1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

thị truờng nội địa dệt may doc

46 521 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 598,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm qua hầu hết các doanh nghiệp Dệt - May Đà Nẵng đang chạy đôn chạy đáo để mở rộng thị trường xuất khẩu nhưng chúng ta chưa chú trọng đầu tư các hệ thống đại lý và phát triển thư

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ngành Dệt - May thành phố Đà Nẵng là ngành kinh tế mũi nhọn của công nghiệp thành phố Đà Nẵng những năm qua , có vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho ngườilao động , tăng nguồn thu ngân sách … sự phát triển của ngành đã đóng góp to lớn vào công việc phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp thành phố Đà Nẵng nói riêng, thúc đẩy quá trình Công Nghiệp Hoá - Hiện Đại Hoá

Thực tế hội nhập kinh tế khu vực và xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới , ngành Dệt - May Đà Nẵng càng đứng trước nhiều cơ hội và thách thức ,

cơ hội là sản phẩm của ta với bàn tay khéo léo của lực lượng lao động dồi dào, có khả năng cạnh tranh và phát triển cao Tuy nhiên chúng ta gặp nhiều thách thức về uy tín nhãn hiệu hành hoá , khả năng sáng tác mẫu mốt , thời trang và cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm ở thị trường trong và ngoài nước

Những năm qua hầu hết các doanh nghiệp Dệt - May Đà Nẵng đang chạy đôn chạy đáo để mở rộng thị trường xuất khẩu nhưng chúng ta chưa chú trọng đầu tư các hệ thống đại lý và phát triển thương hiệu kinh doanh của mình trên thị trường nội địa để đáp ứng các sản phẩm nhanh , rẻ , đẹp , bền , chất lượng cao , mẫu mã phù hợp Vì thế các doanh nghiệp Dệt - May Đà Nẵng buộc phải nhường lại sân nhà ở thị trường Đà Nẵng và trong thị trường

cả nước cho các doanh nghiệp ở các địa phương khác và nước ngoài lấn lướt , thao túng Do đó đã làm cho các doanh nghiệp Dệt - May Đà Nẵng gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh của mình Đồng thời , không tạo ra được chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp lui về khi thị trường xuất khẩu có nhiều biến động và cạnh tranh rất khó khăn với các sản phẩm của các nước đã tham gia WTO

Nhận được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên , với mong muốn một phần giúp cho các doanh nghiệp Dệt - May Đà Nẵng chiếm lĩnh thị trường nội địa , chủ động hội nhập , nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội , thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước , làm thế nào để người tiêu dùng Việt Nam quen dần với việc sử dụng hàng Dệt - May Đà Nẵng và bớt đi tâm lý sính hàng ngoại , khi mà cuộc chiến cạnh tranh đang trở nên khốc liệt và gay gắt hơn của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đang đến gần , em đã lựa chọn và xây dựng đề tài :

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA CỦA NGÀNH DỆT MAY THÀNH

Trang 2

Tuy đã có nhiều nỗ lực , cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài nhưng

vì kiến thức và số liệu có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót trong việc thoã mãn tất cả các yêu cầu đặt ra Em rất mong sự đóng góp bổ sung của các thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của các cô chú thuộc Sở Công Nghiệp Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này

Trang 3

2 Quan hệ giữa thị trường và phát triển công nghiệp

Thị trường có vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghiệp và hoạt động kinh doanh công nghiệp Trong cơ chế thị trường , giữa phát triển công nghiệp củng như các tế bào của nó có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau

Tác động của thị trường tới phát triển công nghiệp thể hiện : nó chỉ ra xu thế phát triển công nghiệp , chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm công nghiệp , nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của sản xuất kinh doanh.Tác động trở lại của phát triển công nghiệp tới thị trường thể hiện : tạo nguồn hàng hóa cho lưu thông trên thị trường , giải quyết quan hệ cung cầu mở rộng và quyết định khả năng tham gia thương mại quốc tế của một quốc gia

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần vào việc thoã mãn các nhu cầu của thị trường , kích thích sự ra đời của các nhu cầu mới và nâng cao chất lượng nhu cầu.Tuy nhiên trong cơ chế thị trường , thị trường có vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thị trường vừa là động lực , là điều kiện , là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Có nhiều cách phân loại thị trường , song cách phân loại cơ bản nhất là chia thị trường thành thị trường trong nước hay thị trường nội địa và thị trường ngoài nước

3 Vai trò của thị trường đối với việc tiêu thụ sản phẩm và phát triển ngành

Thị trường có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân , thông qua cân đối cung cầu để phân phối các nguồn lực sản xuất có giới hạn để sản xuất

ra đúng những hàng hoá dịch vụ mà xã hội có nhu cầu , giúp cho doanh nghiệp

có những phương án kinh doanh phù hợp

Trong cơ chế thị trường ngày nay , tiêu thụ sản phẩm là một quá trình bao gồm nhiều khâu từ nguyên cứu thị trường , xác định nhu cầu của khách hàng , đặt hàng và tổ chức sản xuất , xúc tiến tiêu thụ hàng hoá nhằm đạt hiệu quả cao nhất

Tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh , nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp trong tương lai

Tiêu thụ sản phẩm là một chỉ tiêu đánh giá điểm mạnh , điểm yếu của doanh nghiệp , giúp cho nhà sản xuất thu thập thông tin về các phản ứng của

Trang 4

khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp , từ đó đề ra chiến lược Marketing phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của khách hàng , tạo mối quan hệ mật thiết giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.

4 Nguyên cứu và phát triển thị trường

Để triển khai sản phẩm đến thị trường thì các doanh nghiệp cần phải nguyên cứu thị trường Nội dung của nguyên cứu thị trường bao gồm :

Nguyên cứu đặc điểm , thị phần , dự báo tiềm băng thương mại của thị trường ; sự phân bố thị trường theo lãnh thổ , tác động của các yếu tố đến chiều hướng biến động của thị trường

Nguyên cứu khách hàng hay người tiêu dùng như động cơ, quan điểm, thị hiếu, thái độ, phản ứng và tiến trình quyết định mua hàng của họ

Nguyên cứu sản phẩm như cách thức sử dụng , tập quán và sự ưa chuộng của người tiêu dùng để thiế kế, cải tiến sản phẩm, những khác biệt hoặc những lợi thế so với sản phẩm cạnh tranh, chiều hướng phát triển sản phẩm

Nguyên cứu phân phối như các kênh phân phối và cấu trúc kênh, các loại trung gian và các phương thức phân phối sản phẩm, kết câấuchi phí giá thành sản phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến việc định giá và điều chỉnh giá cả

Nguyên cứu quảng cáo và hoạt động bán hàng, nguyên cứu và dự báo

xu hướng thay đổi và phát triển của môi trường và doanh nghiệp

Để nguyên cứu thị trường chúng ta cần thực hiện 3 bước sau :

• Thu thập thông tin : đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định ho các bước sau, thông tin được thu thập dựa vào các phương pháp thu thập thông tin qua băng hình , tài liệu, bằng phiếu điều tra, phỏng vấn, điều tra chọn mẫu…

• Xử lý thông tin : nhằm đáp ứng một số thông tin mà doanh nghiệpcần như số lượng , chất lượng , hành vi và tiêu dùng để làm căn cứ xây dựng chiến lược thị trường của doanh nghiệp

• Ra quyết định xây dựng chiến lược king doanh :trên thị trườngbên mua

và bên bán đều có những hàng động của họ đối với thị trường để tối đa hoá lợi nhuận trong từng tình huống kinh doanh Thông qua những phương thức ứng xử của người tham gia thị trường, doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh đối với khách hàng với đối thủ cạnh tranh trong từng tình huống trên thị trường để tối đa hoá lợi nhuận

Nguyên cứu thị trường là công việc phức tạp, đòi hỏi tính chuyên sâu nhưng nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp nhằm giải quyết xác định thị trường mục tiêu, thị trường tiềm năng, thị phần của doanh nghiệp trên các thị trường, đề ra các biện pháp, chiến lược, chính sách để mở rộng và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường

*) Các phương pháp nguyên cứu thị trường

Những dữ liệu sơ cấp có thể thu thập theo 4 cách :

Cách 1: Nguyên cứu quan sát

Những dữ liệu mới có thể thu thập bằng cách quan sát các đối thượng nguyên cứu và khung cảnh tương ứng

Cách 2: Nguyên cứu nhóm tập trung

Trang 5

Nhóm tập trung là một cuộc họp mặt từ 6 đến 10 người được mời đến trong một vài giờ để cùng với một người chủ trì khôn khéo trao đổi với nhau

về sản phẩm, dịch vụ, tổ chức hay một thực thể khác.Cuộc trao đổi đợc ghi lại dưới hình thức biên bản hay băng ghi âm, ghi hình để sau này nghiên cứu tìm hiểu niềm tin, thái độ và hành vi của người tiêu dùng Đây là một bước thăm

dò bổ ích được tiến hành trước khi thiết kế một cuộc điều tra quy mô lớn.Nó giúp nhìn sâu hơn mức độ nhận thức, thái độ và sự thoã mãn của người tiêu dùng, nhờ vậy có thể xác đinh vấn đề nghiên cứu một cách đúng đắn

Cách 3 : Nguyên cứu điều tra

Nghiên cứu điều tra nằm giữa một bên là nghiên cứu quan sát nhóm tập trung và một bên là nghiên cứu thực nghiệm Các phương pháp quan sát và nhóm tập trung phù hợp với các cuộc nghiên cứu thăm dò, còn nghiên cứu điều tra lại thích hợp nhất với nghiên cứu nguyên nhân Các công ty tiến hành

để nắm được trình độ hiểu biết, niềm tin, sở thích, mức độ thoã mãn,… của công chúng và lợng định các đại lượng đó Ví dụ những người nghiên cứu công ty có thể điều tra xem có bao nhiêu người biết về công ty này , vv…

II> Thị trường nội địa và sự cần thiết phải phát triển thị

trường nội địa

1 Thị trường nội địa

Thị trường nội địa có thể hiểu là thị trường giới trong phạm vi lành thổ quốc gia , thường chủ yếu là trên đất liền Cũng có thể hiểu thị trường nội địa

là các giao dịch trong nước và quốc tế xảy ra trên lãnh thổ một nước ; hoặc đó

là thị trường các giao dịch giữa các tác nhân trong nước với nhau , không có yếu tố nước ngoài

Tuy nhiên , thực tế hiện nay cho thấy các giao dịch trên thị trường hiện đại ngày nay càng có yêu cầu rất lớn về mặt pháp lý đối với các giao dịch đó , nhất là trong điều kiện mở rộng phạm vi hoạt động của tổ chức thương mại thế giới ( WTO ) , vì vậy có thể xác định là thị trường nội địa của một nước là các giao dịch thị trường hoạt động trong phạm vi mà ở đó pháp luật nước đó ( ví dụ như thuế xuất nhập khẩu , thuế thu nhập , quy chế quản lý hàng hóa , đăng ký thương hiệu ) có hiệu lực hoàn toàn

Như vậy về mặt phạm vi hoạt động , thị trường nội địa có thể không còn giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia , mà còn có thể ở địa bàn khác ngoài lãnh thổ quốc gia nếu pháp luật nước đó vẫn còn hiệu lực Ví dụ : các giao dịch thị trường ( mua bán ) trên máy bay , trên các tàu tại vùng biển nội thủy hay quốc tế , tại các khu vực thương mại đặc biệc mà một nước đặt tại nước khác

2 Sự cần thiết phải phát triển thị trường nội địa

Lý do để hướng trọng tâm chiến lược vào việc phát triển thị trường nội địa ổn định và bền vững :

Trước tiên , mặc dù khu vực kinh tế tư nhân đã khẳng định vai trò cốt yếu và tích cực của mình trong nền kinh tế nhưng còn hạn chế về khả năng cạnh tranh , nhất là ít kinh nghiệm trong việc phát triển thị trường nội địa vì

Trang 6

phần lớn các doanh nghiệp này đều ở trong giai đoạn khởi nghiệp hoặc tiền phát triển , với một quy mô ( vốn , sản xuất vì thị trường) còn hạn hẹp

Việt Nam là một thị trường tiềm năng lý tưởng với 38 triệu người tiêu thụ đủ các loại hàng hoá và dịch vụ Sau một thập kỷ phát triển kinh tế ổn định

và đều đặn , một thị trường năng động nhiều tầng đã dần dần định hình với ba tầng chuyên biệt : thu nhập cao , trung bình và thấp Tuy có mức thu nhập khác nhau , các nhóm tiêu dùng này đều có nguyện vọngcải thiện chất lượng đời sống , tạo động lực khuyến khích doanh nghiệp trong nước tăng gia sản xuất và đa dạng hoá sản phẩm

Đa số mặt hàng xuất khẩu hiện nay từ Việt Nam đều được sản xuất hoặc chế biến dưới dạng gia công , có hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp Các thị trường xuất khẩu nhắm đến được coi là khó tính , thường có đòi hỏi về chất lượng và an toàn rất khắt khe

Thị trường nội địa luôn có vai trò vị trí hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Nó là nơi khởi đầu và cũng là nơi kết thúc đầu vào thành đầu ra cho sản xuất , đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của dân

cư trong nước Chỉ khi sản xuất hàng hoá phát triển , phân công lao động xã hội diễn ra vượt quá phạm vi biên giới quốc gia thì thị trường quốc tế mới phát triển , quá trình tự do hoá thương mại mới diễn ra sâu rộng Nói cách khác chỉ khi thị trường nội địa phát triển mới có điều kiện thâm nhập nhanh vào thị trường quốc tế Vì vậy thị trường nội địa luôn có vai trò đặt biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nói chung và thương mại nói riêng của mỗi quốc gia , nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam , một nước có dân số gần 80 triệu người , đang trong giai đoạn tiến tới hình thành đầy đủ và đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường nội địa

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng và tác động đến thị trường nội địa củng như sự phát triển của nó , có thể chia các nhân tố ảnh hưởng như sau:

Dân số : vì dân số tạo nên thị trường , khi phát triển thị trường nội địa

cần nắm rõ phân bố dân cư theo khu vực địa lý và mật độ dân cư , xu hướng di dân , phân bố dân cư theo độ tuổi , tình trạng hôn nhân , tỷ lệ sinh đẻ , chủng tộc , cấu trúc tôn giáo Có những xu biến đổi trong môi trường dân số có tác động đặt biệt quan trọng đối với doanh nghiệp , do tác động đến lượng cầu về sản phẩm và làm thay đổi hành vi của người mua : sự thay đổi về cơ cấu độ tuổi dân cư , sự thay đổi về đặc điểm gia đình , những thay đổi trong phân bố dân cư về địa lý , cơ cấu về trình độ học vấn của dân cư

Môi trường kinh tế bao gồm các nhân tố tác động đến sức mua của người tiêu dùng và cách thức tiêu dùng , những ai muốn phát triển thị trường nội địa phải lưu ý các xu hướng chính trong thay đổi thu nhập và các động thái thay đổi tiêu dùng của khách hàng Các thay đổi trong những biến số kinh tế chủ yếu như thu nhập , tỷ trọng thu nhập dành cho tiêu dùng , cơ cấu chi tiêu , tiền tiết kiệm hay vay mượn có một tác động rất lớn trên thị trường

Trang 7

Môi trường công nghệ : Sức mạnh mãnh liệt nhất tác động đến cuộc sống

con người là công nghệ , công nghệ đã tạo ra những điều kỳ diệu , các tiện ích , thái độ của một người đối với công nghệ tuỳ theo việc họ bị tác động bởi những điều kỳ diệu của nó Hiện nay các nhà khoa học đang tập trung nghiên cứu nhiều công nghệ mới nhằm tạo ra một cuộc cách mạng đối với các sản phẩm và quá trình sản xuất nhằm phục vụ cho cuộc sống của chúng ta Trong mọi trươờnghợp , thách thức không chỉ về mặt kỹ thuật mà cả về mặt thương mại , tưứclà phải phát triển được những sản phẩm hợp với số tiền của đa số ngời tiêu dùng

Nhân tố quan trọng nhất chính là bản thân các doanh nghiệp trong ngành, năng lực quản lý điều hành sản xuất và phân phối sản phẩm đến thị trường trong nước , cũng như việc quảng bá xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình trên sân nhà

Để đảm bảo phát triển thị trường nội địa , việc phân tích những tác động

và xu hướng của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô , như môi trường dân số học, môi trường kinh tế , môi trường tự nhiên ( sự khan hiếmcác nguồn nguyên liệu , mức độ ô nhiễm tăng lên , chi về năng lượng ngày càng tăn), môi trường công nghệ ( xu hướng thay đổi theo nhịp gia tốc của công nghệ , các phát minh

và cải tiến sản xuất và sản phẩm … )

III> Một số kinh nghiệm trong việc phát triển thị trườngnộiđịa

*)Vinatex chăm lo tốt thị trường nội địa :

Để phát triển thị trường nội địa phải chú trọng phát triển thị trường nội

bộ ( liên kết dệt với dệt , dệt với may ) Thành lập công ty kinh doanh thời trang , mở các siêu thị bán hàng dệt may

Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư nhằm tăng tốc phát triển , tập trung khai thác tối đa năng lực sản xuất , chú trọng công tác thị trường Trong công tác thị trường , tập trung phát triển các loại sản phẩm có giá trị cao , có nhu cầu thị trường , mỗi doanh nghiệp phấn đấu tạo ra các sản phẩm mũi nhọn có sức cạnh tranh , có thương hiệu riêng để khẳng định vị thế của mình Thu thập và xử lý thông tin liên quan đến thị hiếu , mẫu mốt , giá cả , nhu cầu để phục vụ kinh doanh , tổ chức các trung tâm tiêu thụ nội địa lớn và mạng lưới đại lý tại các tỉnh , nâng cao khả năng cạnh tranh của toàn hệ thống liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị sản xuất , các công xuất nhập khẩu , viện trường , củng cố phát triển thị trường ngoài nước , hợp tác phân công sản xuất , khai thác năng lực của địa phương

Về đầu tư phát triển , tập trung cho nâng cao chất lượng sản phẩm từ khâu nguyên liệu , đặc biệt là thực hiện các dự án trọng điểm về tơ tằm , len , dệt kim.Áp dụng các giải pháp đồng bộ trong tổ chức quản lý , lao động tiền lương , đào tạo và giải quyết các vấn đề có tính xã hội

*) Xu hướng mới: Đầu tư khai thác thương hiệu nước ngoàiTập đoàn này có doanh thu mỗi năm trên 14,5 tỷ USD, sản phẩm có mặt trên 60

Trang 8

nước với trên 150 nhãn hiệu, và đây cũng chính là chủ nhân của thương hiệu bia Miller

nổi tiếng thứ hai tại Mỹ

Liên doanh này có tỷ lệ vốn góp 50/50 để xây dựng một nhà máy sản xuất bia trị giá 45 triệu USD, chủ yếu là loại bia nhẹ cho phụ nữ Trước đó, Vinamilk cũng đã liên doanh với Hãng Campina International Holding B.V của Hà Lan, một hãng sữa nổi tiếng thế giới để sản xuất một số nhãn hiệu sữa cao cấp của Hà Lan nhằm cung cấp cho phân khúc thị trường có thu nhập cao tại Việt Nam

Ngay cả Tổng công ty Rượu - Bia và Nước Giải khát (Sabeco) cũng đã ký hợp đồng liên kết với một tập đoàn bia hàng đầu của Mỹ để tiếp nhận khai thác các kinh nghiệm xây dựng hệ thống phân phối hiện đại tại thị trường trong nước, đưa sản phẩm của Sabeco vào hệ thống tiêu thụ quốc tế của đối tác, từng bước tiến tới hợp tác sản xuất một số nhãn hiệu bia nổi tiếng của Mỹ

Trong thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp lớn, tập đoàn lớn trong nước đang

nỗ lực tìm mọi cách mua nhãn hiệu cao cấp, hoặc liên doanh với các tập đoàn sở hữu các nhãn hiệu nổi tiếng quốc tế để tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất hàng cao cấp, cách thức tổ chức, phân phối hệ thống và tiếp thị

Mới đây, Tập đoàn Dệt may Việt Nam cũng đã ra nghị quyết trong năm nay phải mua 2-4 nhãn hiệu hàng nổi tiếng để sản xuất và phân phối trên thị trường nhằm đẩy nhanh việc chiếm lĩnh thị trường trong nước, qua đó khẳng định đẳng cấp sản xuất

của mình

Công ty Savico cũng vừa mua quyền sử dụng nhãn hiệu Pierre Cardin đối với thời trang nữ và trẻ em để sản xuất và kinh doanh tại thị trường nội địa Trước đó, An Phước đã rất thành công khi từ một doanh nghiệp tư nhân nhỏ không mấy ai biết đến

đã mua lại thương hiệu Pierre Cardin đối với hàng thời trang nam, và đã biết phát triển dòng sản phẩm riêng của An Phước song song với Pierre Cardin, chiếm lĩnh thị trường thời trang cao cấp

Các hình thức đầu tư đi tắt để sản xuất hàng cao cấp đang là khuynh hướng đầu

tư mới hiện nay

PHẦN II : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA CỦA NGÀNH DỆT MAY THÀNH

PHỐ ĐÀ NẴNG A/ Thực trạng phát triển sản xuất kinh doanh của ngành dệt may thành phố Đà Nẵng

I > Quá trình hình thành và phát triển của ngành dệt may thành phố Đà Nẵng

Trang 9

y tế , khăn mặt cho nhân dân và lực lượng vũ trang phục vụ xây dựng đất nước Những sản phẩm này chất lượng còn thấp chưa phong phú.

Đối với ngành May : ngành này ra đời sau ngành Dệt nhưng có bước phát triển nhanh chóng về năng lực sản xuất , hoạt động sản xuất gặp nhiều thuận lợi

Trong thời kỳ này Việt Nam là thành viên hội đồng tương trợ kinh tế nên ngành dệt may thành phố Đà Nẵng vừa có thị trường cung cấp nguyên liệu là các nước xã hội chủ nghĩa , vừa có thị trường tiêu thụ sản phẩm với khối lượng lớn , chất lượng mẫu mã không đòi hỏi khắt khe , giá cả theo hiệp định dài hạn

+ Giai đoạn từ 1990 - đến nay : quá trình sàng lọc với những yêu cầu

khắt khe của thị trường , tình hình thế giới và các nước trong khu vực có nhiều biến động đặc biệy là sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa làm cho các doanh nghiệp dệt may thành phố Đà Nẵng gặp nhiều khó khăn trong sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm

Nhờ có sự giúp đỡ của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương làm cho ngành dệt may thành phố Đà Nẵng phát triển khá nhanh cả chiều rộng lẫn chiều sâu Sản phẩm của ngành phục vụ một phần nhu cầu trong nước và đã thâm nhập vào một số thị trường khó tính như Mỹ , EU

2 Năng lực sản xuất của ngành :

Năng lực sản xuất của ngành Dệt May thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2001- 2005 :

• Sợi vải toàn bộ : 9.000 tấn / năm

• Khăn bông : 3.600 tấn / năm

2/ Quần áo may sẵn 1000m2 30238 21049 22059 27847 30672

KV vốn đầu tư nước ngoài 19140 5677 5006 9267 9956

( Nguồn : Sở Công Nghiệp Đà Nẵng )

II > Đặc điểm các yếu tố sản xuất của ngành :

1 Số lượng cơ sở sản xuất

Số cơ sở 31/12/04 Số cơ sở 31/12/05 Tổng số

Trang 10

- CN trang phục 865 807

( Nguồn : Sở Công Nghiệp Đà Nẵng )

2 Tình hình máy móc thiết bị , công nghệ sản xuất

Đối với dệt vải khăn bông , thay thế dệt thoi bằng dệt kiếm và thổi khí ,

đã bước đầu phát huy tác dụng , góp phần nâng cao năng suất chất lượng và phong phú về mẫu mã

2.2 Đối với ngành May :

Biểu : trình độ kỹ thuật công nghệ của các doanh nghiệp 2004

( ĐVT : % )

Mức độ Công ty Dệt

May Đà Nẵng

Công ty Dệt May 29/3

Công ty Dệt May Hoà Thọ

Công ty Dệt May Vinatex

Hiện nay hầu như các thiết bị may đã được đổi mới với khoảng 90% thiết

bị của Nhật và 10 % thiết bị của Đức về công nghệ may các dây chuyền được

bố trí vừa và nhỏ cở 25 – 26 máy , cơ động nhanh , mỗi khi thay đổi mẫu hàng chỉ cần 2 ngày là có thể ổn định sản xuất , nhân viên kiểm tra được bố trí vào các dây chuyền may , chấn chỉnh sai hỏng ngay từ khâu hoàn tất từng bước được coi trọng vì đây là khâu tôn vẻ đẹp cho sản phẩm , khâu này được trang bị các súng bắn nhãn , mác , máy dò kim , wash chống màu

Trang 11

số lượng lao động nữ chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số lao động ngành dệt may

Biểu 2 : Năng suất lao động của các công ty dệt may Đà Nẵng

Giai đoạn 1999 – 2004 (ĐVT : Triệu đồng / người)

Chi nhánh Vinatex ĐN 61,02 55,97 60,09 62,12 61,75 61,94Công ty Dệt ĐN 46,4 49,26 73,36 109,80 113,50 141,98Công ty dệt may Hoà Thọ 30,0 29,06 25,47 29,49 30,15 30,19Công ty dệt may 29/3 36,5 39,8 44,12 42,61 43,51 45,46Công ty thảm may thêu 23,25 25,0 23,18

( Nguồn : Sở Công Nghiệp Đà Nẵng )Qua bảng số liệu ta thấy tình hình sử dụng lao động của các công ty là chưa hiệu quả , năng suất lao động vẫn còn thấp do trình độ lao động và chất lượng lao động chưa cao , chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành Dệt– May Đà Nẵng hiện nay

4 Tình hình tài chính :

Tài sản và nguồn là một chỉ tiêu hết sức quan trọng , nó góp phần nâng cao năng lực sản xuất và phản ánh trực tiếp hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty

+ Về tài sản cố định : Tính đến năm 2004 tài sản cố định của ngành dệt

may trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có :

- Ngành dệt : 2 chuyền sợi , 515 máy dệt và 150 thiết bị phụ trợ

- Ngành may : 133 chuyền với 4.619 máy , trong đó doanh nghiệp Trung ương có 306 máy dệt và 40 chuyền may với 1320 máy , doanh nghiệp địa phương có 209 máy dệt và 37 chuyền may với 1310 máy , doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 16 chuyền may với 503 máy , doanh nghiệp ngoài quốc doanh cóp 40 chuyền may với 1.486 máy

Tình hình sử dụng tài sản được tính theo công thức :

Trang 12

Doanh thuHiệu suất sử dụng tài sản =

Nguyên giá TSCĐBiểu : tình hình sử dụng tài sản của các công ty

Doanh nghiệp dân doanh có quy mô rất nhỏ , đồng thời việc vay vốn tại các ngân hàng phục vụ sản xuất phải thế chấp nên hầu hết các doanh nghiệp đều thiếu vốn

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nhiều ưu thế nhất là về vốn do có những quan hệ rộng với các ngân hàng và các tổ chức kinh tế quốc

tế, đồng thời bản thân các nhà đầu tư nước ngoài phần đông đã có sẵn tiềm lực

về vốn nhưng do cơ chế thu hút đầu tư chưa thông thoáng của thành phố nên cũng mới chỉ đầu tư ở quy mô vừa và nhỏ

5 Tình hình đầu tư phát triển sản xuất :

Hoạt động đầu tư phát triển đóng vai trò quan trọng để tồn tại và phát triển của các công ty , đặc biệt là các doanh nghiệp Dệt – May Bởi vì , sản phẩm của ngành mang tính thời trang , nó có thể thay đổi hàng ngày nếu không

có sự đầu tư để nâng cao chât lượng mẫu mã sản phẩm thì doanh nghiệp không thể phát triển được

Danh mục các DA ĐT phát triển ngành công nghiệp Dệt - May thành phố Đà

Nẵng

Trang 13

Tên DA ĐVT VĐT Côngsuất

Cơ quan thực hiện

ThờigianĐTƯ

PX dệt hiện đại tỷ đồng 50 7triệu m vải Danatex 2002

PX dệt hiện đại Tr.USD 35 12000 tấn sợi

20triệu m vải

Vinatex Danang

2001

PX dệt hiện đại Tr.USD 30 2000 tấn sợi Hotexco 2001

PX dệt hiện đại tỷ đồng 15 5000 tấn sợi Liên

doanh

2004

PX dệt hiện đại tỷ đồng 67 15 triệu sp Các DN 2001

( Nguồn : Sở Công Nghiệp Đà Nẵng )Nhìn chung , thời gian qua các doanh nghiệp dệt may thành phố Đà Nẵng đã đầu tư khá tích cực , kịp thời nắm bắt nhu cầu thị trường để có sự điều chỉnh , bổ sung về thiết bị , đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe và thay đổi nhanh chóng của khách hàng Phần lớn các doanh nghiệp đã đầu tư đúng hướng từng bước vững chắc nên đã phát huy được công suất thiết bị đã dầu tư , góp phần đẩy nhanh tiến độ công nghhiệp hoá - hiện đại hoá thành phố , nhiều đơn vị đầu tư đạt hiệu quả tốt như Công ty Dệt Đà Nẵng, Công ty Dệt May 29/3 Một số doanh nghiệp dân doanh mới ra đời cũng hoạt động tương đối tốt

Tóm lại qua sự phân tích các đặc điểm của các yếu tố sản xuất của ngành dệt may thành phố Đà Nẵng ta thấy ngành đã đạt được các kết quả đáng mừng như trình độ máy móc , khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến do các doanh nghiệp đã chủ đọng lập dự án và đầu tư.Bên cạnh đó ngành dệt may thành phố Đà Nẵng còn nhiều mặt hạn chế như nguồn vốn đưa vào đầu tư không đúng tiến độ và những khó khăn về thủ tục làm kéo dài quá trình đầu

tư, dẫn đến công trình chậm được đưa vào sản xuất , trong nhiều trường hợp làm mất cơ hội kinh doanh quan trọng , chưa có kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn , sử dụng tài sản chưa hiệu quả , thiếu nguyên liệu đầo vào.Về trình

độ công nghệ đã đổi mới một bước nhưng vẫn còn lạc hậu so với các nước trong khu vực ( ngành Dệt ) , khâu hoàn tất chưa đồng bộ mới chỉ sản xuất được những sản phẩm sợi , vải cấp thấp chưa đáp ứng được ngành may xuất khẩu của thành phố cũng như khu vực Miền trung & Tây nguyên nên mức chủ động trong sản xuất kinh doanh còn hạn chế.Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do : trình độ năng lực của cán bộ quản lý trong ngành chưa cao

và chưa đồng đều giữa các doanh nghiệp , tay nghề của công nhân còn thấp đặc biệt là công nhân kỹ thuật cao và công nhân lành nghề còn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng Các dự án đầu tư đổi mới công nghệ chú trọng rất ít vào khâu nâng cao chất lượng ở khâu xây dựng dự án và cách thức lựa chọn công nghệ Các cơ quan quản lý chưa tạo được các cơ hội tốt để chuyển giao công nghệ cho ngành , các doanh nghiệp do trung ương quản lý được sự ưu đãi hơn

so với các doanh nghiệp địa phươngkhi vay vốn Các ngành dịch vụ , công

Trang 14

nghiệp hỗ trợ chưa được chú trọng đầu tư phát triển sản xuất nguyên phụ liệu, thiết kế thời trang nên đầu vào cho sản xuất bị phụ thuộc lớn vào nước ngoài , một số địa phương khác cả về số lượng lẫn chất lượng , giá cả Do

đó, chưa góp phần tạo ra bộ mặt mới cho sản xuất công nghiệp trên dịa bàn thành phố Trong những năm đến cần có biện pháp thích hợp để sử dụng có hiệu quả các yếu tố trên

III > Kết quả sản xuất kinh doanh của ngành

1 Mức độ tăng trưởng của ngành :

Biểu : Giá trị sản xuất công nghiệp ngành Dệt May 1999 - 2004

+ Ngoài quốc doanh 14465 18620 28557 317464 43067 56547

B Ngành May 69422 52929 135000 193871 147137 177477

- Trung ương 7975 10244 15860 7589 9061 9360

- Địa phương 46567 60812 92458 160000 103063 125840

+ Quốc doanh 22734 37847 66407 109141 81048 111360

+ Ngoài quốc doanh 23833 22965 26051 50959 22015 21595

Doanh nghiệp FDI 14880 11872 26682 26682 36013 44584

( Nguồn : Sở Công Nghiệp Đà Nẵng )Qua phân tích số liệu cho thấy giai đoạn 1999-2004 ngành dệt may thành phố có tốc độ tăng trưởng bình quân là 26% cao hơn mức tăng trưởng bình quân toàn ngành công nghiệp thành phố , đưa tỷ trọng ngành dệt may từ 7,45% lên 9,44% trong giá trị sản xuất công nghiệp toàn thành phố Trong đó:

Ngành Dệt tăng bình quân 28% năm 1999 chiếm 67,9 % và năm 2004 chiếm 82 % giá trị sản xuất của ngành Dệt - May thành phố

Ngàh May tăng bình quân 20,6 % năm 1999 chiếm 32 % và năm 2004 chiếm 26 % giá trị sản xuất công nghhiệp của ngành dệt may thành phố

Sự tăng trưởng của ngành dệt may Đà Nẵng qua các năm chứng tỏ ngành dệt may Đà Nẵng đã lớn mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh cả chiều rộng lẫn chiều sâu

Về giá trị sản xuất công nghiệp của các thành phần kinh tế Trong lĩnh vực dệt , kinh tế quốc doanh luôn đóng vai trò chủ đạo chiếm 29.67% năm 2004 và có tốc độ tăng trưởng cao.Trong giai đoạn 1999-2004 kinh tế

Trang 15

trung ương tăng 28 % Khu vực dân doanh chiếm gần 10 % có xu hướng tăng nhanh qua các năm.Khu vực có vốn đầu tư đang có xu hướng tăng lên, và nhiều

dự án có vốn dầu tư nước ngoài vào Đà Nẵng đối với ngành dệt may đang được thành phố rà soát và sẽ triển khai trong thời gian đến

Trong ngành May , kinh tế quốc doanh cũng chiếm tỷ trọng tương đối cao 62,75 % năm 2004 , đặc biệt là kinh tế quốc doanh địa phương có tốc độ tăng trưởng trung bình cao 38% , còn doanh nghiệp do trung ương quản lý còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất củng như tiêu thụ sản phẩm.Kinh tế dân doanh chiếm 12,16 % đóp góp đáng kể trong giá trị sản xuất của ngành , tuy nhiên quy mô từng đơn vị rất nhỏ bé Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 25,12 %, tăng bình quân 23,8 % bao gồm các doanh nghiệp có quy

mô vừa và nhỏ , tốc độ tăng không ổn định qua các năm

Nhìn chung ngành dệt may Đà Nẵng những năm qua đạt mức tăng trưởng khá cao Tuy nhiên còn một số hạn chế , chưa có sự cân đối giữa các thành phần kinh tế qua các năm nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngành May nên làm giảm tốc độ tăng của ngành

Do đó các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp cần tìm giải pháp khắc phục khó khăn để ngành dệt may Đà Nẵng phát triển trong những năm đến

2 Sản phẩm sản xuất và tiêu thụ :

Bảng : Sản phẩm sản xuất và tiêu thụ chủ yếu

( Nguồn : Sở Công Nghiệp Đà Nẵng )

B/ Thị trường tiêu thụ nội địa của ngành dệt may thành phố Đà Nẵng

I > Tình hình tiêu thụ sản phẩm dệt may Đà Nẵng trên các thị

KH 2006

Trang 16

GT xuất khẩu

GTTD trong nước

Tỷ lệ

Tr.đồngTr.đồngLần

404163890494,54

4947291068584,64

7458291442585,2

8076271620575,00

932394190102

4,9(Nguồn : Sở Thương Mại Đà Nẵng )

1 Đối với thị trường xuất khẩu :

Giai đoạn 2000-2004 giá trị xuất khẩu của hàng dệt may tăng bình quân gần 18%.Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chiếm tỷ trong ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành công nghiệp thành phố

Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm may mặc , khăn bông, tơ tằm tuy nhiên sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao , vẫn là gia công cho nước ngoài , giá gia công không ổn định , tỷ lệ nguyên liệu trong nước rất thấp do đó hiệu quả sản xuất kinh doanh còn hạn chế

2 Đối với thị trường trong nước :

Trong những năm qua nhờ có chính sách đối ngoại mở cửa của Nhà nước cùng với sự đầu tư đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ mà chất lượng sản phẩm của ngành dệt may thành phố Đà Nẵng từng bước được nâng cao , nhờ đó

mà thị trường tiêu thụ chính của dệt may thành phố Đà Nẵng bao gồm cả nội địa và xuất khẩu

Đối với thị trường nội địa thì sản phẩm tiêu thụ chủ yếu ở Miền Bắc, Hà Nội, vùng Duyên Hải Miền Trung & Tây Nguyên và một số tỉnh phía Nam Sản phẩm của ngành đang ngày càng tạo được chỗ đứng và được người tiêu dùng chấp nhận nhưng lượng tiêu thụ ở thị trường nội địa còn thấp

Sản phẩm tiêu thụ ở thị trường trong nước của ngành dệt may thành phố

Đà Nẵng là rất thấp so với lượng hàng xuất khẩu Mặc dù tỷ lệ tiêu thụ trong nước ngày càng tăng , các sản phẩm như khăn bông , dệt thảm quần áo may sẵn, là những sản phẩm có thế mạnh của dệt may Đà Nẵng củng chỉ tiêu thụ trong nước chưa tới 50% trên tổng sản lượng sản phẩm sản xuất.Chỉ có sản phẩm của ngành dệt như sợi vải là tiêu thụ hoàn toàn tại thị trường trong nước

là do nguyên phụ liệu sợi vải cho ngành May của Đà Nẵng còn đang nhập khẩu

Các sản phẩm của ngành May tiêu thụ trong nước với tỷ lệ rất ít là do trong quá trình đầu tư phát triển sản xuất các doanh nghiệp dệt may thành phố

Đà Nẵng chỉ mới tập trung vào nâng cao năng lực khâu may , dệt vải cầp thấp , chưa đồng bộ ở các khâu Còn khâu dệt vải cao cấp thì chỉ mới bắt đầu khởi động vào đầu năm 2003 , lĩnh vực thiết kế thời trang chưa được chú ý nên đã dẫn đến tình trạng chung là đầu tư bị động theo yêu cầu của khách hàng , chưa chú trong quảng bá xây dựng mẫu mốt , thương hiệu cho riêng sản phẩm của mình để định hướng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước , chưa có sự hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trên địa bàn trong quá trình đầu tư để nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình sử dụng các thiết bị chuyên dùng để sản xuất

ra các sản phẩm có chất lượng cao , mẫu mã đẹp , giá bán thấp

Trang 17

Mặc khác các lĩnh vực cần thiết như sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành may như các loại nút , hoá chất thì chưa có đơn vị nào đầu tư nên các sản phẩm sợi , vải của thành phố chất lượng chưa cao , số lượng thì ít, chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng cho ngành may Đà Nẵng.Do chưa chủ động nguồn nguyên liệu nên không tiếp thêm nguồn sinh lực cho sự phát triển bền vững của ngành dệt may thành phố

Mặc dù đã đạt được những kết quả tương đối khả quan trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu nhưng hiện nay các doanh nghiệp dệt may thành phố

Đà Nẵng vẫn chấp nhận phụ thuộc về nguyên phụ liệu , vẫn tiếp tục chấp nhận gia công qua trung gian thứ 3 với giá rẻ nên lượng tiêu thụ trong nước rất ít Một số doanh nghiệp chưa chú ý khai thác thị trường trong nước

II > Thực trạng tiêu thụ trên thị trường nội địa của ngành dệt may

Đà Nẵng

1 Đặc điểm thị trường sản phẩm dệt may trong nước

Theo thống kê của chính phủ Việt Nam cũng như báo cáo và tài liệu của các tổ chức quốc tế như WB, IMF, ADB, UNDP, OECD, v.v thì hiện nay thu nhập bình quân là khoảng 430 USD mỗi đầu người Việt Nam

Theo kết quả của một cuộc điều tra về thu nhập và chi tiêu thực hiện bởi công ty tư vấn Taylor-Nelson-SOFRES thì ở thành phố HCM, 84% hộ gia đình có thu nhập dưới 280 USD mỗi tháng nhưng có 60% hộ gia đình chi tiêu dưới 450 USD mỗi tháng Tại thủ đô Hà Nội có tới 93% hộ gia đình có thu nhập ít hơn 280 USD mỗi tháng trong khi có 87% hộ gia đình có mức chi tiêu dưới 450 USD mỗi tháng Kết quả của cuộc điều tra mà Taylor-Nelson-SOFRES thực hiện năm 2001 còn cho thấy ở Đà Nẵng, 95% hộ gia đình có thu nhập dưới 280 USD mỗi tháng và 90% có mức chi tiêu dưới 450 USD mỗi tháng Sau cùng, tính chung cho các vùng nông thôn thì 80% hộ gia đình có thu nhập dưới 75 USD mỗi tháng và 80% có mức chi tiêu thấp hơn 160 USD mỗi tháng

Trong khi đẩy mạnh xuất khẩu, xâm nhập và mở rộng thị trường nước ngoài thì ngành Dệt may Việt Nam lại hầu như bỏ ngỏ thị trường nội địa, để mặc cho sản phẩm của Trung Quốc và các nước láng giềng chiếm lĩnh từ thị trường thành thị đến nông thôn

Theo tính toán của các chuyên gia thương mại, nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của thị trường trong nước tương đương 389 nghìn tấn sản phẩm dệt/năm

và mức tăng trưởng hàng năm sẽ khoảng 5%/năm Tuy mức tiêu dùng còn nhỏ như vậy nhưng xét về tương quan thì quy mô thị trường nội địa không quá nhỏ bé so với thị trường xuất khẩu: năm 2000, tổng giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 1,9 tỷ USD thì tiêu thụ nội địa cũng khoảng 1 tỷ USD; năm

2002 con số tương ứng là 2,75 tỷ USD và 1,3 tỷ USD

Ngoài đặc điểm là dung lượng thị trường khá lớn và tiềm năng tăng trưởng khá, thị trường dệt may nội địa còn có yếu tố thuận lợi là khá "dễ tính" Gọi là "dễ tính" bởi chỉ có một bộ phận dân cư thành thị, có thu nhập cao mới đòi hỏi có sự lựa chọn kỹ càng cả về kiểu dáng, chất lượng và mẫu

Trang 18

mã còn đa số người dân nông thôn thì yếu tố "ăn chắc, mặc bền" lại được đặt lên hàng đầu

Đồng thời trong xu thế tiêu dùng hàng may mặc hiện nay, hàng may sẵn đang có lợi thế bởi yếu tố nhanh gọn, đơn giản, tiện lợi, giá rẻ lại phong phú,

đa dạng về mẫu mã, chủng loại

Đáng chú ý nhất phải kể đến quần áo may sẵn và vải sợi chất liệu cotton, visco Dưới ảnh hưởng của thời tiết nắng và nóng, mùa bán năm nay lại đột biến với nhu cầu tiêu thụ tăng vọt về vải, hàng may sẵn có thành phần sợi thiên nhiên, độ thông thoáng và hút ẩm cao giúp chống nóng

Bà Nguyễn Thị Hương, giám đốc Vinatexmart nói thêm: "Xu hướng mới đang xuất hiện trong tiêu dùng hàng may mặc mùa hè là khuynh hướng trẻ và đồng bộ Những người tuổi trung niên 40- 50 cũng thích mặc các kiểu

áo ngắn, quần lửng vải mỏng kiểu dáng mát mẻ Họ chọn cả nón, khẩu trang đồng bộ với trang phục như một kiểu làm đẹp cho riêng mình"

2 Sản lượng và giá trị tiêu thụ

Việt Nam với dân số trên 80 triệu người là thị trường đầy tiềm năng cho việc tiêu thụ các loại hàng hoá nói chung và hàng dệt may nói riêng Khi đời sống của nhân dân ngày càng tăng thì việc chi tiêu cho các nhu cầu may mặc cũng ngày càng tăng tương ứng

Biểu : Giá trị tiêu thụ trong nước của sản phẩm dệt may thành phố Đà Nẵng

Chỉ tiêu ĐVT 1999 2000 2001 2002 2003 2004GTGT

%

89049 106.858

17.80920

144.28537.42735,02

162.05717.77212,31

190.01227.95517,25

220.58430.57216,08

( Nguồn : Sở Công Nghiệp Đà Nẵng )Qua bảng số lượng về tình hình tiêu thụ sản phẩm của ngành dệt may thành phố Đà Nẵng ta thấy giá trị tiêu dùng trong nước của ngành dệt may Đà Nẵng qua các năm đều tăng ở mức cao Từ 89.049 triệu đồng vào năm 1999 đã tăng lên 220.584 triệu đồng vào năm 2004 , đạt tốc độ gia tăng bình quân thời

kỳ là 21%

Tuy nhiên , giá trị tiêu dùng trong nước qua từng năm có nhiều biến động không ổn định Cụ thể năm 2001 tốc độ tăng tương đối là 19,99% giảm xuống còn 12,34 % năm 2002 nhưng tốc độ này lại tăng lên vào năm 2003 là 17,52% và giảm xuống còn 16,08 % vào năm 2004 Do năm 2001, trên thế giới

có nhiều biến động về kinh tế , chính trị xã hội nên đã ảnh hưởng đến thu nhập của người dân nên làm cho sức mua có phần giảm đi Cụ thể năm 2000 lượng tăng tuyệt đối giá trị tiêu dùng trong nước của sản phẩm dệt may thành phố Đà Nẵng là 17.809 triệu đồng so với 37.427 triệu đồng vào năm 2001 củng ở chỉ

Trang 19

Nhìn chung , mức tiêu thụ thực tế của sản phẩm dệt may thành phố Đà Nẵng ở thị trường trong nước vẫn còn thấp , một phần là do thu nhập bình quân đầu người chưa cao , giá cả , mẫu mã , chất lượng không phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của một số khách hàng.Nếu so với giá trị sản lượng hàng hoá xuất khẩu thì giá trị hàng hoá tiêu dùng trong nước của ngành dệt may thành phố Đà Nẵng mang lại rất thấp Do vậy , trong những năm đến cùng với việc

mở rộng gia tăng giá trị xuất khẩu ngành dệt may thành phố Đà Nẵng xác định

cơ cấu mặc hàng sản xuất các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh để củng cố và đẩy mạnh , đần dần chiếm lĩnh thị trường nội địa

3 Cơ cấu mặt hàng tiêu thụ và thị trường tiêu thụ

Biểu : Phân tích thị trường tiêu thụ của một số sản phẩm chủ yếu của ngành

dệt may thành phố Đà Nẵng năm 2004Danh mục sản phẩm Thị trường tiêu thụ ( % )

ty dệt may 29/3 sản xuất có sự nâng cao đáng kể về chất lượng , phong phú về mẫu mã , chủng loại từ những chiếc khăn nhỏ đơn giản để lau mặt cho đến các loại khăn tắm khôt lớn Nhưng các sản phẩm này ít được người tiêu dùng Đà Nẵng đón nhận , sản phẩm tiêu thụ rất ít chỉ có 30% sản lượng tiêu thụ trong nước

Tại thị trường Miền Trung – Tây Nguyên và các tỉnh khác lượng tiêu thụ sản phẩm dệt may Đà Nẵng tương đối khá , các loại vải do công ty Dệt Đà Nẵng sản xuất và một số sản phẩm sợi của thành phố do công ty Dệt Hoà Thọ sản xuất gồm sợi : cotton , FE , peco đã từng bước có khả năng cạnh tranh so với các loại vải , sợi ở trong nước sản xuất chiếm trên 60% tỷ lệ tiêu thụ trong nước

Nhìn chung , các sản phẩm chủ yếu của ngành dệt may Đà Nẵng tiêu thụ trong nước ngày càng được nâng cao lên về chất lượng , số lượng, số lượng tiêu thụ các sản phẩm chủ yếu là ở khu vực Miền Trung – Tây Nguyên và các

Trang 20

địa phương khác Còn tại thị trường Đà Nẵng thì rất thấp.Điều đó làm cho các doanh thu thu được ở thị trường Đà Nẵng sẽ không cao mặc dù chúng ta có lợi thế như chi phí vận chuyển , am hiểu thị trường

III > Các chính sách phát triển thị nội địa của ngành dệt may Đà Nẵng

1 Chính sách sản phẩm

Về chất lượng sản phẩm : Hiện nay chỉ có công ty Dệt May 29/3 và Dệt

May Hoà Thọ đã có sự đầu tư lớn về dây chuyền kéo sợi , dây chuyền may và các máy dệt thiết bị phụ trợ với trình độ tự động hoá cao để nâng cao chất lượng sản phẩm , đã đạt đủ các tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO còn lại hầu hết các doanh nghiệp dệt may Đà Nẵng chưa áp dụng hệ rhống quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO và chưa xây dựng cho mình một chiến lược phát triển chất lượng lâu dài Do đó làm giảm chất lượng sản phẩm , tăng chi phí , giảm năng suất lao động và đặc biệt làm tăng nguy cơ mất khách hàng

Về nhãn hiệu sản phẩm : Hiện nay các doanh nghiệp hầu hết đã có nhãn

hiệu sản phẩm của riêng mình như Hotexco , Hachiba , Danatex và rất chú trọng đến công tác quảng bá thương hiệu Bởi vì nhãn hiệu có ý nghĩa rất lớn trong việc định vị sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Trong cơ chế thị trường của thời hội nhập , thương hiệu được coi là một tài sản quý giá cho doanh nghiệp và là một công cụ cạnh tranh trên thị trường Các doanh nghiệp ngày càng nhận ra một nhu cầu bức bách là phải có thương hiệu mạnh để củng cố vị trí và sức mạnh trên thị trường Các doanh nghiệp Dệt- May hiện nay vẫn chưa có thương hiệu đang rà soát kế hoạch hoặc chiến lược xây dựng nhãn hiệu cho riêng mình Các doanh nghiệp đặc biệt chú ý phân tích , chọn lựa nhãn hiệu sao không trùng với nhãn hiệu của doanh nghiệp khác và xác định lãnh thổ cần đăng ký, không đăng ký tràn lan gây tốn kém, chỉ cần đăng ký ở thị trường trong nước và thị trường các nước xuất khẩu như : Nhật , Đài Loan, Châu Âu …Các doanh nghiệp đang nghiên cứu 2 nhóm nhãn hiệu của Việt Nam hiện nay là nhãn hiệu “ thuần Việt “ và “ tiếng Việt mới ” , tuân theo xu hướng sáng tạo và sử dụng nhãn hiệu dựa trên khách quan, có cơ

sở, dựa vào các nghiên cứu về thị trường và chiến lược

Thời gian qua các doanh nghiệp đặc biệt chú ý đến cải tiến bao bì , kiểu dáng sản phẩm sao cho đáp ứng các yêu cầu của quá trình bảo quản , vận chuyển vừa có hình thức đẹp hấp dẫn người tiêu dùng

Về tình hình đầu tư phát triển sản phẩm mới : những năm qua sản phẩm

dệt may công nghiệp Đà Nẵng đã có những thay đổi đáng kể từ chỗ chỉ may quần áo bảo hộ lao động , quần áo thường dùng ở nhà đến nay đã có những sản phẩm chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước như quần áo thể thao áp Jaket , quần áp Jean , màn tuyn Tuy nhiên các sản phẩm chưa phong phú , đa dạng , chủ yếu được thay đổi màu sắc , kiểu dáng mẫu mã trên

Trang 21

cơ sở cải tiến các sản phẩm cũ Do đó , việc hoàn thiện cải tiến sản phẩm và phát triển sản phẩm mới vẫn là một bài toán lớn đòi hỏi phải giải quyết.

2 Chính sách giá cả

Để có khả năng cạnh tranh về giá thì các doanh nghiệp phải có chính sách hạ giá thành sản phẩm để điều chỉnh được giá xuống thấp hơn giá bán của các sản phẩm cùng loại

Bất kỳ giá cả nào do công ty xác định dù thế nào cũng ảnh hưởng đến nhu cầu hàng hoá Do vậy , giá cả là một yếu tố rất quan trọng , ảnh hưởng đến lợi nhuận và khả năng cạnh tranh trên thị trường

Hiện nay chủ yếu các doanh nghiệp Dệt – May thành phố Đà Nẵng xác định giá bán cho các sản phẩm ở thị trường trong nước tại công ty theo giá thành sản phẩm tức là :

Giá cả sản phẩm = giá thành sản phẩm + mức phụ giá (%) x giá thành sản phẩm

Căn cứ vào giá thành sản xuất sản phẩm để xác định giá bán cho các sản phẩm ở thị trường trong nước , phương pháp này giúp cho việc tính toán đơn giản và các công ty có thể định giá thấp nhất là bằng giá thành sản phẩm để làm yếu tố cạnh tranh

Đối với các doanh nghiệp Dệt – May thành phốĐà Nẵng thuộc khu vực kinh tế quốc doanh áp dụng cho các đại lý theo giá gốc cùng với chi phí vận chuyển đếntừng khu vực Còn lại các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thì áp dụng giá bán tại các đại lý không có quy định chặt chẽ, chủ yếu dựa trên giá gốc tại công ty và được định đoạt linh hoạt tuỳ thộc vào kinh nghiệm và tài chào hàng của người bán , thái độ của người mua , giá một mã hàng có thể chênh lệch nhau tới vài chục thậm chí vài trăm phần trăm giữa các khách hàng khác nhau

Nhìn chung , các doanh nghiệp Dệt – May thành phố Đà Nẵng có phương pháp định giá cho sản phẩm tiêu thụ trong nước là rất đơn giản , dễ tính nhưng thiếu sự linh hoạt thay đổi trong phương pháp tính giá nên chỉ biết nhiều về chi phí hơn là về nhu cầu thị trường , giá bán tại nhiều đại lý được thả nổi , giá cả

ít liên quan gì đến chất lượng Do đó không phát huy được khả năng vượt trội

là sự hiểu biết khách hàng tại thị trường Đà Nẵng và trong cả nước

Về các dịch vụ hậu mãi , thời gian qua các doanh nghiệp Dệt – May Đà Nẵng phần lớn áp dụng các biện pháp điều chỉnh giá sau :

+ Chiết khấu giảm giá theo khối lượng : Chính sách này được thể hiện

khi khách hàng mua với khối lượng lớn thì sẽ được giảm giá

+ Chiết khấu giảm giá trong thanh toán : Nghĩa là khách hàng thanh toán

sớm cho công ty thì sẽ được giảm giá

Tuy nhiên biện pháp điều chỉnh giá theo hình thức trên vẫn chưa khuyến khích được khách hàng trong việc thanh toán và đểy mạnh tiêu thụ Do vậy các doanh nghiệp cần xây dựng chính sách giá sao cho phù hợp để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm ở thị trường trong nước

Trang 22

3 Chính sách phân phối

Theo quan điểm kinh doanh hiện đại , kênh phân phối là một trong những công cụ cạnh tranh phi giá cả đầy sức mạnh giúp cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững trên thương trường

Các doanh nghiệp Dệt – May Đà Nẵng phân phối sản phẩm của mình ở trong nước chủ yếu theo hệ thống phân phối sau :

Sơ đồ kênh phân phối sản phẩm Dệt - May Đà Nẵng tại thị trường trong nước

Hệ thống kênh tiêu thụ trong nước có cơ cấu như sau :

+ Kênh không cấp ( người sản xuất đến người tiêu dùng ) : chiếm 12 –

d ùng

Đại lý

Siêu thị

Người bán lẻNgười bán buôn

Người bán lẻ

Trang 23

Đối với kênh cấp I thì lượng hàng hoá tiêu thụ hàng năm trong nước chiếm từ 30 – 32 % , chủ yếu là các loại vải , khăn bông Hình thức phân phối này chủ yếu được thông qua người bán lẻ trước khi đến người tiêu dùng còn các sản phẩm của ngành được giới thiệu và bán thông các qua đại lý tiêu thụ rất ít do giá cả chưa hấp dẫn , các doanh nghiệp có sản phẩm nào thì giới thiệu sản phẩm đó nên rất nghèo nàn và đơn điệu Sử dụng hình thức này các doanh nghiệp gặp thuận lợi là có thể giới thiệu được các sản phẩm mới của mình đến các đại lý , siêu thị , người mua với khối lượng tương đối lớn , cung cấp thông tin phản hồi nhanh Tuy nhiên khách hàng là những người không sẵn sàng về phương tiện vận chuyển , không ổn định về số lần mua.

Đối với kênh không cấp thì lượng tiêu thụ qua kênh này chủ yếu là các loại sợi , vải từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác hay từ bộ phận dệt sang bộ phận may trong cùng một doanh nghiệp nên sử dụng hình thức này các doanh nghiệp có được sự thuận lợi về giảm chi phí lưa thông , thông tin phản hòi nhanh , các sản phẩm ít bị hư hỏng hao hụt , đảm bảo về chất lượng Bên cạnh đó cũng phát sinh các chi phí như trả lương cho công nhân viên , thêu mặt bằng , các doanh nghiệp phải có tài chính mạnh mới phát huy được tính ưu việt của hình thức này

Nhìn chung hệ thống kênh phân phối hiện nay của các doanh nghiệp Dệt– May Đà Nẵng sử dụng nhiều hệ thống khác nhau nhưng vẫn nặng về hình thức phân phối cho các nhà bán buôn và bán lẻ nên khó kiểm soát được giá bán, bên cạnh đó các doanh nghiệp chưa đủ khả năng tài chính để hổ trợ cho các đại lý và giới thiệu hàng của mình ở siêu thị , công tác nguyên cứu kênh phân phối cho từng thị trường trong nước chưa được chú ý

4 Chính sách quảng bá sản phẩm

Đối với các doanh nghiệp Dệt – May thành phố Đà Nẵng thời gian qua những chương trình quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng như ra các số báo , đài truyền hình , thời gian tài trợ cho các hoạt động văn hoá xã hội , thời gian hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao đã có những biện pháp để khuyến khích các thành viên trong kênh hoạt động tích cực trong việc tiêu thụ sản phẩm để tuyên truyền về sản phẩm của mình Tuy nhiên do những khó khăn về tài chính mà các hoạt động này diễn ra không thường xuyên

IV > Đánh giá những thành công và hạn chế trong việc phát triển thị trường nội địa

1 Những thành công

Trong những năm qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm Dệt – May Đà Nẵng

ở thị trường trong nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng sau :

Giá trị tiêu thụ sản phẩm qua các năm đều tăng , thị trường tiêu thụ được

mở rộng đến các tỉnh phía Nam , các sản phẩm của ngành dệt như sợi , vải tiêu thụ trong nước 100% , sản phẩm may sẵn khoảng 15 – 20% , khăn bông khoảng

50 % , phục vụ chủ yếu cho khu vực miền Trung – Tây Nguyên và một số địa

Ngày đăng: 07/08/2014, 09:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  : Sản phẩm sản xuất và tiêu thụ chủ yếu - thị truờng nội địa dệt may doc
ng : Sản phẩm sản xuất và tiêu thụ chủ yếu (Trang 15)
Sơ đồ kênh phân phối sản phẩm Dệt - May Đà Nẵng tại thị trường trong   nước - thị truờng nội địa dệt may doc
Sơ đồ k ênh phân phối sản phẩm Dệt - May Đà Nẵng tại thị trường trong nước (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w