1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long

63 869 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Địa Chất Bồn Trũng Cửu Long
Tác giả Nguyễn Khoa Vinh
Người hướng dẫn ThS. Bùi Thị Luận
Trường học Đại học Khoa học Tự nhiên
Chuyên ngành Địa chất
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 13,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bể trầm tích Cửu Long nằm chủ yếu trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam, và một phần đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu Long.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời gian gần đây ngành dầu khí đã có những đóng góp rất lớn cho nền kinh tế nước nhà, tìm năng dầu khí của nước ta được tập trung nhiều nhất là trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam, trong đó bồn trũng Cữu Long là bể trầm tích được xếp vào loại có tiềm năng dầu khí lớn nhất.

Bên cạnh các công tác nghiên cứu cấu trúc đặc điểm địa chất, khảo sát vật lý, thăm dò địa chấn v.v… thì việc nghiên cứu địa hóa đá mẹ giúp cho công tác thăm dò có hiệu quả hơn và giảm thiểu rủi ro Đồng thời cho phép nghiên cứu điều kiện tích lũy, độ trưởng thành của vật chất hữu cơ sinh ra dầu khí, cũng như hướng di cư của dầu khí.

Có nhiều phương pháp đánh giá độ trưởng thành của đá mẹ, trong giới hạn của khóa luận này, tác giả sử dụng phương pháp Lopatin để đánh giá độ trưởng thành vật chất hữu cơ của đá mẹ bồn trũng Cữu Long lô 16.2.

Do thời gian thực hiện hạn chế, nguồn tài liệu thu thập chưa đầy đủ cùng với sự hiểu biết hạn chế của tác giả nên khóa luận sẽ không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự đóng góp của Thầy cô và bạn bè.

Em xin chân thành cảm ơn cô Bùi Thị Luận và các thầy cô trong khoa Địa Chất trường ĐH KHTN đã nhiệt tình hướng dẫn và chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.

Xin cảm ơn rất nhiều.

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC HÌNH ẢNH – BIỂU BẢNG 3

PHẦN CHUNG CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỒN TRŨNG CỬU LONG 6

1.1 Vị trí địa lý 6

1.2 Lịch sử nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí 7

1.3 Đặc điểm địa tầng 12

1.4 Đặc điểm cấu kiến tạo bồn trũng Cửu Long 19

1.5 Lịch sử phát triển địa chất bồn trũng Cửu Long 23

PHẦN CHUYÊN ĐỀ CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA HÓA TRONG NGHIÊN CỨU ĐÁ MẸ 29

2.1 Phương pháp nghiên cứu 29

2.2 Đá mẹ 30

2.3 Nhóm các phương pháp địa hóa đánh giá đá mẹ 35

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỊA HÓA TÀI LIỆU GIẾNG KHOAN THUỘC BỒN TRŨNG CỬU LONG 42

3.1 Giếng khoan Tam Đảo 47

3.2 Giếng khoan Bà Đen 51

3.3 Điểm M 55

3.4 Liên kết các sơ đồ lịch sử chôn vùi VCHC thuộc lô 16.2 59

KẾT LUẬN 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 3

DANH MỤC HÌNH ẢNH – BIỂU BẢNG

1.1 Vị trí bể Cửu Long (Trần Lê Đông, Phùng Đắc Hải – 2007) 61.2 Sơ đồ phân bố vị trí các giếng khoan thuộc bồn trũng Cửu

Long

11

2.1 Sơ đồ phân loại nguồn gốc vật liệu hữu cơ dựa trên tương

quan tỷ lệ hàm lượng nguyên tố H/C và O/C

34

3.1 Sơ đồ vị trí mặt cắt theo đường BB’ vùng nghiên cứu 45

3.3 Lịch sử chôn vùi VLHC giếng khoan Tam Đảo – bồn trũng

3.6 Mặt cắt địa hóa các đới trưởng thành của VLHC các giếng

khoan Bà Đen, Tam Đảo và điểm M thuộc mặt cắt BB’ dọc

bể Cửu Long

60

Trang 4

Bảng Nội dung Trang

2.1 Đánh giá độ trưởng thành của đá mẹ dựa vào độ phản xạ

Vitrinite

36

2.2 Đánh giá độ trưởng thành của đá mẹ dựa vào Tmax 38

2.4 Đánh giá mức độ trưởng thành VLHC dựa vào TTI 403.1 Bảng thống kê các giá trị nhiệt độ theo độ sâu ở bể Cửu

Long (Trần Công Tào, 1996)

42

3.2 Bảng tuổi địa chất Quốc Tế từ Eocene trên đến Đệ Tứ 433.3 Tốc độ tích lũy trầm tích (Bùi Thị Luận, 2007) 43

3.5 Phân bố mái các tập trầm tích giếng khoan Tam Đảo, lô 16.2 473.6 Bảng giá trị Ro và Tmax của tầng Oligocene trên và dưới,

giếng khoan Tam Đảo

3.12 Bảng giá trị TTI của điểm M – bồn trũng Cửu Long 57

Trang 5

PHAÀN CHUNG

Trang 6

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỒN

TRŨNG CỬU LONG

1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:

Bể trầm tích Cửu Long nằm chủ yếu trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam, và một phần đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu Long Bể có hình bầu dục, vồng ra về phía biển và nằm dọc theo bờ biển Vũng Tàu – Bình Thuận Bể Cửu Long tiếp giáp với đất liền về phía Tây Bắc, ngăn cách với bể Nam Côn Sơn bởi đới nâng Côn Sơn, phía Tây Nam là đới nâng Khorat – Natuna và phía Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bể Phú Khánh, có tọa độ địa lý khoảng 9o00’ -11o00’ vĩ Bắc và 106o30’-109o00’ kinh Đông, với diện tích khoảng 36.000 km2 Bể Cửu Long được lấp đầy chủ yếu bởi các trầm tích lục nguyên tuổi Oligocene – Miocene và lớp phủ thềm Pliocene – Đệ Tứ Chiều dày lớn nhất của chúng tại trung tâm bể có thể đạt tới 7-8km (Hình 1.1)

Hình 1.1: Vị trí bể Cửu Long (Trần Lê Đông, Phùng Đắc Hải - 2007)

Trang 7

1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU, TÌM KIẾM, THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ:

Lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí bể Cửu Long gắn liền với lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí của thềm lục địa Việt Nam Căn cứ vào quy mô, mốc lịch sử và kết quả thăm dò, lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí của bể Cửu Long được chia ra thành 4 giai đoạn:

1.2.1 Giai đoạn trước năm 1975:

Đây là thời kỳ khảo sát địa vật lý khu vực như từ, trọng lực và địa chấn để phân chia các lô, chuẩn bị cho công tác đấu thầu, ký hợp đồng trong dầu khí

Năm 1967 US Navy Oceanographic Office đã tiến hành khảo sát từ hàng không gần khắp lãnh thổ Miền Nam

Năm 1967-1968 hai tàu Ruth và Maria của Alpine Geophysical Corporation đã tiến hành đo 19.500 km tuyến địa chấn ở phía Nam Biển Đông trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long

Năm 1969 Công ty Ray Geophysical Mandrel đã tiến hành đo địa vật lý biển bằng tàu N.V.Robray I ở vùng biển thềm lục địa Miền Nam và vùng phía Nam của biển Đông với tổng số 3.482 km tuyến trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long

Trong năm 1969 USNavy Oceanigraphic cũng đã tiến hành đo song song

20 km tuyến địa chấn bằng hai tàu T/V E.V hunt ở vịnh Thái Lan và phía Nam Biển Đông trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long

Đầu năm 1970, công ty Ray Geophysical Mandrel lại tiến hành đo đợt 2 ở Nam Biển Đông và dọc bờ biển 8.639 km, đảm bảo mạng lưới cỡ 30x50 km, kết hợp giữa các phương pháp từ, trọng lực và hàng không trong đó có tuyến cắt qua

Trang 8

Năm 1973 – 1974 đã đấu thầu trên 11 lô, trong đó có 3 lô thuộc về bể Cửu Long là 09, 15 và 16.

Năm 1974, công ty Mobil trúng thầu trên lô 09 đã tiến hành khảo sát địa vật lý, chủ yếu là địa chấn phản xạ, có từ và trọng lực với khối lượng là 3.000

km tuyến Vào cuối năm 1974 và đầu năm 1975, công ty Mobil đã khoan giếng khoan tìm kiếm dầu đầu tiên trong bể Cửu Long, BH-1X ở phần đỉnh của cấu tạo Bạch Hổ Kết quả thử vỉa đối tượng cát kết Miocene dưới ở chiều sâu 1.755 – 2.819 m đã cho dòng dầu công nghiệp, lưu lượng dầu đạt 342 m3/ngày Kết quả này đã khẳng định triển vọng và tiềm năng dầu khí của bể Cửu Long

1.2.2 Giai đoạn 1975 – 1979.

Năm 1976, công ty địa lý CGG của Pháp khảo sát 1.210,9 km theo các con sông của đồng bằng Sông Cửu Long và vùng ven biển Vũng Tàu-Côn Sơn Kết quả của công tác khảo sát địa chấn đã xây dựng được các tầng phản xạ chính: từ CL20 đến CL80 và khẳng định sự tồn tại của bể Cửu Long với một mặt cắt trầm tích Đệ Tam dày

Năm 1987, công ty Geco (Nauy) thu nổ địa chấn 2D trên lô 10, 09, 16, 19,

20, 21 với tổng số 11.898,5 km và làm chi tiết trên cấu tạo Bạch Hổ với mạng lưới tuyến 2x2 và 1x1 km Riêng đối với lô 15, công ty Deminex đã hợp đồng với Geco khảo sát 3221,7 km tuyến địa chấn với mạng lưới là 3,5x3,5km trên lô

15 và cấu tạo Cửu Long (nay là Rạng Đông) Căn cứ vào kết quả minh giải tài liệu địa chấn này Deminex đã khoan 4 giếng khoan tìm kiếm trên các cấu tạo triển vọng nhất Trà Tân (15-A-1X), Sông Ba (15-B-1X), Cửu Long (15-C-1X), Đồng Nai (15-G-1X) Kết quả khoan các giếng khoan này đều gặp biểu hiện dầu khí trong cát kết tuổi Miocene sớm và Oligocene, nhưng dòng không có ý nghĩa công nghiệp

Trang 9

1.2.3 Giai đoạn 1980 – 1988:

Công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam trong giai đoạn này được triển khai rộng khắp, nhưng tập trung chủ yếu vào một đơn vị đó là Xí nghiệp liên doanh VietsovPetro Năm 1980, tàu nghiên cứu POISK đã tiến hành khảo sát 4.057 km tuyến địa chấn điểm sâu chung, từ và 3.250 km tuyến trọng lực Kết quả của đợt khảo sát này đã phân chia ra được tập địa chấn

B (CL4-1, CL4-2), C (CL5-1), D(CL5-2), E(CL5-3) và F(CL6-2), đã xây dựng được một số sơ đồ cấu tạo dị thường từ và trọng lực Bouguer

Năm 1981 tàu nghiên cứu Iskatel đã tiến hành khảo sát địa vật lý với mạng lưới 2x2,2 – 3x2-3 km địa chấn MOB-OTT-48, trọng lực, từ ỏ phạm vi lô

09, 15, 16 với tổng số 2.248 km

Năm 1983-1984 tàu viện sĩ Gamburxev đã tiến hành khảo sát 4.000 km tuyến địa chấn để nghiên cứu thành phần sâu nhất của bể Cửu Long

Trong thời gian này XNLD VietsovPetro đã khoan 4 giếng trên các cấu tạo Bạch Hổ và Rồng: R-1X, BH-3X, BH-4X, BH-5X và TĐ-1X tên cấu tạo Tam Đảo Trừ TĐ-1X tất cả 4 giếng còn lại đều phát hiện vỉa dầu công nghiệp từ các vỉa cát kết Miocene dưới và Oligocene (BH-4X)

Giai đoạn 1980-1988 được đánh dấu bằng việc VietsovPetro đã khai thác những tấn dầu từ 2 đối tượng khai thác Miocene, Oligocene dưới của mỏ Bạch Hổ vào năm 1986 và phát hiện dầu trong đá móng granite nứt nẻ vào tháng 9 năm 1988

1.2.4 Giai đoạn 1989 đến nay:

Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí bể Cửu Long Với sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài và luật

Trang 10

cuối năm 2003 đã có 9 hợp đồng tìm kiếm thăm dò được ký kết trên các lô: 09-1, 09-2, 09-3, 01&02, 01&02/96, 12-1, 15-2, 16-1, 16-2 và 17.

Triển khai các hợp đồng đã ký và công tác khảo sát địa vật lý thăm dò, các công ty dầu khí đã ký hợp đồng với các công ty dịch vụ khảo sát địa chấn có nhiều kinh nghiệm trên thế giới như: CGG, Geco-Prakla, Western Geophysical Company, PGS, v.v Hầu hết các lô trong bể đã được khảo sát địa chấn tỉ mỉ không chỉ phục vụ cho công tác thăm dò mà cả cho công tác chính xác mô hình vỉa chứa Khối lượng khảo sát địa chấn trong giai đoạn này, 2D là 2.408 km và 3D là 7.304,6 km2 Khảo sát địa chấn 3D được tiến hành trên hầu hết các diện tích có triển vọng và trên tất cả các vùng mỏ đã phát hiện

Trong lĩnh vực xử lý tài liệu địa chấn 3D có những tiến bộ rõ rệt khi áp dụng quy trình xử lý dịch chuyển thời gian và độ sâu trước cộng (PSTM, PSDM)

Cho đến hết năm 2003, tổng số giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và khai thác đã khoan ở bể Cửu Long khoảng 300 giếng, trong đó riêng VietsovPetro chiếm trên 70%

Bằng kết quả khoan, nhiều phát hiện dầu khí đã được xác định: Rạng Đông (lô 15.2), Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng (lô 15.1), Topaz North, Diamond, Pearl, Emerald (lô 01), Cá Ngừ Vàng ( lô 09.2), Voi Trắng (lô 16.1),

Đông Rồng, Đông Nam Rồng (lô 09-1) (hình 1.2) Trong số phát hiện này có cả

năm mỏ dầu: Bạch Hổ, Rồng (bao gồm cả Đông Rồng và Đông Nam Rồng), Rạng Đông, Sư Tử Đen, Hồng Ngọc hiện đang được khai thác, với tổng sản lượng khoảng 45.000 tấn/ngày Tổng lượng dầu đã thu hồi từ năm mỏ kể từ khi đưa vào khai thác cho đến năm 2005 là khoảng 170 triệu tấn

Trang 12

1.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG:

Theo tài liệu khoan, địa tầng được mở ra của bể Cửu Long gồm đá móng cổ trước Kainozoic và trầm tích lớp phủ Kainozoic Đặc trưng thạch học – trầm tích, hóa thạch của mỗi phân vị địa tầng được thể hiện tóm tắt trên cột địa tầng tổng hợp của bể (hình 1.3) Để thuận tiện cho công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí các phân vị địa tầng được đối sánh với các tập địa chấn Các mặt phản xạ địa chấn đều trùng với các ranh giới của các phân vị địa tầng

1.3.1 MÓNG TRƯỚC KAINOZOIC:

Ở bể Cửu Long cho đến nay đã khoan hàng trăm giếng sâu vào móng trước Kainozoic tại nhiều vị trí khác nhau trên toàn bể Về mặt thạch học, đá

móng có thể xếp thành 2 nhóm chính: granite và granodiorite – diorite, ngoài

ra còn gặp đá biến chất và các thành tạo núi lửa.

So sánh kết quả nghiên cứu các phức hệ magma xâm nhập trên đất liền với đá móng kết tinh ngoài khơi bể Cửu Long, theo đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt

đối có thể xếp tương đương với 3 phức hệ: Hòn Khoai, Định Quán và Cà Ná.

Phức hệ Hòn Khoai có thể xem là phức hệ đá magma cổ nhất trong móng của bể Cửu Long, phức hệ có tuổi Triassic muộn, tương ứng khoảng 195 đến 250 tr.năm Theo tài liệu Địa chất Việt Nam tập II, các thành tạo magma thì granitoid Hòn Khoai được ghép chung với các thành tạo magma xâm nhập phức hệ Ankroet-Định Quán gồm chủ yếu là đá Amphybol-Biotite-Diorite, monzonite và adamelite Đá bị biến đổi, cà nát mạnh Phần lớn các khe nứt đã bị lấp đầy bởi các khoáng vật thứ sinh: calcite-epidote-zeolite Đá có thể phân bố chủ yếu

ở phần cánh của các khối nâng móng, như cánh phía Đông Bắc mỏ Bạch Hổ

Phức hệ Định Quán gặp khá phổ biến ở nhiều cấu tạo Bạch Hổ (vòm Bắc), Ba Vì, Tam Đảo và Sói Ở các mỏ Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử Đen và

Trang 13

Sư Tử Vàng (ở phía Bắc bể), chủ yếu là đá granodiorite, đôi chỗ gặp biotite-thạch anh đa sắc Đá thuộc loại kiềm vôi, có thành phần axit vừa phải SiO2 dao động 63÷67% Các thành tạo của phức hệ xâm nhập này có mức độ dập vỡ và biến đổi cao Hầu hết các khe nứt đều được lấp đầy bởi các khoáng vật thứ sinh: calcite, zeolite, thạch anh và clorite Trong đới biến đổi mạnh biotite thường bị clorite hóa Phức hệ Định Quán có tuổi Jurassic, tuổi tuyệt đối dao động từ 130 đến 155 tr.năm.

monzonite-Phức hệ Cà Ná là phức hệ magma phát triển và gặp phổ biến nhất trên toàn bể Cửu Long Phức hệ có thành phần thạch học đặc trưng là granite hai mica và granite biotite Đá có tuổi tuyệt đối khoảng 90 đến 100 tr.năm, thuộc Jurasic muộn Các khối granitoid phức hệ magma xâm nhập này thành tạo đồng tạo núi và phân bố dọc theo hướng trục của bể Đá bị dập vỡ, nhưng mức độ biến đổi thứ sinh yếu hơn so với 2 phức hệ vừa nêu

Trong mặt cắt đá magma xâm nhập đã biết thường gặp các đai mạch có thành phần thạch học khác nhau từ axit đến trung tính – bazơ, bazơ và thạch anh Tại một số nơi, như ở khu vực mỏ Rồng còn gặp các đá biến chất nhiệt động kiểu paragneis hoặc orthogneis Các đá này thường có mức độ biến đổi kém hơn

so với đá xâm nhập

Trang 14

1) Paleogene:

Eocene:

Hệ tầng này được phát hiện tại giếng khoan Cửu Long-1X trên đất liền, nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ ở những phần chìm sâu của bề, nơi mà chúng có thể tồn tại Hệ tầng đặc trưng bởi trầm tích vụn thô: cuội sạn kết, cát kết và sét kết hydromica-clorite-sericite Trầm tích có màu nâu đỏ, đỏ tím, tím lục sặc sỡ với độ chọn lọc rất kém, đặc trưng kiểu molas lũ tích lục địa thuộc các trũng trước núi Cretaceous-Paleocene-Eocene Các bào tử phấn phát hiện được trong mặt cắt này như: Klukisporires, Triporopollenites, Trudopollis, Plcapolis, Jussiena, v.v., thuộc nhóm thực vật khô cạn thường phổ biến trong Eocene Mặt cắt của hệ tầng được xếp tương ứng với tập CL7 của tài liệu địa chấn Chiều dày hệ tầng có thể đạt tới 600m

Oligocene dưới:

Là hệ tầng đã được xác lập ở giếng khoan Cửu Long – 1X

Trầm tích gồm chủ yếu là sét kết, bột kết và cát kết, có chứa các vỉa than mỏng và sét vôi, được tích tụ trong điều kiện sông hồ Đôi khi gặp các đá núi lửa, thành phần chủ yếu là porphyr diapaz, tuff basalt, và gabro-diapaz Chiều dày của hệ tầng tại phần trũng trung tâm, phần sườn các khối nâng Trung Tâm như Bạch Hổ, Rồng và Sư Tử Trắng có thể đạt tới 500m

Theo đặc trưng tướng đá hệ tầng được chia thành 2 phần: trên và dưới Phần trên chủ yếu là các thành tạo hạt mịn còn phần dưới là các thành tạo hạt thô Giữa 2 phần là ranh giới chỉnh hợp

Trang 15

Hệ tầng Trà Cú có tiềm năng chứa và sinh dầu khí khá cao Các vỉa cát kết của hệ tầng là các vỉa chứa dầu khí chủ yếu trên mỏ Đông Nam Rồng, Sư Tử Trắng và là đối tượng khai thác thứ hai sau móng nứt nẻ trên mỏ Bạch Hổ.

Chiều dày của hệ tầng dao động từ 0 - 800m

Oligocene trên:

Đá của hệ tầng Trà Tân đôi chỗ nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Trà Cú Mặt cắt hệ tầng có thể chia thành phần ba phần khác biệt nhau về thạch học Phần trên gồm chủ yếu là sét kết màu nâu – nâu đậm, nâu đen, rất ít sét màu đỏ, cát kết và bột kết, tỷ lệ cát/sét khoảng 35÷50% Phần giữa gồm chủ yếu là sét kết nâu đậm, nâu đen, cát kết và bột kết, tỷ lệ cát/sét khoảng 40÷60% (phổ biến khoảng 50%, đôi nơi có xen các lớp đá vôi mỏng, than Phần dưới chủ yếu là cát kết hạt mịn đến thô, đôi chỗ sạn, cuội kết, xen sét kết màu nâu đậm, nâu đen, bột kết, tỷ lệ cát/sét khoảng 20÷50% Các trầm tích của hệ tầng này được tích tụ chủ yếu trong môi trường đồng bằng sông, aluvi-đồng bằng ven bờ và hồ Các thành tạo núi lửa cũng được tìm thấy ở nhiều giếng khoan của bể

Sét kết của hệ tầng Trà Tân có hàm lượng và chất lượng VCHC cao đến rất cao đặc biệt là tầng Trà Tân giữa, chúng là những tầng sinh dầu khí tốt ở bể Cửu Long đồng thời là tầng chắn tốt cho tầng đá móng granite nứt nẻ Tuy tầng cát kết nằm xen kẹp có chất lượng thấm, rỗng và độ liên tục thay đổi từ kém đến tốt, nhưng cũng là đối tượng tìm kiếm đáng lưu ý ở bể Cửu Long

Trang 16

2) Neogene

Miocene dưới

Được xác lập ở giếng khoan BH-1X Có thể chia làm 2 phần: phần trên chủ yếu là sét kết màu xám, xám xanh đen xen kẽ với cát kết và bột kết, tỷ lệ cát, bột kết tăng dần xuống dưới (đến 50%) Tầng trên cùng của mặt cắt là tầng

“sét kết Rotalid” bao phủ toàn bể, chiều dày thay đổi từ 50÷150m Phần dưới gồm chủ yếu là cát kết, bột kết (trên 60%) Xen kẽ với các lớp sét kết màu xám, vàng, đỏ Các trầm tích của hệ tầng được tích tụ trong môi trường đồng bằng aluvia – đồng bằng ven bờ ở phần dưới, chuyển dần lên đồng bằng ven bờ - biển nông ở phần trên Đá núi lửa đã được phát hiện thấy ở nhiều giếng khoan thuộc lô 01 ở phía Bắc bể, chủ yếu là basalt và tuff basalt

Tầng sét kết chứa Rotalia là tầng đá chắn khu vực tuyệt vời cho toàn bể Các vỉa cát xen kẻ nằm trong và ngay dưới tầng sét kết Rotalia và ở phần trên của phía dưới mặt cắt có khả năng thấm chứa khá tốt, chúng là đối tượng tìm kiếm quan trọng thứ 3 ở bể Cửu Long Dầu hiện cũng đang được khai thác từ các tầng cát này như ở mỏ Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bạch Hổ và sắp tới là Sư Tử Đen

Miocene giữa

Được xác lập ở giếng khoan 15B-1X Hệ tầng gồm chủ yếu cát kết hạt thô-trung, bột kết (chiếm đến 75÷80%), xen kẽ với các lớp sét kết màu xám, nhiều màu dày 5÷15m, đôi nơi có lớp than mỏng Bề dày hệ tầng thay đổi từ 250÷900m Trầm tích của hệ tầng được thành tạo trong môi trường sông (aluvi)

ở phía Tây, đầm lầy-đồng bằng ven bờ ở phía Đông, Đông Bắc Hệ tầng này và các hệ tầng trẻ hơn của bể xem như không có triển vọng chứa dầu khí

Trang 17

Miocene trên

Được xác lập ở giếng khoan 15G-1X

Tuổi của hệ tầng được xác định theo tập hợp phong phú các bào tử và Nanoplankton, nghèo hóa đá foraminifera

Chủ yếu là cát kết hạt trung xen kẽ với bột và các lớp mỏng sét màu xám hay nhiều màu, đôi khi gặp các vỉa carbonate mỏng hoặc than mỏng,môi trường trầm tích đầm lầy, đồng bằng ven bờ ở phần Tây bể, đồng bằng ven bờ-biển nông ở phần Đông Bắc bể Bề dày của hệ tầng thay đổi trong khoảng 500÷750m các trầm tích của hệ tầng nằm gần như ngang, nghiêng thoải về Đông và không bị biến vị

Pliocene-Đệ Tứ

Hệ tầng Biển Đông chủ yếu là cát hạt trung-mịn với ít lớp mỏng bùn, sét màu xám nhạt chứa phong phú hóa đá biển và glauconite thuộc môi trường trầm tích biển nông, ven bờ, một số nơi có gặp đá carbonate Chúng phân bố và trải đều khắp toàn bể, với chiều dày khá ổn định trong khoảng 400÷700m Trầm tích của hệ tầng gần như nằm ngang, nghiêng thoải về Đông và không bị biến vị

Các hóa đá của foraminifera gặp khá phổ biến: Pseudorotalia, Globorotalia, Dạng rêu (Bryozoar), Mollusca, san hô, rong tảo và bào tử phấn: Dacrydium, Polocarpus imbricatus…

Trang 18

Hình 1.3 CỘT ĐỊA TẦNG TỔNG HỢP BỂ CỬU LONG

Pinus, Rhizophora, Dacrydium, Phyllocladus

Cát kết mịn, trung thô, rất thô, màu trắng, hồng đục, hơi xám.

Bột kết màu xám đến xám xanh lá, cùng với các sản phẩm núi lửa (hay còn gọi là sét tạp)

xen các lớp mỏng sét màu xám, xám sáng, xám phớt nâu, sét vôi (magnơ), sét vôi và các lớp mỏng than, chứa nhiều hóa đá biển.

Sét tạp có xen kẻ các lớp mỏng bazalt, bột kết và một ít than

Sét kết giàu vật chất hữu cơ.

Chủ yếu sét kết dày màu tro xám rất giàu vật chất hữu cơ, xen kẹp bột kết, cát kết và các thấu kính than mỏng.

Cát kết arkos, lithic arkos, lẫn bột kết, độ hạt mịn, trung bình, xen kẹp sét kết màu nâu đậm,màu đen và tro xám giàu vật chất hữu cơ.

Ở đáy có hai lớp đá phun trào mang tính địa phương.

Granit, biotit, hai mica, đôi nơi có sienit, granodiorit, granodiorit thạch anh, monzonit,

diorit, diorit thạch anh, các đá biến chất, sét phiến xanh và amphboilit các đá magma xuyên cắt dạng đai mạch chủ yếu là

andezit, gabro diabaz.

Florschuetzia trilobata

Crassoretitrilites Verruticolporites pachydermus.

Magnastriatites howardi, Crassoretitrilites nanhaiensis, vanraadshooveni,

Trang 19

1.4 ĐẶC ĐIỂM CẤU KIẾN TẠO BỒN TRŨNG CỬU LONG

Việc phân chia các đơn vị cấu tạo được dựa trên đặc điểm cấu trúc địa chất của từng khu vực với sự khác biệt về chiều dày trầm tích và thường được giới hạn bởi những đứt gãy hoặc hệ thống đứt gãy có biên độ đáng kể Nếu coi bể Cửu Long là đơn vị cấu trúc bậc 1 thì cấu trúc bậc 2 của bể bao gồm các đơn

vị cấu trúc sau: Trũng phân dị Bạc Liêu; trũng phân dị Cà Cối; đới nâng Cửu

Long; đới nâng Phú Quý (phần lún chìm kéo dài khối nâng Côn Sơn) và trũng chính bể Cửu Long

Trũng phân dị Bạc Liêu là một trũng nhỏ nằm ở phần cuối Tây Nam của

bể Cửu Long với diện tích khoảng 2.600 km2 Gần một nửa diện tích của trũng thuộc lô 31, phần còn lại thuộc phần nước nông và đất liền Trũng có chiều dày trầm tích Đệ Tam không lớn khoảng 3km và bị chia cắt bởi các đứt gãy thuận có phương TB-ĐN Trong trũng có khả năng bắt gặp trầm tích như trong trũng phân

dị Cà Cối

Trũng phân dị Cà Cối nằm chủ yếu ở khu vực cửa Sông Hậu có diện tích

rất nhỏ và chiều dày trầm tích không lớn, trên dưới 2.000m Tại đây đã khoan giếng khoan CL-1X và mở ra hệ tầng Cà Cối Trũng bị phân cắt bởi các đứt gãy kiến tạo có phương ĐB-TN, gần như vuông góc với phương của đứt gãy trong trũng phân dị Bạc Liêu

Đới nâng Cửu Long nằm về phía Đông của trũng phân dị Bạc Liêu và Cà

Cối, phân tách hai trũng này với trũng chính của bể Cửu Long Đới nâng có chiều dày trầm tích không đáng kể, chủ yếu là trầm tích hệ tầng Đồng Nai và Biển Đông Đới nâng không có tiền đề, dấu hiệu dầu khí vì vậy đã không được nghiên cứu chi tiết và không xác định sự phát triển các đứt gãy kiến tạo

Trang 20

Các đơn vị cấu trúc vừa nêu được xem là rất ít hoặc không có triển vọng dầu khí, vì vậy chúng ít khi được đề cập đến trong các công trình không được xem như một đơn vị cấu thành của bể Cửu Long.

Đới nâng Phú Quý được xem như phần kéo dài của đới nâng Côn Sơn về

phía Đông Bắc, thuộc lô 01 và 02 Đây là đới nâng cổ, có vai trò khép kín và phân tách bể Cửu Long với phần phía Bắc của bể Nam Côn Sơn Tuy nhiên, vào giai đoạn Neogene – Đệ Tứ thì diện tích này lại thuộc phần mở của bể Cửu Long Chiều dày trầm tích thuộc khu vực đới nâng này dao động từ 1,5 đến 2km Cấu trúc của đới bị ảnh hưởng khá mạnh bởi các hoạt động núi lửa, kể các núi lửa trẻ

Trũng chính Cửu Long Đây là phần lún chìm chính của bể, chiếm tới ¾

diện tích bể, gồm các lô 01, 02, 09, 17 Theo đường đẳng dày 2 km thì trũng chính bể Cửu Long thể hiện rõ nét là một bể khép kín có dạng trăng khuyết với vòng cung hướng ra về phía Đông Nam Toàn bộ triển vọng dầu khí đều tập trung ở trũng này Vì vậy, cấu trúc của trũng được nghiên cứu khá chi tiết và được phân chia ra thành các đơn vị cấu trúc nhỏ hơn như một bể độc lập thực thụ Các đơn vị cấu tạo bậc 3 gồm: trũng Đông Bắc; trũng Tây Bạch Hổ; trũng Đông Bạch Hổ; sườn nghiêng Tây Bắc; sườn nghiêng Đông Nam; đới nâng Trung Tâm; đới nâng phía Bắc; đới nâng phía Đông; đới phân dị Đông Bắc; đới phân dị Tây Nam

Sườn nghiêng Tây Bắc là dải sườn bờ Tây Bắc của bể kéo dài theo hướng

TB-ĐN, chiều dày trầm tích tăng dần về phía Tây Nam từ 1 đến 2,5 km Sườn nghiêng bị cắt xẻ bởi các đứt gãy kiến tạo có hướng ĐB-TN hoặc TB-ĐN, tạo thành các mũi nhô Trầm tích Đệ Tam của bể thường có xu hướng vát nhọn và gá đáy lên móng cổ granitoid trước Kainozoi

Trang 21

Sườn nghiêng Đông Nam là dải sườn bờ Đông Nam của bể, tiếp giáp với

đới nâng Côn Sơn Trầm tích của đới này có xu hướng vát nhọn và gá đáy với chiều dày trầm tích dao động từ 1 đến 2,5 km Sườn nghiêng này cũng bị phức tạp bởi các đứt gãy kiến tạo có phương ĐB-TN và á vĩ tuyến tạo nên các cấu tạo địa phương như cấu tạo Amethyst, Cá Ông Đôi, Opal, Sói

Trũng Đông Bắc, đây là trũng sâu nhất, chiều dày trầm tích có thể đạt tới

8 km Trũng có phương kéo dài dọc theo trục chính của bể, nằm kẹp giữa 2 đới nâng và chịu khống chế bởi hệ thống các đứt gãy chính hướng ĐB-TN

Trũng Tây Bạch Hổ Trong một số tài liệu trũng này được ghép chung với

trũng Đông Bắc Tuy nhiên, về đặc thù kiến tạo giữa hai trũng có sự khác biệt đáng kể đặc biệt là phương của các đứt gãy kiến tạo chính Trũng Tây Bạch Hổ

bị khống chế bởi các đứt gãy kiến tạo có phương á vĩ tuyến, tạo sự gấp khúc của bể Chiều dày trầm tích của trũng này có thể đạt tới 7,5 km

Trũng Đông Bạch Hổ nằm kẹp giữa đới nâng Trung Tâm về phía Tây,

sườn nghiêng Đông Nam về phía Đông- Đông Nam và đới nâng Đông Bắc về phía Bắc Trũng có chiều dày trầm tích đạt tới 7 km và là một trong ba trung tâm tách giãn của bể

Đới nâng Trung Tâm là đới nâng nằm kẹp giữa 2 trũng Đông và Tây

Bạch Hổ và được giới hạn bởi các đứt gãy có biên độ lớn với hướng đổ chủ yếu về hướng Đông Nam Đới nâng bao gồm các cấu tạo dương và có liên quan đến những khối nâng cổ trước Kainozoi như: Bạch Hổ, Rồng Các cấu tạo bị chi phối không chỉ bởi các đứt gãy thuận hình thành trong quá trình tách giãn, mà còn bởi các đứt gãy trượt bằng và chờm nghịch do ảnh hưởng của sự siết ép vào Oligocene muộn

Trang 22

ngăn cách bởi một địa hào nhỏ có chiều dày trầm tích khoảng 6km Đới nâng bao gồm cấu tạo Vừng Đông và dải nâng kéo dài về phía Đông Bắc.

Đới nâng phía Đông chạy dài theo hướng ĐB-TN, phía TB ngăn cách với

trũng ĐB bởi hệ thống đứt gãy có phương á vĩ tuyến và ĐB-TN, phía ĐN ngăn cách với đới phân dị Đông Bắc bởi võng nhỏ, xem như phần kéo dài của trũng Đông Bạch Hổ về phía Đông Bắc Trên đới nâng đã phát hiện được các cấu tạo dương như: rạng Đông, Phương Đông và Jade

Đới phân dị Đông Bắc (phần đầu Đông Bắc của bể) nằm kẹp giữa đới

nâng Đông Phú Quý và sườn nghiêng Tây Bắc Đây là khu vực có chiều dày trầm tích trung bình và phân dị mạnh bởi các hệ thống đứt gãy có đường phương ĐB-TN, á kinh tuyến và á vĩ tuyến tạo thành nhiều địa hào, địa lũy nhỏ (theo bề mặt móng) Một số các cấu tạo dương địa phương đã xác định như: Hồng Ngọc, Pearl, Turquoise, Diamond, Agate

Đới phân dị Tây Nam nằm về đầu Tây Nam của trũng chính Khác với

đới phân dị ĐB, đới này bị phân dị mạnh bởi hệ thống những đứt gãy với đường phương chủ yếu là á vĩ tuyến tạo thành những địa hào, địa lũy, hoặc bán địa hào, bán địa lũy xen kẽ nhau Những cấu tạo có quy mô lớn trong đới này phải kể đến: Đu Đủ, Tam Đảo, Bà Đen và Ba Vì

Các cấu tạo địa phương bậc 4 là đối tượng tìm kiếm và thăm dò dầu khí chính của bể

Trang 23

1.5 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT BỒN TRŨNG CỬU LONG

Bể trầm tích Cửu Long là bể rift nội lục điển hình Bể được hình thành và phát triển trên mặt đá kết tinh trước Kainozoic (thường được gọi là mặt móng) Đặc điểm cấu trúc của bể thể hiện trên bản đồ cấu trúc mặt móng – CL80 Các bản đồ cấu trúc mặt không chỉnh hợp trong Oligocence trên – CL52, nóc Oligocene – CL50, Miocene dưới – CL40, có thể thấy rõ quá trình phát triển bể

Thời kỳ trước tạo rift Trước Đệ Tam, đặc biệt từ Jura muộn đến

Paleocene là thời gian thành tạo và nâng cao đá móng magma xâm nhập (các thành tạo nằm dưới các trầm tích Kainozoic ở bể Cửu Long) Các đá này gặp rất phổ biến ở hầu khắp lục địa Nam Việt Nam

Do ảnh hưởng của quá trình va mảng Ấn Độ vào mảng Âu-Á và hình thành đới hút chìm dọc cung Sunda (50÷43,5 triệu năm) Các thành tạo đá xâm nhập, phun trào Mesozoic muộn – Kainozoic sớm và trầm tích cổ trước đó đã trãi qua thời kỳ dài bóc mòn, giập vỡ khối tảng, căng giãn khu vực hướng TB-

ĐN Sự phát triển các đai mạch lớn, kéo dài có hướng ĐB-TN thuộc phức hệ Cù Mông và Phan Rang tuổi tuyệt đối 60÷30 triệu năm đã minh chứng cho điều đó Đây là giai đoạn san bằng địa hình trước khi hình thành bể trầm tích Cửu Long Địa hình bề mặt bóc mòn của đá móng kết tinh trong phạm vi khu vực bể lúc này không hoàn toàn bằng phẳng, có sự đan xen giữa thung lũng và đồi, núi thấp Chính hình thái địa hình mặt móng này đóng vai trò khá quan trọng trong việc phát triển trầm tích lớp phủ kế thừa vào cuối Eocene, đầu Oligocene

Thời kỳ đồng tạo rift Được khởi đầu vào cuối Eocene, đầu Oligocene do

tác động của các biến cố kiến tạo vừa nêu với hướng căng giãn chính là TB-ĐN Hàng loạt đứt gãy hướng TB-ĐN đã được sinh thành do sụt lún mạnh và căng

Trang 24

nêu trong chương 4, vào đầu Kainozoic do sự va mạnh ở gốc hội tụ Tây Tạng giữa các mảng Ấn Độ và Âu-Á làm vi mảng Indosinia bị thúc trồi xuống Đông Nam theo các đứt gãy trượt bằng lớn như đứt gãy sông Hồng, Sông Hậu – Three Pagoda, với xu thế trượt trái ở phía Bắc và trượt phải ở Phía Nam tạo nên các trũng Đệ Tam trên các đới khâu ven rìa, trong đó có bể Cửu Long Kết quả là đã hình thành các hệ thống đứt gãy khác có hướng gần ĐB-TN Như vậy, trong bể Cửu Long bên cạnh hướng ĐB-TN còn có các hệ thống đứt gãy có hướng cận kề chúng.

Trong Oligocene tách giãn đáy biển theo hướng B-N tạo biển Đông bắt đầu từ 32 tr.năm Trục giãn đáy biển phát triển lấn dần xuốn TN và đổi hướng từ Đ-T sang ĐB-TN vào cuối Oligocene Các quá trình này đã gia tăng các hoạt động tách giãn và đứt gãy ở bể Cửu Long trong Oligocene và nén ép vào cuối Ologocene

Do các hoạt động kiến tạo nêu trên, ở bể Cửu Long các đứt gãy chính điển hình là các đứt gãy dạng gàu xúc, phương ĐB-TN cắm về ĐN, một số có hướng Đ-T, nhiều bán địa hào, địa hào cùng hướng phát triển theo các đứt gãy được hình thành Các bán địa hào, địa hào này được lấp đầy nhanh chóng bằng các trầm tích vụn thô, phun trào chủ yếu thành phần bazơ – trung tính và trầm tích trước núi Trong thời gian đầu tạo bể có lẽ do chuyển động sụt lún khối tảng, phân dị nên tại các đới trũng khác nhau có thể có các thời kỳ gián đoạn, bào mòn và trầm tích khác nhau Do khu vực tích tụ trầm tích và cung cấp trầm tích nằm kế cận nhau nên thành phần trầm tích ở các đới trũng khác nhau có thể khác biệt nhau Đặc điểm phát triển các bề mặt không chỉnh hợp ở thời kỳ này mang tính địa phương cao và cần được lưu ý khi tiến hành liên kết, đối sánh thạch địa tầng Vào Oligocene sớm, bao quanh và nằm kề áp lên các khối nhô móng kết tinh phổ biến là trầm tích lục địa – sông ngòi và đầm hồ, với các tập

Trang 25

sét dày đến một vài chục mét (như trên cấu tạo Sư Tử Trắng và cánh Đông Bắc mỏ Bạch Hổ).

Quá trình tách giãn tiếp tục phát triển làm cho bể lún chìm sâu, rộng hơn Các hồ, trũng trước núi trước đó được mở rộng, sâu dần, liên thông nhau và có chế độ trầm tích khá đồng nhất Các tầng trầm tích hồ dày, phân bố rộng được xếp vào hệ tầng Trà Tân được thành tạo, mà chủ yếu là chất hữu cơ màu nâu, nâu đen tới đen Các hồ phát triển trong các địa hào riêng biệt được liên thông nhau, mở rộng dần và có hướng phát triển kép dài theo phương ĐB-TN, đây cũng là phương phát triển ưu thế của hệ thống đứt gãy mở bể Các trầm tích giàu sét của tầng Trà Tân dưới có diện phân bố hẹp, thường vắng mặt ở phần rìa bể, phần kề với các khối cao địa lũy và có dạng nêm điển hình, chúng phát triển dọc theo các đứt gãy với bề dày thay đổi nhanh Các trầm tích giàu sét của tầng Trà Tân giữa được tích tụ sau đó, phân bố rộng hơn, bao phủ trên hầu khắp các khối cao trong bể và các vùng cận rìa bể

Hoạt động nén ép vào cuối Oligocene muộn đã đẩy trồi các khối móng sâu, gây nghịch đảo trong các tầng trầm tích trong Oligocene ở trung tâm các đới trũng chính, làm tái hoạt động của các đứt gãy thuận chính ở dạng ép chờm, trượt bằng và tạo nên các cấu trúc “trồi”, các cấu tạo dương/âm hình hoa, phát sinh các đứt gãy nghịch ở một số nơi như trên cấu tạo Rạng Đông, phía Tây cấu tạo Bạch Hổ và một số khu vực mỏ Rồng Đồng thời xảy ra hiện tượng bào mòn và vát mỏng mạnh các trầm tích thuộc tầng Trà Tân trên

Các nếp uốn trong trầm tích Oligocene ở bể Cửu Long được hình thành với 4 cơ chế chính:

1 Nếp uốn gắn với đứt gãy căng giãn phát triển ở cánh sụt của các đứt

Trang 26

2 Phủ chờm của trầm tích Oligocene lên trên các khối móng cao Đây là đặc điểm phổ biến nhất ở bể Cửu Long, các cấu tạo Rạng Đông, Hồng Ngọc, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng và Bạch Hổ, Rồng, v v đều thuộc kiểu này.

3 Các cấu tạo hình hoa được thành tạo vào Oligocene muộn và chỉ được phát hiện trong các địa hào chính (Cấu tạo Gió Đông, Sông Ba (15B), v.v.)

4 Các nếp lồi, bán lồi gắn với nghịch đảo trầm tích được thành tạo vào cuối Oligocene, được phát hiện ở phía Bắc trũng chính bể Cửu Long.Sự kết thúc hoạt động của phần lớn các đứt gãy và không chỉnh hợp góc rộng lớn ở nóc trầm tích Oligocene đã đánh dấu sự kết thúc thời kỳ đồng tạo rift

Thời kỳ sau tạo rift Vào Miocene sớm, quá trình giãn đáy biển Đông

theo phương TB-ĐN đã yếu đi và nhanh chóng kết thúc vào cuối Miocene sớm (17 tr.năm), tiếp theo là quá trình nguội lạnh vỏ Trong thời kỳ đầu Miocene sớm các hoạt động đứt gãy vẫn còn xảy ra yếu và chỉ chấm dứt hoàn toàn từ Miocene giữa đến hiện tại Các trầm tích của thời kỳ sau rift có đặc điểm chung là: phân bố rộng, không bị biến vị, uốn nếp và gần như nằm ngang

Tuy nhiên, ở bể Cửu Long các quá trình này vẫn xảy ra các hoạt động tái căng giãn yếu, lún chìm từ từ trong Miocene sớm và hoạt động núi lửa ở một số nơi, đặc biệt ở phần Đông Bắc bể Vào cuối Miocene sớm trên phần lớn diện tích bể, nóc trầm tích Miocene dưới – hệ tầng Bạch Hổ được đánh dấu bằng biến cố chìm sâu bể với sự thành tạo tầng “sét Rotalid” biển nông rộng khắp và tạo nên tầng đánh dấu địa tầng và tầng chắn khu vực khá tốt cho toàn bể Cuối Miocene sớm toàn bể trãi qua quá trình nâng khu vực và bóc mòn yếu, bằng

Trang 27

chứng là tầng sát Rotalid chỉ bị bào mòn từng phần và vẫn duy trì tính phân bố khu vực của nó.

Vào Miocene giữa, lún chìm nhiệt tiếp tục gia tăng và biển đã có ảnh hưởng rộng lớn đến hầu hết các vùng quanh Biển Đông Cuối thời kỳ này có một pha nâng lên, dẫn đến sự tái thiết lập điều kiện môi trường sông ở phần Tây Nam bể còn ở phần Đông, Đông Bắc bể điều kiện ven bờ vẫn tiếp tục được duy trì

Miocene muộn được đánh dấu bằng sự lún chìm mạnh ở biển Đông và phần rìa của nó, khởi đầu quá trình thành tạo thềm lục địa hiện đại Đông Việt Nam Núi lửa hoạt động tích cực ở phần Đông Bắc bể Cửu Long, Nam Côn Sơn và phần đất liền Nam Việt Nam Từ Miocene muộn bể Cửu Long đã hoàn toàn thông với bể Nam Côn Sơn và hệ thống sông Cửu Long, sông Đồng Ni trở thành nguồn cung cấp trầm tích cho cả 2 bể Các trầm tích hạt thô được tích tụ trong môi trường ven bờ ở phần Nam bể và trong môi trường biển nông trong phần Đông Bắc bể

Pliocene là thời gian biển tiến rộng lớn và có lẽ đây là lần đầu tiên toàn bộ vùng biển Đông hiện tại nằm dưới mực nước biển Các trầm tích hạt mịn hơn được vận chuyển vào vùng bể Cửu Long và xa hơn tích tụ vào vùng bể Nam Côn Sơn trong điều kiện nước sâu hơn

Trang 28

PHẦN CHUYÊN ĐỀ

Trang 29

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA HÓA TRONG NGHIÊN CỨU ĐÁ MẸ

2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở mẫu có thành phần thạch học là sét, sét bột được phân tích các chỉ tiêu địa hóa cơ bản như: TOC (%), S1, S2, HI, …

Các mẫu trong cùng một giếng khoan của tập trầm tích Oligocene được lựa chọn như sau:

- Chọn các tập mẫu cho tầng Oligocene trên và tầng Oligocene dưới (dựa vào kết quả về phân chia địa tầng khu vực nghiên cứu đã được báo cáo)

- Tính giá trị trung bình các chỉ tiêu trên của các mẫu trong tập trầm tích của các tầng đá mẹ ở từng giếng khoan

- Tính giá trị trung bình của các chỉ tiêu cho toàn tập trầm tích tầng Oligocene trên và Oligocene dưới trong bể Cửu Long

Đề tài sử dụng số liệu địa hóa và độ sâu của 2 giếng khoan thuộc mặt cắt BB’ (hình 3.2)

Từ đó tiến hành phân tích dữ liệu và tính toán chỉ tiêu thời nhiệt TTI Kết quả được thể hiện trên biểu đồ lịch sử chôn vùi vật chất hữu cơ của các tầng đá mẹ

Ngoài ra, tác giả còn vẽ biểu đồ lịch sử chôn vùi VCHC của điểm M thuộc các đới Trũng Tây Bạch Hổ, chưa có tài liệu giếng khoan để xác định mức độ trưởng thành của tầng đá mẹ tại các đới trũng này

Kết quả cuối cùng của đề tài là thành lập được mặt cắt địa hoá thể hiện các

Trang 30

2.2 ĐÁ MẸ:

2.2.1 Định nghĩa:

Trong lịch sử thăm dò dầu khí thì đá mẹ là dấu hiệu đầu tiên để đánh giá tiềm năng của một bể trầm tích Đá mẹ là loại đá có thành phần hạt mịn chứa phong phú hàm lượng vật liệu hữu cơ và được chôn vùi trong điều kiện thuận lợi

Vì vậy, tầng đá mẹ phong phú VLHC là tầng trầm tích hạt mịn, dày, nằm

ở miền lún chìm liên tục, trong điều kiện yếm khí (vắng oxy) Đồng thời trong giai đoạn lắng nén VLHC chịu sự tác động và phân hủy của vi khuẩn…

- Phân loại theo thành phần thạch học: đá mẹ có bốn loại: đá mẹ sét phổ biến, được lắng đọng trong các môi trường khác nhau; đá mẹ silic liên quan đến sự lắng đọng sét silic ở nơi phát triển diatomic và radiolaria; đá mẹ vôi liên quan đến bùn vôi, sau khi giải phóng nước tạo thành sét vôi và các ám tiêu san hô, sét phiến cháy và than đá trong điều kiện thuận lợi sinh ra lượng dầu và khí nhất định

- Theo tiêu chuẩn địa hóa thì đá mẹ phải chứa một lượng VLHC nào đó và trong các điều kiện biến chất khác nhau, chúng sản sinh ra các sản phẩm hữu cơ tương ứng Mỗi giai đoạn biến chất sẽ có lượng VLHC hòa tan được trong dung môi hữu cơ (bitum) và phần còn lại không hòa tan trong dung môi hữu cơ hay còn gọi là kerogene

Từ định nghĩa đó, ta có thể gặp một số cấp đá mẹ như sau:

- Đá mẹ tiềm tàng: đáù mẹ vẫn còn được che đậy hoặc chưa khám phá

- Đá mẹ tiềm năng: đá mẹ có khả năng sinh dầu và khí nhưng chưa đủ trưởng thành về nhiệt độ

- Đá mẹ hoạt động: đá mẹ có khả năng sinh ra dầu khí

- Đá mẹ không hoạt động: đá mẹ vì lý do nào đó không sinh ra dầu khí

Trang 31

Để đánh giá nguồn hydrocarbon thì đá mẹ phải được đánh giá qua ba yêu cầu cơ bản sau đây:

- Đá mẹ bao gồm đủ tối thiểu số lượng vật chất hữu cơ (VCHC)

- Đá mẹ bao gồm đủ chất lượng VCHC

- Đá mẹ trưởng thành về nhiệt

2.2.2 Số lượng VCHC:

Ta dùng chỉ số TOC (Total Organic Carbon) – tổng số carbon hữu cơ trong đá – hoặc Corg , để xác định trầm tích mịn hạt có phải là đá mẹ hay không

Tiêu chuẩn phân loại đá mẹ theo số lượng VCHC:

2.2.3 Chất lượng VCHC:

Khi đã có đủ lượng VCHC trong đá mẹ, để xác định khả năng sinh dầu khí của đá mẹ, ta cần phải biết đến chất lượng VCHC để xác định loại VCHC nào sẽ là nguồn sinh dầu, sinh khí hay sinh cả dầu lẫn khí

Vật chất xây dựng lên TOC trong đá trầm tích là phần còn lại của vi sinh vật (Phytoplankton, Zooplankton, Phytobentos), vi khuẩn (Bacteria) sống trong môi trường nước và thực vật bậc cao sống trên cạn Thực vật sống trên cạn thì có cấu tạo bền vững trong khi đó thực vật sống dưới nước có cấu tạo kém bền vững hơn Do đó khi soi dưới kính hiển vi phần tàn tích của sinh vật, ta có thể nhận biết được:

- Vật chất từ sinh vật sống dưới nước thường được mô tả là vật chất vô định hình, tức là không có ranh giới ngoài một cách xác định, gọi là Sapropel

Ngày đăng: 21/03/2013, 10:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. B.P.TISSOT – D.H.WELTE, 1978. Petroleum Formation and Occurrence, A new approach to Oil and Gas Exploration. Springer-Verlag, Berlin, Heidelberg, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new approach to Oil and Gas Exploration. Springer-Verlag, Berlin, Heidelberg, New Yor
[2]. BÙI THỊ LUẬN, 2007. Xác định tầng đá mẹ của dầu khí và các đặc điểm địa chất – địa hoá ở bể Cửu Long. Khoa Địa chất – Đại học Khoa học Tự nhieân Tp.HCM Khác
[3]. HOÀNG ĐÌNH TIẾN – NGUYỄN VIỆT KỲ, 2003. Địa Hóa Dầu Khí, Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh Khác
[4]. NGUYỄN HIỆP và nnk, 2007. Bể trầm tích Cửu Long và tài nguyên dầu khí, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Khác
[5]. TRẦN CÔNG TÀO, 1996. Quá trình sinh thành hydrocarbon trong trầm tích Đệ Tam ở bể Cửu Long. Luận án tiến sĩ Địa Chất, Đại học Mỏ Địa Chaát Khác
[6]. TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT NAM, 2007. Địa Chất và Tài Nguyên Dầu Khí Viêt Nam. Hội Địa Chất Dầu Khí Việt Nam biên soạn, Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật, tháng 1/2007 Khác
[7]. ĐINH THỊ MINH NGUYỆT, 1998. Sử dụng mô hình Lopatin, nghiên cứu độ trưởng thành của đá mẹ ở bồn trũng Cửu Long. Tiểu luận tốt nghiệp khoa Địa chất – ĐH Khoa học Tự nhiên Tp.HCM Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình Nội dung Trang - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
nh Nội dung Trang (Trang 3)
Bảng Nội dung Trang - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
ng Nội dung Trang (Trang 4)
Hình 1.1: Vị trí bể Cửu Long (Trần Lê Đông, Phùng Đắc Hải - 2007) - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Hình 1.1 Vị trí bể Cửu Long (Trần Lê Đông, Phùng Đắc Hải - 2007) (Trang 6)
Hình 1.2. Sơ đồ phân bố vị trí các giếng khoan thuộc bồn trũng Cửu Long DIAMOND SU TU DENMOONSTONEAMBER - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Hình 1.2. Sơ đồ phân bố vị trí các giếng khoan thuộc bồn trũng Cửu Long DIAMOND SU TU DENMOONSTONEAMBER (Trang 11)
Hình  1.3. CỘT ĐỊA TẦNG TỔNG HỢP BỂ CỬU LONG - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
nh 1.3. CỘT ĐỊA TẦNG TỔNG HỢP BỂ CỬU LONG (Trang 18)
Hình 2.1. Sơ đồ phân loại nguồn gốc vật liệu hữu cơ dựa trên tương quan tỉ lệ hàm lượng nguyên tố H/C và O/C - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Hình 2.1. Sơ đồ phân loại nguồn gốc vật liệu hữu cơ dựa trên tương quan tỉ lệ hàm lượng nguyên tố H/C và O/C (Trang 34)
Bảng 2.1. Đánh giá độ trưởng thành của đá mẹ dựa vào độ phản xạ vitrinite - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Bảng 2.1. Đánh giá độ trưởng thành của đá mẹ dựa vào độ phản xạ vitrinite (Trang 36)
Hình 2.2. Đặc điểm của quá trình nhiệt phân - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Hình 2.2. Đặc điểm của quá trình nhiệt phân (Trang 37)
Bảng 2.2. Đánh giá độ trưởng thành của đá mẹ dựa vào T max - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Bảng 2.2. Đánh giá độ trưởng thành của đá mẹ dựa vào T max (Trang 38)
Bảng 2.3. Tính toán giá trị thời nhiệt TTI - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Bảng 2.3. Tính toán giá trị thời nhiệt TTI (Trang 40)
Bảng 2.4. Đánh giá mức độ trưởng thành vật liệu hữu cơ dựa vào TTI - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Bảng 2.4. Đánh giá mức độ trưởng thành vật liệu hữu cơ dựa vào TTI (Trang 40)
Bảng 3.1. Bảng thống kê các giá trị nhiệt độ theo độ sâu ở bể Cửu Long  ( Trần Công Tào, 1996) - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Bảng 3.1. Bảng thống kê các giá trị nhiệt độ theo độ sâu ở bể Cửu Long ( Trần Công Tào, 1996) (Trang 42)
Bảng 3.3. Tốc độ tích lũy trầm tích (Bùi Thị Luận, 2007) - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Bảng 3.3. Tốc độ tích lũy trầm tích (Bùi Thị Luận, 2007) (Trang 43)
Bảng 3.4. Lịch sử chôn vùi chung  của bể Cửu Long - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Bảng 3.4. Lịch sử chôn vùi chung của bể Cửu Long (Trang 44)
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí mặt cắt theoường BB’ vùng nghiên cứuđ CHÚ DẪN Giếng khoan: Khí - Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí mặt cắt theoường BB’ vùng nghiên cứuđ CHÚ DẪN Giếng khoan: Khí (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w