1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình tổng hợp những nguy cơ vì nước sinh hoạt ở Hà Nội phần 2 pot

5 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 72,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiềnBPP Nguyên tắc BPP chủ trương rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được bảo trợ bởi những người muốn thay đổi hoặc những ngư

Trang 1

cải thiện môi trường ” và ai hưởng lợi từ việc môi trường trong lành phải đóng

phí khắc phục ô nhiễm

II.1 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP)

Nguyên tắc này bắt nguồn từ sáng kiến do tổ chức hợp tác kinh tế và

phat triển (OECD) đề ra vào các năm 1972 và 1974 PPP qui định năm 1972

có quan điểm những tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động

kiểm soát và phòng chống ô nhiễm PPP năm 1974 chủ trương rằng, các tác

nhân gây ô nhiễm thi ngoài việc tuân thủ theo các chỉ tiêu đối với việc gây ô

nhiễm thì còn phải bồi thường thiệt hại cho những người bị thiệt hại do ô

nhiễm này gây ra Nói tóm lại, theo nguyên tắc PPP thì người gây ô nhiễm

phải chịu mọi khoản chi phíđể thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do

chính quyền thục hiện, nhằm đảm bảo môi trương ở mức chấp nhận được

II.2 Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền(BPP)

Nguyên tắc BPP chủ trương rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện

môi trường cần được bảo trợ bởi những người muốn thay đổi hoặc những

người không phải trả giá cho việc gây ô nhiễm Nguyên tắc BPP cũng tạo ra

một khoản thu cho nhà nước, mức phí tính theo đầu người càng cao và càng

nhiều người nộp thì số tiền thu được càng nhiều Số tiền thu được từ BPP được

thu theo nguyên tắc các cá nhân muốn bảo vệ môi trường và những cá nhân

không phải trả cho việc gây ô nhiễm nhưng khi môi trường được cải thiện họ

là những người được hưởng lợi cần đóng góp Tuy nhiên số tiền này không

trực tiếp do người hưởng lợi tự giác trả mà phải một chính sách do nhà nước

ban hành qua thuế hoặc phí buộc những người hưởng lời phải đóng góp, nên

ngưyên tắc BPP chỉ khuyến khích việc bảo vệ môi trường một cách gián tiếp

Đây là nguyên tắc có thể được sử dụng như một định hướng hỗ trợ

nhằm đạt được mục tieu môi trường, dù đó là bảo vệ hay phục hồi môi trường

Tuy nhiên hiệu quả môi trường có thể đạt được hay không, trên thực tế phụ

thuộc vào mức lệ phí, số người đóng góp và khả năng sủ dụng tiền hợp lí

Trang 2

III Nguyên tắc xác định phí nước thải

Theo nghị định 67/2003/NĐ-CP của chính phủ ban hành việc thu phí

nước thải và thông tư 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thi hành nghị

định 67 Nghị định 67 quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;

chế độ thu, nộp, quản lí và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Còn thông tư 125 hướng dẫn thi hành nghị định 67 trong đó quy định rõ đối

tượng phải chịu phí bảo vệ môi trường với nước thải và cách tính phí

Đối với nước thải công nghiệp cách tính phí được tính:

Số phí = tổng lượng nước thải * hàm lượng chất gây ô nhiễm trong

nước thải(mg/l)*10-3 * mức thu đối với chât gây ô nhiễm ra MT(đồng/kg)

Đối với sinh hoạt:

Số phí = lượng nước sử dụng * giá bán(đồng/m3) * tỉ lệ thu phí(%)

Qua các văn bản pháp luật có thể thấy phí nước thải nước ta được tính

dựa vào các tiêu chí:

+ Tổng lượng thải

+ hàm lượng các chất gây ô nhiễm có trong nước tính bằng mg/l

+ Đặc tính các chất gây ô nhiễm Mỗi chất gây ô nhiễm khác nhau có

một mức thu phí tối đa và tối thiểu khác nhau, tuỳ theo mức độ độc hại của

mỗi loại chất và được quy đinh tại nghị định 67 Các chất gây ô nhiễm chủ

yếu được qui đinh trong luật là: BOD, COD, TSS, Hg, Pb, As, Cd

Chất gây ô nhiễm có trong nước

thải

Mức thu (đồng/kg chất gây ô nhiễm có trong

nước thải) Stt

Tên hoá chất Kí hiệu Tối thiểu Tối đa

Trang 3

Việc thực thi phí nước thải ở nhiều nước trên thế giới đã thu được nhiều thành tựu đáng khích lệ Do đó việc thực thi phí nước thải với nước ta cũng có nhiều ảnh hưởng tác động đến môi trường nước mặt Mà cụ thể ở đây là nước mặt và môi trường sông Tô Lịch Nó có thể giúp mọi người nâng cao ý thức bảo vệ môi trường Nhà nước và địa phương có thêm nguồn thu từ đó đầu tư trở lại vào môi trường nhằm bảo vệ môi trường Kích thích các doanh nghiệp

đầu tư vào hệ thống sử lí nước thải hoặc đổi mới công nghệ nhằm làm giảm lượng ô nhiễm, từ đó nâng cao chất lượng môi trường

Hiện nay tổng lượng nươc thải sinh hoạt của khu vực nội thành Hà Nội khoảng 500.000m3/ngày đểm trong đó có khoảng 100.000m3ngày đêm là nước thải của các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, bệnh viên toàn bộ lượng nước thải này được tiêu thoát chủ yếu qua 4 con sông chính cẩu thành phố là: sông Tô Lịch, sông Sét, sông Kim Ngưu và sông Lừ Nước thải sinh hoạt phần lớn qua

sử lí sơ bộ tại các bể tự hoại trước khi thải vào tuyến cống chung, kênh, mương, ao, hồ Tuy nhiên các bể tự hoại này làm việc kém hiệu quả do xây dựng không đúng quy cách, không hút phân cặn thường xuyên nên hàm lượng chất bẩn trong nước cao, gây ảnh hưởng xấu trong chất lượng nước trong các kênh mương

Sông Tô lịch là con sông lớn nhất trong bốn con sông tiêu thoát nước chính của thành phố Hà Nội Qua đánh giá thực tế ban đầu bằng việc quan sát trực tiếp sông, có thể nói sông đang bị ô nhiễm nặng dù mùa khô hay mùa mưa vào những ngày nóng bức mùi từ sông bốc lên gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống, sức khoẻ, cũng như sản xuất của ngưòi dân hai bên bờ sông Không những thế nó còn gây mất mĩ quan đô thị làm giảm hình ảnh thủ

đô cũng như môi trường của thành phố

Tuy nhiên với việc áp dụng phí nước thải với các cơ sở sản xuất và các

hộ gia đình, sẽ có những tác động tích cực tới môi trường Phí nước thải có thể buộc các doanh nghiệp phải làm giảm lượng gây ô nhiễm, từ đó nâng cao chất lượng môi trường Với nguồn thu từ phí nước thải, chinh phủ có thể đầu tư trở

Trang 4

các công việc quản lí cũng như các công trình về môi trường Khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp cũng như xây dựng hệ thống sử lí nước thải, đổi mới công nghệ

Song vấn đề đặt trong giai đoạn đầu của chương trình thu phí ô nhiễm

đối với nước thải là có thể xác định phí nói trên với tất cả các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ở Hà Nội hay không?

Trang 5

Phần II HIệN TRạNG Ô NHIễM

I Khái quát chung

I.1 Đặc điểm tự nhiên của thành phố Hà Nội

Hà nội nằm ở 20 độ 57 phút vĩ bắc và 105 độ 35 phút – 106 độ 25 phút

độ kinh đông Từ bắc xuống nam dài nhất khoảng 93 km, từ đông sang tây rộng nhất khoảng 30 km

Hà Nội nằm trong vùng nhiệt đới gío mùa, độ ẩm trung bình trong năm

là 81-82% tháng cao nhất vào khoảng 85-86% Nhiệt độ trung bình có chiều hướng tăng, năm 1985 là 23,5 độ C, từ năm 1990-1995 nhiệt độ trung binh là

24 độ C ( có năm lên tới 24,1 độ C ) hàng năm bình quân có từ 8-10 cơn bão

và áp thấp nhiệt đới đi qua Tổng lượng mưa trong năm, theo thống kê thì trong những năm gần đây có nhiều biến động, tuy nhiên trung bình hàng năm khoảng 1500 mm Số ngày mưa từ 140-160 ngày trong năm

Sông Tô Lịch thuộc nội thành Hà Nội, nó dài 13.5 km rộng từ 30-40m sâu khoảng từ 3-4 m Đầu nguồn bắt đầu từ kênh đào cũ Thụy Khê thuộc khu vực Phan Đình Phùng Nó qua Từ Liêm và dịa hạt quận Thanh Trì rồi cùng ba con sông khác chảy đổ vào sông Nhuệ qua Đầm Thanh Liệt Sông được cải tạo bằng nguồn vốn vay ODA, hai bên bờ sông được thành phố cải tạo có xây

kè đá và các hệ thống thoát nước thải trực tiếp vào trong lòng sông qua rất nhiều các ống cống lớn nhỏ của các hộ dân cư và các doanh nghiệp trên địa bàn

Tình trạng ô nhiễm do nước thải của thành Phố Hà Nội Nước thải của thành phố Hà Nội thải ra hệ thống thoát nước hàng ngày khoảng 500.00m3 ngày/đêm trong đó có khoảng 100.000 m3 ngày/đêm là nước thải công nghiệp, của các cơ sở dịch vụ và bệnh viện

Thực trạng ô nhiễm tại sông Tô Lịch

Sông Tô Lịch là con sông lớn nhất trong bốn con sông và cũng là con song bị ô nhiễm nặng nhất, điều này được thể hiện thông qua nước thải đổ vào

Ngày đăng: 07/08/2014, 14:22