khoa học nhận xét một mô hình vặn vẹo cho hợp với một tập hợp các quan sát là không thỏa mãn, giống như một danh mục các dữ liệu hơn là một lý thuyết đại diện bất kì nguyên lý hữu dụng nào Chúng ta sẽ thấy trong Chương 5 rằng nhiều người coi “mô hình tiêu chuẩn”, vốn mô tả các tương tác của các hạt nguyên tố của tự nhiên là không thanh thoát Mô hình đó thành công hơn nhiều so với các tạp luân của Ptolemy Nó dự đoán sự tồn tại của nhiều hạt mới trước khi chúng được quan sát, và dự đoán kết quả của vô số thí nghiệm qua nhiều thập kỉ với một
sự chính xác tuyệt vời Nhưng nó chứa hàng tá những thông số có thể điều chỉnh mà giá trị phải được chỉnh cho hợp với quan sát, thay vì được xác định bằng chính bản thân lý thuyết
Nói về điểm thứ thư, các nhà khoa học luôn bị ấn tượng khi những dự đoán mới và gây choáng váng được chứng minh chính xác Ngược lại, khi một mô hình bị nhận thấy có thiếu hụt, một phản ứng chung là ta nói thí
nghiệm đã sai Nếu đó không chứng tỏ ra vấn đề, người ta thường không vứt bỏ lý thuyết mà thay vào đó nỗ lực cứu vãn nó bằng những hiệu chỉnh
Dù cho các nhà khoa học thực sự nhẫn nại trong nỗ lực giải cứu những lý
Trang 35thuyết họ ngưỡng mộ, xu hướng hiệu chỉnh các giả thuyết phai nhạt dần theo mức độ khi sự thay thế trở nên nhân tạo hay cồng kềnh, và do đó
“không thanh thoát” Nếu những hiệu chỉnh cần cho dung nạp những quan sát mới trở nên quá kì cục, điều đó ra hiệu cho sự cần thiết về một mô hình mới Một thí dụ về một mô hình cũ phải chịu nhường bước dưới sức nặng của các quan sát mới là ý tưởng về một vũ trụ tĩnh Vào thập niên 1920, phần lớn các nhà khoa học tin rằng vũ trụ là tĩnh, hay kích thước không đổi Thế rồi, năm 1929, Edwin Hubble, xuất bản những quan sát của ông cho thấy rằng vũ trụ đang giãn nở Ông đã quan sát ánh sáng phát ra từ các thiên hà Ánh sáng đó mang một chữ kí đặc trưng, hay phổ, dựa trên cấu tạo của mỗi thiên hà, vốn thay đổi một lượng biết trước nếu thiên hà đang
chuyển động tương đối so với chúng ta Từ đó, bằng cách phân tích các phổ
từ các thiên hà xa xôi, Hubble đã có thể xác định vận tốc của chúng Ông đã trông đợi có thể tìm được số thiên hà chuyển động rời xa cũng như tiến tới chúng ta như nhau Thay vào đó, ông nhận ra rằng gần như tất cả các thiên
hà đều chuyển động rời xa khỏi chúng ta, và càng cách xa chúng ta, chúng càng dịch chuyển nhanh hơn Hubble kết luận rằng vũ trụ đang giãn nở, nhưng có những người khác, cố gắng bảo vệ cho mô hình trước đó, đã nỗ lực giải thích cho những quan sát của ông dưới khung cảnh của một vũ trụ tĩnh Ví dụ, một nhà vật lý của Caltech Fritz Zwicky đề xuất rằng bằng một lý
do chưa biết ánh sáng sẽ từ từ mất đi năng lượng khi nó chu du qua những khoảng cách lớn Sự sụt giảm năng lượng này tương ứng với sự thay đổi quang phổ, mà Zwicky gợi ý rằng có thể bắt chước ra các quan sát của
Hubble Nhưng mô hình tự nhiên nhất vẫn là của Hubble, về một vũ trụ đang giãn nở, và nó đã tiến đến là mô hình được chấp nhận
Trong sứ mệnh của chúng ta để tìm ra những định luật chi phối vũ trụ chúng ta đã xây dựng một số những lý thuyết hay mô hình, như thuyết bốn nguyên tố, mô hình kiểu Ptolemy, thuyết nhiên liệu, thuyết vụ nổ lớn, và vâng vâng Với mỗi lý thuyết hay mô hình, các khái niệm của chúng ta về thực tại
và về các cấu tử cơ bản của vũ trụ đã lại thay đổi Ví dụ, xét giả thuyết về ánh sáng Newton nghĩ rằng ánh sáng được tạo nên từ các hạt nhỏ hay các
vi thể Điều này có thể giải thích tại sao ánh sáng đi theo những đường
thẳng, và Newton cũng dùng điều này để giải thích vì sao ánh sáng bị gập hay khúc xạ khi nó truyền qua một trường này sang môi trường khác, như từ khí sang thủy tinh hay từ thủy tinh hoặc khí sang nước
Trang 36Tuy nhiên, các vi thể không thể dùng được để giải thích một hiện tượng
mà Newton chính ông đã quan sát được, mà bây giờ được biết đến như là các vòng Newton Đặt một thấu kính trên một bản phản chiếu và chiếu sáng
nó bằng ánh sáng đơn sắc, như ánh sáng hơi Natri Nhìn từ trên xuống, một người sẽ thấy một chuỗi các vòng sáng và tối đồng tâm tại nơi thấu kính tiếp xúc mặt phẳng Điều này sẽ khó có thể giải thích bằng thuyết ánh sáng hạt, nhưng có thể được lý giải trong lý thuyết sóng ánh sáng Căn cứ theo thuyết sóng ánh sáng, những vòng sáng và tối bị gây ra bởi một hiện tượng gọi là giao thoa Một sóng, giống như sóng nước, bao gồm một chuỗi các đỉnh và đáy Khi các sóng va đập, nếu các đỉnh và đáy xảy ra tương ứng, chứng tăng cường lẫn nhau, dẫn tới một sóng lớn hơn Đó được gọi là giao thoa tăng cường Trong trường hợp đó hai sóng được bảo là “cùng pha” Tại một thái cực khác, khi các sóng gặp nhau, các đỉnh của một sóng sẽ trùng với các đáy của sóng còn lại Trong trường hợp đó các sóng hủy lẫn nhau và được bảo là “ngược pha.” Tình huống đó được gọi là giao thoa triệt tiêu Trong các vòng Newton các vòng sáng xảy ra tại những khoảng cách tính từ tâm tại đó cách biệt giữa thấu kính và bản phản chiếu làm cho ánh sáng phản chiếu từ thấu kính sai biệt với ánh sáng phản chiếu từ bản bằng một số nguyên lần (1,2,3…) bước sóng, tạo nên giao thoa tăng cường (Một bước sóng là khoảng cách giữa một đỉnh hoặc đáy của một sóng tới cái kế
Sự khúc xạ Mô hình ánh sáng của Newton có thể giải thích tại sao
ánh sáng vị gập khi truyền qua các mội trường, nhưng nó không thể giải thích một hiện tượng khác mà giờ ta gọi là các vòng Newton
Trang 37tiếp.) Các vòng tối, ngược lại, xảy ra ở những khoảng cách tính từ tâm tại đó cách biệt giữa hai sóng phản xạ là một số bán nguyên (1
2, 1 1 2, 2 1 2,…) các bước sóng, gây ra giao thoa triệt tiêu – sóng phản xạ từ thấu kinh hủy sóng phản xạ từ bản
Trong thế kỉ mười chín, điều này đã được lấy làm khẳng định cho thuyết sóng ánh sáng và chỉ ra rằng thuyết ánh sáng hạt đã sai Tuy nhiên, đầu thế
kỉ hai mươi Einstein chỉ ra hiệu ứng quang điện (ngày nay chúng ta dùng trong truyền hình và camera kĩ thuật số) có thể được giải thích bằng việc một hạt hay một lượng tử của ánh sáng đâm vào một nguyên tử và đánh bật ra một electron Như vậy ánh sáng hành xử như cả hạt và sóng
Khái niệm về sóng hẳn đã đi vào ý nghĩ của con người vì con người đã quan sát đại dương, hay một vũng nước sau khi một viên sỏi rơi vào đó
Sự giao thoa giống như người ta, khi các sống gặp nhau
chúng thường hoặc bổ trợ nhau hoặc hạn chế nhau
Trang 38Thực tế, nếu bạn có bao giờ thả hai viên sỏi vào một vũng nước, bạn hẳn phải thấy sự giao thoa hoạt động, như trong bức hình bên trên Những chất lỏng khác cũng được quan sát có hành vi theo kiểu tương tự, ngoại trừ rượu nếu bạn dùng quá nhiều Ý tưởng về các hạt thì quen thuộc với những hòn
đá, viên sỏi, và cát Nhưng lưỡng tính sóng/hạt này – ý tưởng về một đối tượng có thể vừa miêu tả như một hạt vừa như một sóng – thì nghe thật xa
lạ đối với kinh nghiệm thường ngày như ý tưởng rằng bạn có thể uống hết một mớ cát
Những lưỡng tính kiểu này – các tình huống trong đó hai giả thuyết rất khác nhau mô tả chính xác cùng một hiện tượng – là không mâu thuẫn với thực tại phụ thuộc mô hình luận Mỗi giả thuyết có thể mô tả và giải thích các đặc tính cụ thể, và không giả thuyết nào có thể được bảo là tốt hơn cái kia Liên hệ tới các định luật chi phối vũ trụ, điều chúng ta có thể nói là: Có vẻ như không có một mô hình hay lý thuyết toán học đơn lẻ nào có thể mô tả mọi khía cạnh của vũ trụ Thay vào đó, như chúng ta đã đề cập bên trên, có
vẻ như tồn tại một mạng lưới các lý thuyết gọi là thuyết M Mỗi lý thuyết trong thuyết M có thể mô tả tốt các hiện tượng trong một giới hạn cụ thể Bất kì đâu các giới hạn này gối chồng nhau, thì nhiều lý thuyết trong mạng lưới sẽ đồng thuận, vì vậy chúng sẽ được bảo là các phần của cùng một lý thuyết Nhưng không một lý thuyết đơn lẻ nào trong mạng lưới có thể mô tả tất cả khía cạnh của vũ trụ – tất cả các lực của tự nhiên, những hạt cảm ứng các lực này, và cơ cấu của không gian và thời gian trong đó tất thảy diễn ra Dẫu tình huống này không hoàn thành được giấc mơ truyền thống của các nhà
Giao thoa vũng nước Khái niệm giao thoa xuất hiện trong cuộc sống
hằng ngày như các vùng nước, từ cái vũng nước tới các đại dương
Trang 39vật lý về một lý thuyết thống nhất đơn lẻ, nó được chấp nhận trong cơ cấu của thực tại phụ thuộc mô hình luận
Chúng ta sẽ thảo luận về lưỡng tính và thuyết M sâu hơn trong Chương
5, nhưng trước khi chúng ta chuyển sang một nguyên lý cơ sở mà quan điểm hiện đại của chúng ta dựa trên đó: thuyết lượng tử, và cụ thể, hướng tiếp cận thuyết lượng tử gọi là các lịch sử thay thế Trong quan điểm đó, vũ trụ không chỉ có một sự tồn tại đơn lẻ hay duy nhất, mà thay vào là mọi phiên bản có thể của vũ trụ tồn tại đồng thời trong cái gọi là siêu vị trí lượng tử Điều đó có lẽ nghe cũng chướng tai như giả thuyết trong đó cái bàn biến mất bất cứ khi nào nào ta rời phòng, như trong trường hợp này lý thuyết đó đã qua được mọi bài kiểm tra thí nghiệm mà nó từng bị xem xét