Nghiên cứu, tìm hiểu thành phần thạch học, khoáng vật hoc của đá móng trên cơ sở thu thập tài liệu và phân tích mẫu lõi khoan.
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Cô Bùi Thị Luận, người đã trực tiếp hướng
dẫn em làm đề tài tốt nghiệp này, cũng như những kiến thức chuyên môn màcô đã truyền đạt trong suốt quá trình theo học
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa “Địa chất”, bộ môn “Địachất dầu khí” đã cung cấp cho em những tài liệu cũng như giúp đỡ em trongquá trình làm khóa luận tốt nghiệp cùng với những kiến thức đại cương vàchuyên môn trong suốt bốn năm học tại trường, các bạn cùng khóa địa chấtĐC2000 và các anh chị đi trước đã giúp đỡ em rất nhiều trong những ngàytháng em học tập ở trường
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô phòng “Thạch học ” đã tận tìnhgiúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN ……… 1
LỜI MỞ ĐẦU……… 3
PHẦN I: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỒN TRŨNG CỬU LONG……… 5
CHƯƠNG I: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU……… 6
CHƯƠNG II: ĐỊA TẦNG………10
CHƯƠNG III:KIẾN TẠO………16
PHẦN II:ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC- KHÓANG VẬT HỌC CỦA ĐÁ MÓNG GIẾNG KHOAN SV_1X LÔ 15-1 THUỘC BỒN TRŨNG CỬU LONG……… 23
CHƯƠNG I:ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC – KHOÁNG VẬT………… 24
CHƯƠNG II:CẤU TRÚC KHÔNG GIAN LỖ RỖNG ………40
KẾT LUẬN……… 49
PHỤ LỤC……… 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 70
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nhu cầu về dầu khí ở nước ta ngày một tăng nhanh, thúc đẩy việc tìmkiếm thăm dò dầu khí ngày một tăng Dầu ở nước ta ngoài phần khai tháctrong lớp đá trầm tích Oligocen và Miocen, còn một phần nằm trong điều kiệnkhá đặc biệt , đó là “dầu trong móng” Cho đến nay đã có nhiều mỏ thăm dòvà khai thác thành công dầu trong móng đá kết tinh như mỏ Bạch Hổ (1987),mỏ Rạng Đông(1994), mỏ Rồng …
Năm 2001, Cuu Long Joint Company (CLJOC) đã khoan thăm dò mỏ
Sư Tử Vàng thuộc lô 15-1 vùng Đông Bắc bể Cửu Long và phát hiện dấuhiệu của dòng dầu công nghiệp từ móng đá kết tinh nứt nẻ Từ đây mở ra mộthướng mới trong công tác thăm dò, tìm kiếm dầu trong khu vực này
Với sự hướng dẫn của cô Bùi Thị Luận, cùng sự giúp đỡ của các thầy
cô giảng dạy thuộc khoa Dầu khí trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, tôi đãthực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài:
“Đặc điểm thạch học-khoáng vật học của đá móng giếng khoan SV_1X lô 15-1 thuộc bồn trũng Cửu Long”.
Khóa luận với nhiệm vụ chính là:
1.Nghiên cứu, tìm hiểu thành phần thạch học-khoáng vật học của đámóng trên cở sở thu thập tài liệu và phân tích mẫu lõi khoan
2.Tìm hiểu nguyên nhân và sự thành tạo các loại lỗ rỗng trong đá móngảnh hưởng đến khả năng chứa của chúng
Trang 4Vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế nên không tránh khỏi nhữngthiếu sót Tôi rất mong nhận được sự thông cảm cũng như những nhận xét,đánh giá của quý Thầy Cô và các bạn.
Tp.HCM, tháng 7 năm 2004Sinh viên thực hiện
VÕ THẾ TRUNG
Trang 5PHẦN I:
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỒN TRŨNG CỬU LONG
Trang 6CHƯƠNG I :
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Bồn trũng Cửu Long nằm phía Đông Bắc thềm lục địa Nam Việt Nam,với tọa độ địa lý: nằm giữa 90-110 vĩ độ Bắc, 106030’-1090 kinh độ Đông, kéodài theo phương Đông Bắc – Tây Nam Bồn trũng Cửu Long có diện tích56.000 km2, phía Đông Nam được ngăn cách với trũng Nam Côn Sơn bởi khốinâng Côn Sơn, phía Tây Nam được ngăn cách với bồn trũng vịnh Thái Lan bởikhối nâng Korat, phía Tây Bắc nằm trên phần rìa của địa khối Kontum
Bồn trũng Cửu Long được các nhà địa chất nghiên cứu từ lâu Công tácnghiên cứu địa chất, địa vật lý ở đây khá tỉ mỉ và thu được nhiều kết quả tốt,cùng với việc tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí được tiến hành mạnh mẽ
ở các mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng và đã đạt được kết quả có giá trị kinh tế lớn lao
Lịch sử nghiên cứu ở bồn trũng Cửu Long chia làm ba giai đoạn :
1 Giai đoạn trước 1975 :
Vào đầu những năm 60 đã có những dự đoán về tiềm năng dầu khí ở bồntrũng, nó trở thành đối tượng tìm kiếm dầu khí của một số công ty nướcngoài
Năm 1960 - 1970, công ty Man Drel đã đo địa vật lý thềm lục địa phíaNam với mạng lưới tuyến khảo sát 39km x 50km
Năm 1969, công ty Mobil Oil đã phủ mạng lưới tuyến khảo sát địa vật lý8km x 8km và 4km x 4km trên khu vực lô 9 và lô 16
Trang 7 Năm 1974, công ty Petty Ray đã tiến hành nghiên cứu địa vật lý với mạnglưới tuyến 2km x 2km trên khu vực lô 9.
Đầu năm 1975, công ty Mobil Oil đã khoan giếng BH-1X trên cấu tạoBạch Hổ, khi thử vỉa tầng Miocene hạ đã thu được dòng dầu công nghiệpđầu tiên với lưu lượng 2400 thùng / ngày đêm
2 Giai đoạn 1975 – 1980 :
Năm 1976, công ty Pháp đã tiến hành đo địa vật lý theo mạng lưới tuyếnkhu vực và liên kết địa chất ở các lô 9, 16, 17 vào các khu vực đồng bằngsông Cửu Long
Năm 1978, công ty Geco của Na Uy đã tiến hành đo mạng lưới địa vật lý8km x 8km, 4km x 4km và khảo sát chi tiết mạng lưới 2km x 2km, 1km x1km trên khu vực lô 9, lô 16
Năm 1979, công ty Deminex đo địa vật lý lô 15 với mạng lưới 3,5km x3,5km và tiến hành khoan 4 giếng 15A-1X, 15B-1X, 15C-1X, 15G-1X
3 Giai đoạn từ 1980 đến nay :
Năm 1980, liên doanh dầu khí giữa Việt Nam và Liên Xô được thành lậpvà tiến hành thăm dò, khai thác dầu khí rộng rãi trên toàn bồn trũng
Năm 1984, liên đoàn địa vật lý Thái Bình Dương của Liên Xô đã tiếnhành khảo sát khu vực một cách chi tiết với các mạng lưới như sau :
Mạng lưới tuyến 2km x 2km ở các cấu tạo Bạch Hổ, Rồng, Tam Đảo
Mạng lưới tuyến 1km x 1km ở các cấu tạo Rồng, Tam Đảo, khu vực lô 15
Mạng lưới 0,5km x 0,5km ở cấu tạo Bạch Hổ
Đến nay, địa chất bồn trũng Cửu Long đã được nghiên cứu tỉ mỉ và chi tiếtthể hiện qua các báo cáo về dầu khí được hoàn thành bởi Viện Nghiên
Trang 8Cứu Khoa Học và Thiết Kế Biển của Xí Nghiệp Liên Doanh Việt Xô cùngvới trữ lượng dầu đã được đánh giá và khai thác ở các mỏ Bạch Hổ, Rồng.
Trang 9Mỏ dầu Mỏ khí Đường ống dẫn khí bồn Cửu Long Đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn
Hinh 1
Trang 10CHƯƠNG II :
ĐỊA TẦNG
Địa tầng của bồn trũng Cửu Long được thành lập dựa vào kết quả phântích mẫu vụn, mẫu lõi, tài liệu carota và các tài liệu phân tích cổ sinh từ cácgiếng khoan đã khoan trong phạm vi bồn trũng, bao gồm các thành tạo móngtrước Kainozoi và các trầm tích Kainozoi (bảng 1)
1.Phần đá móng trước Kainozoi :
Các mẫu lõi lấy được từ giếng khoan vào móng cho thấy đá móng ởbồn trũng Cửu Long khá đồng nhất so với các bể trầm tích khác ở thềm lụcđịa Việt Nam Hầu hết các giếng khoan ở các lô cho thấy chủ yếu là các đámagma axit thuộc nhóm granitoid có tuổi từ T3 đến K1 (theo kết quả nghiêncứu của Vietsovpetro, Liên đoàn Địa chất 6 và các nhà thầu đã và đang tìmkiếm thăm dò ở bồn trầm tích này) Các đá này tương đương với một số phứchệ đá xâm nhập của lục địa, như phức hệ Hòn Khoai (T)hk, phức hệ ĐịnhQuán (J3)đq, phức hệ Cà Ná (K2)cn Do các hoạt động kiến tạo mạnh mẽtrong Kainozoi sớm các đá này bị phá hủy mạnh mẽ bởi các đứt gãy, kèmtheo nứt nẻ, đồng thời với các hoạt động phun trào đưa lên thâm nhập vàomột số các đứt gãy và nứt nẻ anđezit, bazan Tùy theo từng khu vực khác nhaumà các đá bị nứt nẻ, phong hóa ở các mức độ khác nhau
2.Các trầm tích Kainozoi :
Theo tài liệu của Vietsovpetro “Thống nhất địa tầng trầm tích Kainozoitrũng Cửu Long” – 1987, các thành tạo trầm tích Kainozoi có những đặc điểmchính như sau:
Trang 11- Các thành tạo trầm tích theo bình đồ cũng như theo mặt cắt khá phứctạp, bao gồm các loại đá lục nguyên tướng châu thổ và ven biển.
- Trầm tích Kainozoi phủ bất chỉnh hợp trên móng trước Kainozoi vớiđộ dày từ 3-8 km, càng đi về trung tâm bồn trũng độ dày càng tăng, chỗ sâunhất lớn hơn 8 km
- Các trầm tích Kainozoi ở bồn Cửu Long có mặt các phân vị địa tầngcó các hóa thạch đặc trưng được xác định bởi các bào tử phấn và vi cổ sinh.Từ dưới lên bao gồm :
Các thành tạo trầm tích Paleogen
Trầm tích Eoxen (P 2 ) :
Chúng được phát hiện không nhiều ở các giếng khoan, chỉ gặp đượcmột số ít ở các giếng trung tâm địa hào của bồn trũng Tuy nhiên có sựchuyển tướng cũng như môi trường thành tạo Thành phần thạch học tươngứng với các tầng cuội, sạn sỏi, cát xen lẫn lớp sét dày như giếng khoan CửuLong 1 ( Phụng Hiệp – Cần Thơ ), ở độ sâu 550-2110 m phát hiện cócuội kết có kích thước lớn hơn 10 cm Thành phần của cuội bao gồm nhữngvật liệu của đá có trước như granit, andezit, gabro tẩm sét màu đen, xanh, nâuvà đỏ thẩm Chúng đặc trưng cho trầm tích molas, được tích tụ nhiều trongđiều kiện dòng chảy mạnh, đôi chỗ gần nguồn cung cấp
Trầm tích Oligocen (P3 ) :
Theo kết quả nghiên cứu địa chấn, thạch học, địa tầng cho thấy trầmtích Oligoxen của bồn trũng Cửu Long được thành tạo bởi sự lấp đầy địa hìnhcổ, bao gồm các tập trầm tích lục nguyên gồm các loại trầm tích sông hồ, đầmlầy, trầm tích ven biển, chúng phủ bất chỉnh hợp lên móng trước Kainozoi
Trang 12Theo kết quả phân chia phân vị địa tầng địa phương, trầm tích Oligoxenđược chia thành : điệp Trà Cú – Oligoxen hạ và điệp Trà Tân – Oligoxenthượng.
+ Trầm tích Oligocen hạ – điệp Trà Cú (P 3 1 tr.c) :
Bao gồm các tập sét kết màu đen, xám xen kẽ với các lớp cát hạt từmịn đến trung bình, độ lựa chọn tốt, gắn kết chủ yếu bởi xi măng caolinit,lắng đọng trong môi trường sông hồ, đầm lầy hoặc châu thổ Phần bên trêncủa trầm tích Oligoxen hạ là lớp sét dày Trên các địa hình nâng cổ ở đỉnhthường không gặp hoặc gặp các lớp sét Oligoxen hạ mỏng
+ Trầm tích Oligoxen thượng – điệp Trà Tân (P 3 2 tt) :
Gồm các trầm tích sông hồ, đầm lầy và trầm tích biển nông Ngoài ratrầm tích Oligoxen thượng còn chịu ảnh hưởng của các pha hoạt động magma
vì thế còn tìm thấy ở đây các thân đá phun trào như bazan, andezit, … Trầmtích Oligoxen thượng có thể chia thành hai phần theo đặc trưng thạch học củachúng Phần dưới bao gồm xen kẽ các lớp cát kết hạt mịn – trung, các lớp sétvà các tập đá phun trào Phần trên đặc trưng bằng các lớp sét đen dày Ở khuvực đới nâng Côn Sơn, phần trên của mặt cắt tỉ lệ cát nhiều hơn Ở một vàinơi tầng trầm tích Oligoxen thượng có dị thường áp suất cao
Các thành tạo trầm tích Neogen :
Trầm tích Mioxen hạ – điệp Bạch Hổ (N1 1 bh) :
Trầm tích điệp Bạch Hổ bắt gặp ở hầu hết các giếng khoan đã đượckhoan ở bồn trũng Cửu Long Trầm tích điệp này nằm bất chỉnh hợp trên cáctrầm tích dưới, bề mặt của bất chỉnh hợp được phản xạ khá tốt trên mặt cắtđịa chấn Đây là bề mặt chỉnh hợp quan trọng nhất trong địa tầng Kainozoi
Trang 13Dựa trên tài liệu thạch học, cổ sinh, địa vật lý, điệp này được chia thành haiphụ điệp:
Phụ điệp Bạch Hổ dưới (N1 1 bh 1 ) :
Trầm tích của phụ điệp này là các lớp cát kết lẫn với các lớp sét kết vàbột kết Càng gần với phần trên của phụ điệp khuynh hướng cát hạt thô càngrõ Cát kết thạch anh màu xám sáng, hạt độ từ nhỏ đến trung bình, độ lựachọn trung bình, được gắn kết chủ yếu bằng xi măng sét, caolinit, lẫn với ítcacbonat Bột kết màu từ xám đến nâu, xanh đến xanh tối, trong phần dướichứa nhiều sét Trong phần rìa của bồn trũng Cửu Long, cát chiếm một phầnlớn (60%) và giảm dần ở trung tâm bồn trũng
Phụ điệp Bạch Hổ trên (N1 1 bh 2 ) :
Phần dưới của phụ điệp này là những lớp cát hạt nhỏ lẫn với những lớpbột rất mỏng Phần trên chủ yếu là sét kết và bột kết, đôi chỗ gặp những vếtthan và glauconit
Trong trầm tích điệp Bạch Hổ rất giàu bào tử Magnastriatites howardi và phấn Shorae.
Trầm tích Miocen trung – điệp Côn Sơn (N1 2 cs) :
Trầm tích điệp này phủ bất chỉnh hợp trên trầm tích Miocen hạ, baogồm: sự xen kẽ giữa các tập cát dày gắn kết kém với các lớp sét vôi màuxanh thẫm, đôi chỗ gặp các lớp than
Trầm tích Mioxen thượng – điệp Đồng Nai (N1 3 đn) :
Trầm tích được phân bố rộng rãi trên toàn bộ bồn trũng Cửu Long vàmột phần của đồng bằng sông Cửu Long trong giếng khoan Cửu Long 1 Trầmtích của điệp này nằm chỉnh hợp trên trầm tích điệp Côn Sơn Trầm tích phần
Trang 14dưới gồm những lớp cát xen lẫn những lớp sét mỏng, đôi chỗ lẫn với cuội, sạnkích thước nhỏ, Các thành phần chủ yếu là thạch anh, một ít những mảnh đábiến chất, tuff Trong sét đôi chỗ gặp than nâu hoặc bột màu xám sáng Phầntrên là cát thạch anh với kích thước lớn, độ lựa chọn kém, hạt sắc cạnh Trongcát gặp nhiều mảnh hóa thạch sinh vật, glauconit, than và đôi khi cả tuff.
Trầm tích Plioxen – Đệ Tứ – điệp Biển Đông (N2 -Qbđ) :
Trầm tích của điệp này phủ bất chỉnh hợp lên trầm tích Mioxen Trầmtích của điệp này đánh dấu một giai đoạn mới của một sự phát triển trên toànbộ trũng Cửu Long, tất cả bồn trũng được bao phủ bởi biển Điệp này đượcđặc trưng chủ yếu là cát màu xanh, trắng, có độ mài tròn trung bình, độ lựachọn kém, có nhiều glauconit Trong cát có cuội thạch anh hạt nhỏ Phần trêncác hóa thạch giảm, cát trở nên thô hơn, trong cát có lẫn bột, cát có màu hồngchứa glauconit
Trang 15Bảng 1
. .
. . .
.
.
.
.
.
. . .
. .
.
.
. .
.
.
.
. . .
. .
. .
.
. .
.
.
. .
.
.
.
Cuội, sạn, sỏi Cát và cát kết Bột và bột kết
Sét và sét kết Than Đá phun trào
Đá xâm nhập Hóa thạch động vật
(m)
Cát bột sét màu xám xanh
Phần dưới: cát thạch anh thô, xám trắng chứa nhiều
hóa thạch nhóm Operculina.
Phần trên: sét, bột, phong phú trùng lỗ đa dạng và
Nannoplankton.
Phần dưới: cát kết xen lẫn sét kết Phần trên: cát hạt nhỏ, bột và sét, chứa nhiều hóa thạch.
Sét kết, bột kết, cát kết xen kẽ nhau, nhiều nơi thấy xuất hiện các lớp đá phun trào có thành phần khác nhau.
Cát kết xen kẹp với sét kết, sét chứa vôi, đôi chỗ gặp các thấu kính than.
Phần dưới: cát kết xen kẽ bột kết và sét kết.
Phần trên: sét kết chứa nhiều hóa thạch biển nông Rotalia xen kẽ các lớp bột kết.
Các lớp sét kết tương đối rắn chắc, giàu vật chất hữu cơ xen
kẽ với các lớp cát, sỏi kết Cuội, sạn, cát kết cấu tạo dạng khối, phân lớp dày, độ lựa chọn kém, gắn kết yếu
Granite, Granodiorite
Đặc điểm thạch học
Ù TR
.
Trang 16CHƯƠNG III :
KIẾN TẠO
Theo Ngô Thường San và Trần Lê Đông (hội nghị KHĐCVN – 1995),
đặc điểm cấu trúc chung của thềm lục địa phía Nam Việt Nam như sau :
Thềm lục địa Nam Việt Nam và vùng kế cận hợp thành đơn vị cấu trúckiểu vỏ lục địa (mảng Kontum – Borneo) được gắn kết từ cuối Mezozoi đầuĐệ tam cùng với sự mở rộng của biển rìa “Biển Đông” có kiểu vỏ chuyểntiếp đại dương, tạo thành khung kiến tạo chung của Đông Nam Á
Sự tách mảng và va chạm giữa các mảng lớn Âu – Á, Ấn – Úc và TháiBình Dương mang tính nhịp điệu và đều được phản ánh trong lịch sử phát triểncủa vỏ lục địa Kontum – Borneo sau thời kì Triat
Sự nhấn chìm của mảng đại dương (Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương)bên dưới lục địa dẫn đến sự phá vỡ, tách giãn, lún chìm ở rìa lục địa Âu – Átạo ra biển rìa “Biển Đông” và thềm lục địa rộng lớn Nam Việt Nam vàSunda, hình thành các đai tạo núi – uốn nếp trẻ và cung đảo núi lửa
Bên trong mảng Kontum – Borneo xảy ra hiện tượng gia tăng dòng địanhiệt và dâng lên các khu vực Dọc theo các đứt gãy lớn phát triển các hoạtđộng xâm nhập của magma granitoid, phun trào núi lửa axit và kiềm, kể cảbazan lục địa Sự chuyển động phân dị đi kèm với tách giãn tạo các rift, khaisinh đầu tiên các trũng molat giữa núi cuối Mezozoi – đầu Paleogen dần dầnmở rộng và phát triển thành các bể trầm tích có tiềm năng về dầu khí trênthềm và sườn lục địa Nam Việt Nam
Trang 17Những va chạm giữa các mảng gây nên những chuyển động kiến tạolớn Mezozoi – Kainozoi trong mảng Kontum – Borneo được ghi nhận vàocuối Triat (Indosini); vào Jura (Malaysia); cuối Creta (Sumatra); cuối Eoxentrung; cuối Oligoxen; Mioxen trung; cuối Mioxen muộn – Plioxen.
Đặc trưng phát triển kiến tạo sau Triat của thềm lục địa phía Nam ViệtNam là sự hình thành lớp phủ Mezozoi – Kainozoi với các bồn trũng chứa dầukhí Đệ Tam
Giai đoạn tạo thành này chia làm 3 thời kỳ :
Thời kỳ Jura – Creta : là thời kỳ rift với sự tách giãn và sự lún phân dị
theo các đứt gãy lớn bên trong mảng Kontum – Borneo để hình thành cáctrũng kiểu giữa núi như : Phú Quốc, vịnh Thái Lan
Quá trình này đi kèm hoạt động magma xâm nhập granitoid và phuntrào axit dạng rhyolit và andezit, bazan và các hoạt động nhiệt dịch, và cácchuyển động nứt co bên trong các khối magma, tạo ra các khe nứt đồng sinhđược lấp đầy bởi zeolit và canxit, cũng như tạo ra các hang hốc khác nhau
Thời kỳ Eoxen – Oligoxen sớm : là thời kỳ phát triển các rift với các
thành hệ lục địa, molat, phủ không chỉnh hợp trên các trầm tích Mezozoi ởtrung tâm trũng hoặc trên các đá cổ hơn ở ven rìa
Sự chuyển động dâng lên mạnh ở các khối nâng và quá trình phonghóa xảy ra vào đầu Paleogen tạo ra lớp phong hóa có chiều dày khác nhautrên đỉnh các khối nâng granit Đó là điều kiện hết sức thuận lợi để tích tụhydrocacbon và cũng là tầng sản phẩm quan trọng được phát hiện và khaithác hiện nay ở trũng Cửu Long
Thời kỳ Oligocen – Đệ Tứ : là thời kỳ mở rộng các vùng trũng do sự
lún chìm khu vực ở rìa nam địa khối Kontum – Borneo, có liên quan trực tiếp
Trang 18với sự phát triển của biển Đông Trầm tích biển lan rộng dần từ Đông sangTây và từ Đông Nam lên Tây Bắc.
Trên cơ sở các số liệu địa vật lý và khoan sâu ở thềm lục địa Nam ViệtNam, địa tầng Đệ Tam sớm nhất được khoan qua có tuổi xác định Oligoxen.Các trầm tích molat giữa núi dự kiến tuổi Eoxen và sớm hơn chỉ phổ biến ởtrung tâm các graben, ở đây chiều dày trầm tích Đệ Tam đạt từ 8 đến 10 km
Sự va chạm giữa các mảng vào cuối Oligoxen đã ảnh hưởng đến sựphát triển của rìa nam mảng Kontum – Borneo, gây ra hiện tượng biển lùi vàbất chỉnh hợp khu vực giữa phức hệ Oligoxen và các trầm tích phủ lên chúng.Các chuyển động khối theo các đứt gãy đồng sinh cùng quá trình trầm tíchthừa kế bình đồ kiến tạo của móng trước Đệ Tam đã tạo ra những cấu tạo địaphương
Sự nâng lên làm đa số các cấu tạo bị bào mòn ở đỉnh hoặc vát mỏngchiều dày Các trầm tích sét cuối Oligoxen là lớp chắn quan trọng phủ lên cácbẫy chứa dầu Oligoxen và móng trước Đệ Tam
Thời kỳ Mioxen tiếp theo bắt đầu bằng đợt biển tiến ngắn vào đầuMioxen sớm và kết thúc bằng sự dâng lên, bất chỉnh hợp khu vực với sự giánđoạn trầm tích vào Miocen trung Diện tích các bồn trũng được mở rộng vàothời kỳ Mioxen
Thời kỳ Plioxen – Pleistoxen đến nay : đặc trưng cho thời kỳ pháttriển biển nông Diện tích các bồn trũng biến đổi theo các chu kỳ dao độngcủa mực nước biển Thành phần sét biển chiếm ưu thế Vào thời kỳ này bìnhđồ kiến tạo Oligoxen – Mioxen hoàn toàn bị san phẳng do không còn cácchuyển động phân dị trên các đới cấu tạo thứ cấp
Trang 19Có thể nói quy luật phân đới cấu tạo, cũng như thành phần phủKainozoi trong các bồn trũng Đệ Tam được khống chế bởi sự chuyển độngcủa móng và các đứt gãy cổ xuyên móng tiếp tục hoạt động trở lại về sau Sựchuyển động khối – đứt gãy và sứ phát triển của những cấu tạo địa phươngtập trung chủ yếu vào Oligoxen, Mioxen sớm, yếu dần vào Mioxen giữa vàmất hẳn vào Mioxen muộn
Bồn trũng Cửu Long có bề dày trầm tích Kainozoi lấp đầy bồn trũngkhá lớn, tại trung tâm bồn trũng > 8 km Chúng được phát sinh, phát triển trênvỏ lục địa được hình thành trong các giai đoạn kiến tạo khác nhau
Bồn trũng Cửu Long trải qua các hình thái phát triển bồn khác nhaunhư: bồn trũng giữa núi (trước Oligoxen), bồn trũng kiểu rift (trongOligoxen), bồn trũng oằn võng (trong Mioxen), bồn trũng kiểu thềm lục địa(từ Plioxen đến nay) Các hình thái bồn này tương ứng với các ứng suất cănggiãn, vì vậy các đứt gãy trong bồn chủ yếu là các đứt gãy thuận và có sựthành tạo của dạng địa lũy, địa hào : đây chính là tâm điểm cho sự dịchchuyển của dầu khí ở dưới sâu lên
Thật vậy, phần lớn các đứt gãy quan trọng trong bồn trũng Cửu Long làđứt gãy thuận kế thừa từ móng và phát triển đồng sinh với quá trình lắng đọngtrầm tích Các đứt gãy nghịch hiện diện ít do sự nén ép địa phương hoặc nénép địa tầng Chúng bao gồm hai hệ thống đứt gãy sâu khu vực :
Hệ thống chạy theo phương Tây Bắc – Đông Nam bao gồm các đứtgãy lớn
Hệ thống đứt gãy sâu Đông Bắc – Tây Nam tồn tại ở phần biển củabồn trũng, gồm hai đứt gãy chạy song song Đứt gãy thứ nhất chạy dọc theorìa biển, đứt gãy thứ hai chạy dọc theo rìa Tây Bắc khối nâng Côn Sơn Các
Trang 20đứt gãy này có góc cắm 10 – 150 so với phương thẳng đứng, cắm sâu tới phầndưới lớp bazan, hướng cắm về trung tâm bồn trũng Hai đứt gãy này khốngchế phương của bồn trũng Cửu Long trong quá trình lịch sử phát triển củamình
Ngoài hai hệ thống đứt gãy sâu khu vực, trong bồn trũng Cửu Long còntồn tại các đứt gãy có độ kéo dài nhỏ hơn (có thể chỉ tồn tại trong trầm tích cótuổi Kainozoi) Kết quả xây dựng các bản đồ cấu tạo bồn trũng cho thấy bìnhđồ cấu trúc Kainozoi bị phức tạp hóa bởi ba hệ thống đứt gãy chính : ĐôngBắc – Tây Nam, Đông Tây, Tây Bắc – Đông Nam
Trang 21HÌNH 2 - CÁC YẾU TỐ CẤU TRÚC CHÍNH BỒN TRŨNG CỬU LONG
Trang 22MA ËT
DO ÁC
CO ÂN
SƠ N HƯ
G ĐO -B ẮC
PHÍA BẮ C BE
2 2 2 4 4
2
4 4
4 4
2
2 2
2
2 2 2 2
2 2
BACH 1Xù
HO-02-M-1Xù
02-D-1Xù KHỐ I NHÔ
BẠCH HỔ
HÌNH 3 - CÁC YẾU TỐ CẤU TRÚC PHỤ BỒN TRŨNG BẮC CỬU LONG
Trang 23PHẦN II:
ĐẶC ĐIỂM THẠCH KHÓANG VẬT HỌC CỦA ĐÁ MÓNG
HỌC-GIẾNG KHOAN SV_1X LÔ 15-1
THUỘC BỒN TRŨNG CỬU LONG
Trang 24CHƯƠNG I :
ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC- KHOÁNG VẬT
MỎ SƯ TỬ VÀNG LÔ 15-1
I Đặc điểm thạch học
Đá móng mỏ Sư Tử Vàng lô 15-1-1X bồn trũng Cửu Long chủ yếu làgranit, granit biotit, granodiorit amphibol
Thành phần khoáng vật gồm plagioclas (30-45%), fenspat kali ( 30%), thạch anh ( 15-30 %), khoáng vật màu gồm biotit (4-8%), amphibol(16%)
20-Các khoáng vật thứ sinh gồm: caolin, clorit, canxit, epidot, muscovit,xerixit, xotxurit
Các khoáng vật phụ gồm:sfen, apatit, rutil, quặng
II.Đặc điểm các khoáng vật:
1.Plagioclas: là những tinh thể có dạng lăng trụ, khá tự hình Kích
thước thay đổi từ 0.1 x 0.4mm đến 0.7 x 3mm Các tiết diện này đều có cấutạo song tinh đa hợp tinh kiểu anbit từ thanh nét đến không đều Thành phầnplagioclas được xác định bằng cách đo góc tắt đối xứng lớn nhất trên tiết diệnthẳng góc với mặt (010), theo luật song tinh anbit: Np’ ^ (010)=12-14o , sốhiệu thay đổi từ No=26-28: Oligocla Phần lớn tiết diện plagioclas bị xerixithoá, một số ít bị caolin hóa, muscovit hóa Trong plagioclas đôi khi xuất hiệncác vẩy muscovit ( ảnh 1,2,3,4 )
Trang 25Ảnh 1: Đá granit biotit.
Mạch thạch anh (TA II) xuyên cắt plagioclas bị xerixit hóa( Pl)
Ảnh 2: Đá granit biotit
Mạch thạch anh (TAII) xuyên cắt plagioclas bị xerixit hóa(Pl)
Trang 26Ảnh 3: Đá granit biotit
Mạch thạch anh (TAII) xuyên cắt plagioclas bị caolin hóa(Pl) Các hạt thạch anh I (TAI) bị nứt nẻ, vở vụn
Ảnh 4: Đá granit
Plagiocslas bị muscovit hóa
Trang 27Lm: 15-1-SV-1X (3201.2m); (2N+;3.3x4x).
Trang 28hay các hạt thạnh anh thế hệ II thay thế ở giữa hạt, ngoài ra còn có cácmạch thạch anh xuyên cắt qua Plagioclas Một vài nơi tại ranh giới tiếp xúcgiữa plagioclas và fenspat kali có thạch anh ởù dạng hình giun méo mó tạothành kiến trúc myrmekit ( ảnh16 )
Trang 29Ảnh 16: Đá granit
Kiến trúc myrmekit (x)
Trang 302.Fenspat kali.Gồm 2 thế hệ :
0.2x0.3mm đến 1.5 x 2.5mm Othocla không màu nhưng thường bị caolin hoánên mờ đục
Fespat kali II ( ~10%): là microclin dạng tha hình, trong suốt ít bị biến
đổi Kích thước từ 0.1x 0.3mm đến 0.6x0.8mm Microclin có cấu tạo song tinhmạng lưới từ rõ nét đến không đều, thường bao bọc các khoáng vật thế hệ Inhư plagioclas, thạch anh, đôi chỗ bị các mạch epidot và cacbonat xuyên cắt
Trang 31
Ảnh 5: Đá granit biotit
Microclin (FK II) bao hạt plagioclas (Pl) bị xerixít hóa mạnh Có mạch epidot (E) xuyên cắt qua microclin
Ảnh 6: Đá granit biotit
Microclin (FKII) cấu tạo song tinh mạng lưới bị mạch cacbonat ( Ca) xuyên cắt Bên cạnh là biotit bị uốn cong
Trang 32Lm: 15-1-SV-1X (2906.6m); (2N+;3.3x4x).
Trang 333.Thạch anh Gồm 2 thế hệ :
Thạnh anh I :(~95%) là những hạt có dạng tha hình hay đẳng thước.
Kích thước thay đổi từ 0.2x0,3mm đến 2.5x3mm Thạch anh thường khôngmàu, trong suốt, không bị phong hóa, có nhiều đường nứt nhỏ Trong thạchanh thường có hiện tượng tắt làn sóng không đều.(ảnh 7 )
Trang 34Ảnh 7: Đá granit biotit
Thạch anh I (TAI) tắt làn sóng Bên cạnh là plagioclas bị xerixit hóa(Pl) đi cùng khóang vật màu bị biến đổi (clorit hóa, epidot hóa) (X)
Trang 35Thạch anh II: (~5%) là những hạt tha hình, méo mó, kích thước nhỏ
0.1x0.2mm nằm ở dạng lấp đầy các đường nứt hay thay thế các khoáng vậtthế hệ I như plagioclas ở giữa hạt ( ảnh 3 ), hoặc gặm mòn biotit (ảnh 9,10)
Trang 36Ảnh 3: Đá granit biotit
Mạch thạch anh (TAII) xuyên cắt plagioclas bị caolin hóa(Pl) Các hạt thạch anh I (TAI) bị nứt nẻ, vở vụn
Trang 37Ảnh 9: Đá granit biotit
Mạch thạch anh (TAII) xuyên cắt qua biotit bị clorit hóa (Bi) Thạch anh II (TAII) gặm mòn biotit dọc cát khai
Ảnh 10: Đá granit biotit
Mạch thạch anh (TAII) xuyên cắt qua biotit bị clorit hóa (clorit ( Cl) là phần màu lục trên biotit )
Trang 38Lm: 15-1-SV-1X (3101m); (1N-;3.3x4x).
Trang 394.Biotit : phân bố đều khắp trong lát mỏng, có dạng tấm, vẩy, đôi chỗ bị cà
ép nên bị uốn cong Kích thước thay đổi từ 0.3x0.5mm đến 0.9x1.8mm Đa sốcác hạt bitotit đều bị clorit hoá (30-70%), epidot hoá Công thức đa sắcNg(nâu) > Np(vàng phớt nâu) Biotit thường đi cùng với quặng (phân bố dọccát khai) (ảnh 9,10,11,12 )
Trang 40Ảnh 11: Đá granit biotit
Biotit (Bi) bị clorit hóa và bị ép cong, có thạch anh II (TAII) gặm mòn hạt biotit theo cát khai Đi cùng có khoáng vật phụ sfen (Sf) tự hình
Ảnh 12: Đá granit biotit
Biotit (Bi) bị clorit hóa(Cl) và bị ép cong, có thạch anh II (TAII) gặm mòn biotit dọc theo cát khai Đi cùng có khoáng vật sfen (Sf) tự hình