Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào CM trong nước thì những đồng chí hội viên tiên tiến của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội ở Bắc Kỳ đã tiến hành họp tại số nhà 5D Hàm Long Hà Nội vào đầu 3-1929 để tiến hành thành lập ra chi bộ CS đầu tiên ở trong nước và chi bộ này đã ra nghị quyết: phải thành lập ra Đảng CS.
Trang 1QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP ĐẢNG.
Hoàn cảnh lịch sử.
Vào giữa TK XIX, nước Việt Nam ta đã bị thực dân Pháp xâm lược, mở đầu bằng cuộc tiến công vào cảng Đà Nẵng (1-9-1858) Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định vũ trang, thiết lập bộ máy thống trị, thực dân Pháp tiến hành những cuộc khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của chính quốc Chính sách thuộc địa của Pháp ở Việt Nam và cả Đông Dương là bóc lột nặng nề về kinh
tế, chuyên chế về chính trị, kìm hãm nô dịch về văn hóa, nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho bọn tư bản lũng đoạn Pháp chứ không phải đem đến cho nhân dân các
nước Đông Dương sự “khai hóa văn minh”.
Để tiến hành khai thác thuộc địa thì phải xuất khẩu tư bản đến thuộc địa Từ
1860 đến 1912, qua hình thức cho vay, chính phủ Pháp và các tập đoàn tư bản ngân hàng Pháp đã đầu tư vào Đông Dương 499 tỷ phrăng Hậu quả của sự xuất khẩu tư bản và du nhập CNTB theo kiểu thực dân vào nước ta đã đem lại những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội, chính trị và giai cấp
Với lòng yêu nước truyền thống nồng nàn, tinh thần anh hùng bất khuất, nhân dân ta đã liên tục đứng lên kháng chiến để bảo vệ nền độc lập Các phong trào kháng chiến đã diễn ra liên tiếp, sôi nổi dưới nhiều hình thức và màu sắc khác nhau nhưng cuối cùng đều bị thất bại và nguyên nhân là do thiếu một giai cấp tiên tiến
có khả năng đề ra đường lối đúng đắn cho Cách mạng (CM) Việt Nam Xã hội Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối
Diễn biến cuộc vận động thành lập Đảng
6-1911 : Người ra đi tìm đường cứu nước với cái tên là Nguyễn Văn Ba Người muốn xem thế giới như thế nào để trở về giúp đồng bào
1911-1920 : Qua khảo sát, khảo biện trên thực tiễn Người đã rút ra một chân
lý lớn rằng chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là cội nguồn của mọi sự đau khổ
CM tháng 10 Nga (1917) đã nổ ra và giành được thắng lợi chính là mốc đánh dấu
Trang 2sự chuyển biến lập trường trong tư tưởng Nguyễn Ai Quốc Dưới ánh sáng của CM tháng 10 và đề cương về vấn đề dân tộc thuộc địa do Lênin vạch ra đồng thời được
sự giúp đỡ của các đồng chí trong Đảng xã hội Pháp, 12-1920 Người đã bỏ phiếu thành lập Quốc tế III và Đảng cộng sản (CS) Pháp và trở thành người Việt Nam đầu tiên sáng lập ra Đảng CS Pháp Nguyễn Ai Quốc đã tìm thấy chủ nghĩa Mác-Lênin và khẳng định con đường cứu nước đúng đắn bởi chủ nghĩa Mác-Mác-Lênin là chủ nghĩa yêu nước Sự kiện này là mốc đánh dấu chấm dứt về khủng hoảng đường lối cứu nước của dân tộc ta, mở đầu cho chủ nghĩa Mác-Lênin xâm nhập Việt Nam 1920-1923 : Nguyễn Ai Quốc sống tại Pháp, bằng báo chí và tác phẩm
“bản án chế độ thực dân Pháp” Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin :
4-1921, có 2 bài báo quan trọng là “Đông Dương” đăng trên tạp chí của Đảng CS
Pháp Chủ nghĩa CS có khả năng truyền bá vào Châu Á và Đông Dương , khả năng tiếp thu thuận lợi hơn Châu Âu Lập ra hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa, tập hợp
lực lượng chống đế quốc Hội này có cơ quan ngôn luận là tờ báo “ người cùng khổ” Người vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo này Người soạn và viết tác phẩm “ bản án chế độ thực dân Pháp” bằng tiếng Pháp (xuất bản 1925).
Bằng các bài báo và tác phẩm “bản án chế độ thực dân Pháp” của đồng chí
Nguyễn Ai Quốc đã được những thủy thủ người Việt Nam bí mật đưa về nước truyền bá vào phong trào yêu nước Việt Nam làm cho phong trào yêu nước Việt Nam lúc này xuất hiện một khuynh hướng tư tưởng mới đó là khuynh hướng tư tưởng của giai cấp vô sản trong phong trào CM Việt Nam
Bắt đầu từ năm 1923, Nguyễn Ai Quốc sống ở Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan Phương pháp truyền bá ở thời kỳ này có hệ thống hơn, chủ nghĩa Mác-Lênin
đã được đồng chí vận dụng đề ra đường lối cho CM Việt Nam
6- 1923 : Nguyễn Ai Quốc rời Pháp đến Liên Xô
1924 : Người dự đại hội(ĐH) quốc tế CS lần II sau đó dự ĐH nông dân quốc
tế CS (có đọc tham luận, đề nghị quốc tế CS quan tâm vấn đề nông dân ở các nước thuộc địa)
Trang 312-1924 : về Quảng Châu Trung Quốc lấy tên là Lý Thủy, tìm gặp những người trong nhóm Tâm Tâm Xã
6-1925 : lập ra tổ chức Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội Hội này có cơ quan ngôn luận là tuần báo thanh niên Đây là một tổ chức quá độ vừa tầm
Tiếp tục mở các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cho CM Việt Nam, nhiều đồng chí đã được cử đi học ở trường đại học Phương Đông và những bài giảng của
Người tại Quảng Châu cũng được tập hợp lại in thành sách lấy tên “Đường Kếch Mệnh” và là cơ sở để Đảng ta viết cương lĩnh chính trị sau này.
Nhiệm vụ của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội là tiếp tục thay mặt đồng chí Nguyễn Ai Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào Công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam để đưa phong trào Công nhân từ tự phát lên tự giác và phong trào yêu nước có đường lối rõ ràng không đi theo đường lối cải lương Bằng các việc làm thiết thực Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội đã làm cho phong trào Công nhân Việt Nam vào cuối1928 đầu 1929 xuất hiện làn sóng CM dân tộc dân chủ rất mạnh mẽ Vì vậy, yêu cầu của lịch sử đặt ra lúc này là phải thành lập ra Đảng của giai cấp vô sản để đề ra cương lĩnh và trực tiếp lãnh đạo
CM thì CM mới giành được thắng lợi
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào CM trong nước thì những đồng chí hội viên tiên tiến của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội ở Bắc Kỳ đã tiến hành họp tại số nhà 5D Hàm Long Hà Nội vào đầu 3-1929 để tiến hành thành lập ra chi bộ CS đầu tiên ở trong nước và chi bộ này đã ra nghị quyết: phải thành lập ra Đảng CS Cuối 3-1929 ĐH kì bộ Bắc Kỳ của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội cũng được tiến hành và ĐH này đã thông qua chủ trương thành lập Đảng của chi bộ CS đầu tiên đồng thời ĐH cũng cử đại biểu đi dự ĐH thanh niên toàn quốc
và giao nhiệm vụ cho các đồng chí đại biểu: phải đấu tranh để chủ trương thành lập Đảng được chấp thuận tại ĐH thanh niên toàn quốc
Trang 4Ngày 1-5-1929: ĐH lần thứ I của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội được tiến hành tại Hương Cảng Trung Quốc Tại ĐH này, đoàn Đại biểu Bắc Kỳ đưa ra vấn đề thành lập Đảng nhưng lại không được ĐH chấp thuận Vì thế, các đồng chí đã tự động rút về nước và thành lập ra tổ chức CS đầu tiên là Đông Dương
CS Đảng (6-1929) do đồng chí Hồ Tùng Mậu làm bí thư
7-1929: Thành lập An Nam CS Đảng
9-1929: Thành lập Đông Dương CS liên đoàn
Trước sự xuất hiện 3 tổ chức CS ở trong nước thì quốc tế CS đã viết thư kêu gọi những người CS ở Việt Nam là phải nhanh chóng hợp nhất 3 tổ chức CS, thành lập Đảng CS đồng thời giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Ai Quốc là thay mặt quốc tế CS hợp nhất 3 tổ chức CS thành lập ra Đảng CS Sau chỉ thị của quốc tế
CS đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã bắt tay ngay vào việc chuẩn bị các văn kiện cho hội nghị hợp nhất và khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất thì hội nghị hợp nhất 3
tổ chức CS tiến hành 3 đến 7-2-1930 tại Hương cảng Trung Quốc: Hội nghị thảo luận bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, quyết định thành lập Đảng CS và lấy tên là Đảng CS Việt Nam, thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ tóm tắt và lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc nhân dịp thành lập Đảng, bầu Ban chấp hành trung ương lâm thời Hội nghị được coi như là hội nghị thành lập Đảng
và các văn kiện do Hội nghị thông qua chính là cương lĩnh đầu tiên của Đảng
Đảng CS Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử, là bước ngoặc vĩ đại trong phong trào CM Việt Nam Nó chứng tỏ giai cấp Công nhân Việt Nam đã trưởng thành Đảng CS Việt Nam ra đời là sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lenin và phong trào Công nhân Đây là quy luật thành lập Đảng của giai cấp Công nhân Việt Nam
Trang 5QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUA CÁC
THỜI KỲ CÁCH MẠNG
1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN TA ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC
Đảng lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền cách mạng (1930 -1945)
*Hội nghị TW lần I (10-1930) tại Hương Cảng Trung Quốc với nội dung:
- Đổi tên Đảng CS Việt Nam thành Đảng CS Đông Dương
- Thông qua luận cương chính trị do đồng chí Nguyễn Ai Quốc soạn thảo
- Bầu ban chấp hành TW, đồng chí Trần Phú làm tổng bí thư
*Hội nghị TW 7-1936 tại Thượng Hải Trung Quốc do đồng chí Lê Hồng Phong làm chủ trì với nội dung:
- Tạm gác khẩu hiệu chiến lược CM Việt Nam là “ chống đế quốc
và chống phong kiến”, đưa ra khẩu hiệu mới là “ chống phản động thuộc địa, chống chiến tranh, đòi dân sinh dân chủ, đòi tăng lương, giảm giờ làm việc, giảm siêu, giảm thuế”.
- Chủ trương chuyển hướng về mặt tổ chức và hình thức đấu tranh:
từ bí mật không hợp pháp trở thành hợp pháp và nửa hợp pháp Vì thế mà
hội nghị quyết định thành lập hội “Tương Tế”, hội “Ai Hữu”.
*Hội nghị TW 6 (11-1939) tại Bà Điểm Hoóc Môn do đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm chủ trì với nội dung:
- Hội nghị nhận định: chiến tranh thế giới lần này sẽ nung nấu CM Đông Dương bùng nổ
- Chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, quyết định thành lập mặt trận phản đế Đông Dương thay cho mặt trận dân chủ
Trang 6Đông Dương và thay đổ khẩu hiệu: “ tịch thu ruộng đất của phong kiến và đế quốc” thành “ tịch thu ruộng đất của đế quốc và tay sai”.
- Đặt võ trang bạo động giành chính quyền nhưng không vạch được bước đi của khởi nghĩa vũ trang
*Hội nghị TW 7 (11-1940) tại Đình Bảng-Từ Sơn-Bắc Ninh do đồng chí Trường Chinh chủ trì với nội dung:
- Xác định kẻ thù của CM Đông Dương lúc này là phát xít Nhật và
thực dân Pháp, thay khẩu hiệu “ đánh đuổi thực dân Pháp” thành “ đánh Pháp đuổi Nhật”.
- Tán thành hội nghị 6 về việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
- Đặt võ trang bạo động vào chương trình nghị sự Cụ thể là hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ duy trì lực lượng khởi nghĩa Ba Sơn
*Hội nghị TW 8 (5-1941) tại Cao Bằng do đồng chí Nguyễn Ai Quốc chủ trì với nội dung:
- Nhận định được chiến tranh thế giới lần trước đẻ ra Liên Xô - một nước XHCN thì chiến tranh thế giới lần này đẻ ra cả hệ thống XHCN nên
CM nhiều nước thành công
- Hội nghị tán thành với hội nghị 6,7 về việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu nhưng hội nghị chủ trương giải quyết về vấn
đề dân tộc ở khuôn khổ mỗi nước Đông Dương để thành lập mặt trận riêng cho từng nước
- Chủ trương đặt võ trang bạo động là nhiệm vụ trung tâm của hội nghị và vạch ra bước đi của khởi nghĩa võ trang từ từng phần lên tổng khởi nghĩa
* Hội nghị đã trực tiếp chỉ đạo phong trào CM nước ta qua các thời kỳ và giai đoạn:
Trang 7- Với cao trào 30, 31 và Xô Viết Nghệ Tĩnh đã khẳng định được đường lối của Đảng là đúng đắn, để lại cho nhân dân niềm tin về sự lãnh đạo đúng đắn của giai cấp công nhân và để lại cho quần chúng công nông một điều tự tin về sức mạnh CM của mình, đây thực sự là cuộc diễn tập đầu tiên của Đảng và để lại cho Đảng một bài học kinh nghiệm quí giá
- Với cuộc đấu tranh nhằm khôi phục lại phong trào (1932-1935) đã bảo vệ được chân lý của Đảng đồng thời cũng đã giáo dục được nhiều Đảng viên quốc dân Đảng đi theo đường lối của Đảng CS và nhiều người sau này trở thành Đảng viên CS, cuộc đấu tranh trên báo chí công khai diễn ra trên hai lĩnh vực: triết học và văn học và trên nghị trường Phong trào CM Việt Nam cuối 1934 đầu 1935 phát triển, nhiều cuộc bãi khóa, đình công lại liên tục nổ ra trên cả nước
- Với cao trào dân chủ Đông Dương (1936-1939) buộc nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương phải ban bố một số nghị định tạm thời: thời gian làm việc của Công nhân từ 12h / 1 ngày xuống còn 8h / 1 ngày và được nghỉ ngày Chủ nhật, thả một số tù chính trị Đây là cuộc diễn tập thử lần hai thiết thực chuẩn bị về mọi mặt cho việc giành chính quyền
CM của Đảng
Sang đầu năm 1945 tình hình chiến tranh thế giới lần 2 cũng bước vào giai đoạn kết thúc: Hồng quân Liên Xô sau khi tiêu diệt phát xít Đức đã quay lại đánh đạo quân Quan Đông của Nhật làm cho bọn lính Nhật ở Đông Dương hoang mang lo sợ thực dân Pháp đứng ở phía sau đảo chính lật đổ Nhật chiếm lấy Đông Dương Vì thế, đêm 9-3-1945 Nhật đã tiến hành trước cuộc đảo chính lật đổ Pháp chiếm Đông Dương Hội nghị TW 8-3-1945 tại Tân Trào đã diễn ra đúng lúc Nhật tiến hành đảo chính Pháp đã xác định kẻ thù của ta lúc này là phát
xít Nhật, thay đổi khẩu hiệu “ đánh đuổi Pháp-Nhật” thành “ đánh đuổi phát xít Nhật” và dự kiến thời cơ khởi nghĩa Hội nghị ra chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau
và hành động của chúng ta Thực hiện chủ trương của TW cao trào kháng Nhật
Trang 8đã diễn ra sôi nổi trên cả nước Nhiều cuộc khởi nghĩa từng phần đã diễn ra và giành thắng lợi ở một số địa phương nên thời cơ tổng khởi nghĩa đang đến gần
Vì vậy, 13-8-1945 Đảng đã tiến hành hội nghị toàn quốc tại Tân Trào và
15-8-1945 phát xít Nhật đã tuyên bố đầu hàng đồng minh vô điều kiện Hội nghị quyết định phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước, bầu ra ủy ban lãnh đạo khởi nghĩa do đồng chí Trường Chinh làm trưởng ban Tối 15-8 hội nghị toàn quốc của Đảng kết thúc Sáng 16-8 cũng tại Tân Trào ĐH quốc dân lại được triệu tập chủ trương phát động tổng khởi nghĩa của Đảng và bầu ra chính phủ CM lâm thời do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ĐH đã thông qua đường lối đối nội, đối ngoại của chính phủ, thông qua quốc kỳ, quốc ca của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Sau ĐH quốc dân Tân Trào cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 đã diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước Đây thực sự là cuộc nổi dậy của toàn dân được kết hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, có nơi
mở đầu cuộc khởi nghĩa tại thành phố và kết thúc tại nông thôn nhưng có nơi thì ngược lại Thắng lợi của 3 thành phố lớn: Hà Nội(19-8), Huế(23-8), Sài Gòn(25-8) đã quyết định toàn bộ cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8
Sau khi CM tháng 8 giành thắng lợi, Bác và TW trở về thủ đô Hà Nội,
2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình, Bác đã đọc bản tuyên ngôn độc lập công bố trước toàn thể thế giới là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời
Đảng lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954)
Với sự giúp đỡ của Liên Xô, một loạt nước ở Châu Au được giải phóng và
đi lên CNXH từ đó hình thành hệ thống XHCN, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển mạnh làm lung lay hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Mỹ
ra sức lôi kéo Anh và Pháp vào mặt trận bao vây Liên Xô và chống phá phong trào
CM thế giới Việt Nam trở thành một trong những tiêu điểm chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc trong khi đã gặp phải những khó khăn to lớn về mọi mặt Kẻ thù lấy danh nghĩa là đồng minh để chống phá phong trào CM Chính quyền CM
Trang 9vừa mới được thành lập còn non trẻ, lực lượng vũ trang chưa phải là chính qui hiện đại có khả năng bảo vệ chính quyền Tất cả những khó khăn trên đã nói lên một điều là: vận mệnh dân tộc ta đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng, nền độc lập dân tộc có thể bị thủ tiêu và nhân dân ta có khả năng trở lại cuộc sống nô lệ Trước tình hình đó Đảng đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam
Bộ, 25-11-1945 Đảng ra chỉ thị “ kháng chiến kiến quốc” Đảng phát động phong trào Nam Tiến để tăng cường cho cuộc kháng chiến Thực hiện chủ trương của Đảng, cuộc kháng chiến được duy trì và phát triển đã đánh tan âm mưu của thực dân Pháp chỉ thôn tính Miền Nam(MN) Việt Nam Đảng đẩy mạnh sản xuất để giải quyết khó khăn về mặt kinh tế, đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ với chủ trương người biết chữ dạy cho người không biết chữ , tổ chức tổng tuyển cử bầu quốc hội trong cả nước và kết quả bầu được 333 đại biểu Đây thực sự là cuộc động viên chính trị rộng lớn của toàn dân nhằm biểu dương sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc Cuộc tổng tuyển cử đã tạo ra một cơ sở pháp lý cho chúng ta chống kẻ thù trên mặt trận ngoại giao
Để tập trung lực lượng của CM vào kẻ thù chủ yếu trước mắt là thực dân
Pháp xâm lược ở MN, Đảng chủ trương “ hoà với Tưởng” tạm thời chấp nhận 1 số
yêu cầu của Tưởng nhưng phải giữ được chính quyền CM và vai trò lãnh đạo của
Đảng đối với chính quyền Đưa ra khẩu hiệu “ Hoa-Việt thân thiện” tiếp xúc thân
thiện với Tưởng, sách lược này đạt kết quả Lúc này, Pháp đẩy mạnh công cuộc lấn chiếm Nam Bộ, bọn Tưởng muốn nhanh chóng thôn tính Miền Bắc (MB) nước ta nên cử tên Hà Ứng Khâm sang Hà Nội Đảng ta đã cử 30 vạn dân Việt Nam xuống
đường hô hào khẩu hiệu” nước Việt Nam thuộc người Việt Nam ủng hộ chính phủ CM do Hồ Chí Minh đứng đầu” làm Hà Ứng Khâm kinh hoàng từ bỏ ý định
thôn tính MB Ở Trung Quốc, phong trào CM do Đảng CS lãnh đạo lại phát triển mạnh mẽ, buộc quân Tưởng phải rút quân về nước để đối phó tình hình trong nước Nhưng trước khi về nước Tưởng đã kí hoà ước với Pháp: chấp nhận cho quân Pháp
Trang 10vào thay Tưởng ở MB Việt Nam và ngược lại Pháp nhường cho Tưởng đường xe lửa ở Vân Nam và một số quyền lợi khác
Sau khi hòa ứơc Hoa-Pháp được kí kết, Pháp đã tràn vào nước ta và chiếm đóng tại Lai Châu đồng thời thực dân Pháp ở MN lại ráo riết chuẩn bị tàu chiến đưa
quân đổ bộ lên vịnh Bắc Bộ và cảng Hải Phòng Đảng đưa ra sách lược “ hòa với Pháp” và kí với Pháp hiệp định sơ bộ, nhưng Pháp vi phạm hiệp định nên Đảng
phát động phong trào đình công, bãi khóa trên cả nước, buộc Pháp đàm phán chính thức Thực dân Pháp lộ rõ âm mưu xâm lược nước ta Cuối 5-1946 Bác lại lên
đường sang Pháp, ở Đông Dương bọn thực dân Pháp thực hiện “chính sách đã rồi” với âm mưu lật đổ chính phủ CM, thành lập chính phủ bù nhìn tay sai và chủ
trương chia để tự trị Trước tình hình đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta kiên quyết đấu tranh chống lại những hành động vi phạm hiệp định của Pháp đồng thời vạch mặt bọn phản động tay sai trừng trị trước pháp luật Trước sức mạnh của dân tộc ta buộc thực dân Pháp chấp nhận đàm phán chính thức nhưng cũng không đạt được thỏa thuận nào vì Pháp quyết tâm xâm lược nước ta Khi Bác trở về nước, Pháp liên tục vi phạm các điều khoản của hiệp định Giữa 12-1946 Pháp cho quân đánh chiếm Hà Nội và gởi tối hậu thư cho chính phủ ta đòi tước vũ khí của đội tự vệ Mọi khả năng hòa hoãn với Pháp không còn nữa, tối 19-12-1946 Bác đọc lờikêu gọi và phát động cả nước đứng lên kháng chiến chống Pháp và rút ra được đường lối kháng chiến đúng đắn, đánh lâu dài trong 3 giai đoạn: phòng ngự, cầm cự, tổng tiến công và dựa vào sức mình là chính vì ban đầu địch mạnh ta yếu, ta phải có thời gian chuyển hóa so sánh lực lượng đó
Dưới ánh sáng của đường lối kháng chiến chống Pháp, ngay trong tháng đầu tiên quân và dân Hà Nội đã tiêu diệt hơn 1000 tên địch Sang 1947 Đảng chủ trương mở chiến dịch MB và trong một thời gian ngắn đã giải phóng được xã Lai Châu và tỉnh Lai Châu Cuộc kháng chiến diễn ra một giai đoạn khác (cầm cự và tổng tiến công), lực lượng vũ trang của nhân dân ta phát triển mạnh về số và chất lượng đồng thời các khu du kích và căn cứ du kích cũng ra đời ở nhiều nơi trên