Lợi thế tuyệt đối absolute advatage của 1 nước thể hiện ở chỗ nước đó có khả năng SX 1 loại hàng hoá với chi phí sản xuất thấp hơn so với nước khác.. Tuy nhiên, lý thuyết này không thể
Trang 1CHƯƠNG 6 KINH TẾ VĨ MÔ CỦA NỀN KINH TẾ MỞ
2 Những tính chất đặc trưng của nền kinh tế mở
a C hủ thể kinh tế
b Cơ cấu kinh tế
c Đầu tư
d Thể chế kinh tế
II LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
(Nguyên tắc lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế)
1 Thuyết lợi thế 1 chiều của phái trọng thương
Các nhà kinh tế trọng thương (TK 16 - 17) cho rằng 1 quốc gia chỉ có thể được lợi từ thương mại quốc tế trên cơ sở quốc gia khác bị thiệt Nói cách khác, trong TMQT tổng lợi ích của các QG không tăng lên mà chỉ được chuyển từ QG này sang QG khác QG được lợi là QG tích luỹ thêm tiền bạc (quí kim) sau khi
mua bán Điều đó cũng có nghĩa là lợi thế thuộc về nước có XK nhiều hơn NK, tức
cán cân thương mại thặng dư
Từ đó họ chủ trương khuyến khích XK, hạn chế NK, nhất là nhập khẩu các loại hàng hoá xa xỉ và những loại hàng hoá được chế biến hoàn chỉnh Trong XK,
cần nghiêm cấm việc XK vàng thoi, bạc nén, bởi lẽ đó là tiền, mà tiền là mục đích
hoạt động của TMQT nói riêng và của các hoạt động kinh tế nói chung Mặt khác,
để có nhiều hàng hoá XK cần có nhiều lao động, do đó, phải khuyến khích tăng dân số Như vậy, trong quan niệm của phái trọng thương, 1 QG giàu có không phải thể hiện ở mức sống cao của dân chúng mà là ở khối lượng tiền tích luỹ được Họ
đã nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích Hơn nữa, mọi QG đều theo quan điểm
Trang 2trọng thương thì sẽ không có TMQT, bởi vì nếu tất cả các nước đều chỉ XK mà không NK thì XK cho ai? Rõ ràng lý thuyết này không phù hợp với thực tế.
2 Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Theo Adam Smith (TK 18), mỗi QG khi so sánh với QG khác có thể có lợi thế về loại sản phẩm này và kém lợi thế về loại sản phẩm khác Lợi thế đó có được
là nhờ chi phí SX thấp hơn, và được gọi là lợi thế tuyệt đối.
Lợi thế tuyệt đối (absolute advatage) của 1 nước thể hiện ở chỗ nước đó có
khả năng SX 1 loại hàng hoá với chi phí sản xuất thấp hơn so với nước khác.
Trong TMQT, mỗi QG sẽ bán những SP có chi phí SX trong nước thấp hơn so với nước ngoài Lúc đó cả 2 QG đều được lợi vì đều mua được hàng hoá rẻ hơn so với trường hợp tự SX trong nước Như vậy, mỗi QG nên chuyên môn hoá SX, tập trung nguồn lực cho những SP có khả năng SX tốt hơn nước khác
Ví dụ: 2 nước A và B SX 2 mặt hàng ti vi (X) và quần áo (Y) Chi phí SX 2
mặt hàng đó quy đổi ra thành chi phí về lao động ở bảng dưới
Nhìn vào bảng thì nếu A và B tham gia vào TMQT thì nước A sẽ có lợi thế tuyệt đối và nước B sẽ bị thiệt
Tuy nhiên, lý thuyết này không thể giải thích được trường hợp một nước kém phát triển, có CPSX cao hơn nước khác, vẫn tích cực tham gia TMQT về những loại hàng hoá mà mình không có lợi thế tuyệt đối Điều bí ẩn này nằm trong
cái gọi là lợi thế tương đối hay lợi thế so sánh (Comparative Advantage).
3 Thuyết lợi thế tương đối (Comparative Advantage) của David Ricardo
Một nước có lợi thế tương đối so với nước khác nếu SX hàng hoá với giá
rẻ hơn khi so sánh qua loại hàng hoá khác.
(Hay: 1 đất nước có lợi thế so sánh trong việc SX 1 mặt hàng nước đó có chi
phí SX tương đối (hay chi phí cơ hội) về mặt hàng thấp hơn so với nước khác).
G/s:
a1:Làgiá thành sản xuất mặt hàng X ở nước 1
b1 : Giá thành sản xuất mặt hàng Y ở nước 1
a2:Giá thành để sản xuất mặt hàng X ở nước 2
Trang 3b2: Giá thành để sản xuất mặt hàng Y ở nước 2
Với lượng đầu vào cho trước.
X1, Y1 : là số lượng hàng hoá X và Y có thể sản xuất ở nước 1
X2, Y2 : là số lượng hàng hoá X và Y có thể sản xuất ở nước 2
2
b a
1
b b
Phương pháp 3: So sánh chi phí cơ hội của từng mặt hàng giữa các nước
Chi phí cơ hội để sản xuất mặt hàng X là:
X
Y P
Hoặc:
2
1 2
1
b
b a
a
〈Hoặc :
Thì nước 1 có lợi thế tương đối trong việc sản xuất hàng hoá X và nước 2 có lợi thế tương đối trong việc sản xuất hàng hoá Y
Khi có thương mại giữa hai nước thì giá tương đối của hàng hoá X tính theo hàng hoá Y sẽ ở trong khoảng
Trang 4Nước A: Để sản xuất thêm 1 ti vi, phải hi sinh hai bộ quần áo Ngược lại, để
SX thêm 1 bộ quần áo phải hi sinh ½ ti vi
Nước B: Để SX thêm 1 ti vi, phải hi sinh 3 bộ quần áo Ngược lại, để SX
thêm 1 bộ quần áo, phải hi sinh 1/3 chiếc ti vi
Như vậy, nước A có chi phí cơ hội để SX ti vi thấp hơn nước B, còn nước B
có chi phí cơ hội SX quần áo thấp hơn nước A
Nguyên tắc lợi thế so sánh chỉ ra rằng, nếu TMQT được tiến hành 1 cách tự
do thì nước A có thể chuyên môn hoá SX ti vi để đổi lấy quần áo do nước B SX Ngược lại, nước B có lợi thế chuyên môn hoá SX quần áo và đổi lấy ti vi của nước
A Sau khi có TMQT, cả 2 nước cùng có lợi, TM sẽ làm tăng khả năng tiêu dùng của mỗi nước và tăng khả năng SX của thế giới
4 Giới hạn khả năng SX và lợi ích của TMQT
Hình dưới chỉ ra lợi ích của chuyên môn hoá và TMQT làm tăng khả năng tiêu dùng như thế nào thông qua đường PPF
Đồ thị cho thấy:
- Đường đậm nét mô tả đường PPF hay khả năng tiêu dùng của đất nước
- Đường bên ngoài thể hiện khả năng tiêu dùng của mỗi nước sau khi có
TMQT, với giả định rằng cả 2 nước đều có cùng 1 khối lượng nguồn lực ( như số giờ lao động) là như nhau và bằng 36 đơn vị.
- Phần gạch chéo cho thấy khả năng SX hoặc tiêu dùng của mỗi nước sẽ tăng lên như thế nào khi có chuyên môn hoá và TMQT
Như vậy, TMQT thúc đẩy phân công lao động và hợp tác 2 bên cùng có lợi
TM tự do mở cửa tạo điều kiện cho mỗi nước mở rộng khả năng SX và tiêu thụ sản phẩm, nâng cao SL và mức sống toàn thế giới
Song trong thực tế, để bảo vệ nền SX nội địa của mỗi nước, chống lại hàng nhập, tạo thêm việc làm cho dân cư, CP có thể thực hiện chính sách bảo hộ từ 2
phía: Ngăn chặn nhập khẩu hoặc thúc đẩy XK Công cụ để thực hiện là:
- Thuế quan: Đánh thuế nặng vào hàng nhập khẩu
- Quota: Kiểm soát lượng hàng hoá được phép nhập khẩu
- Trợ giá XK: Bù lỗ cho công ty XK hoặc người SX hàng xuất khẩu
Y X
Th ươ ng m i qu c t làm t ng kh n ng tiêu dùng c a ạ ố ế ă ả ă ủ đấ ướ t n c
N c A ướ
4 8 12 14 16 2
0
Trang 5- Các loại rào cản khác: Dùng biện pháp hành chính để cấm nhập khẩu 1 loại hàng hoá, đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật hay tiêu chuẩn vệ sinh hết sức khắt khe đối với hàng nhập khẩu, đặt ra những thủ tục hải quan gây khó khăn cho nhập khẩu.
III CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
Cán cân thanh toán quốc tế là 1 bản kết toán tổng hợp toàn bộ các luồng buôn bán hàng hoá và dịch vụ, các luồng chu chuyển vốn và tài sản giữa các công dân và CP 1 nước với các nước còn lại trên TG
Hay: Cán cân thanh toán (Balance of Payments) phản ánh toàn bộ lượng tiền giao dịch giữa 1 nước với phần còn lại của thế giới.
Phương pháp hạch toán trên cán cân thanh toán là: Nếu luồng tiền từ nước ngoài đi vào trong nước thì ghi bên “có” và ghi dấu “+”; nếu luồng tiền từ trong nước đi ra nước ngoài thì ghi bên “nợ” và ghi dấu “- " Chênh lệch giữa luồng tiền
đi vào và đi ra thường được gọi là tài khoản “ròng”
Cán cân thanh toán có 2 tài khoản chủ yếu: T/K thanh toán vãng lai và T/K
tư bản(vốn).
- Tài khoản vãng lai (Current Acount) nhằm ghi lại các luồng thu nhập đi
vào và đi ra khỏi quốc gia Thu nhập đi vào và đi ra có thể do:
+ XNK hàng hoá(hữu hình) và dịch vụ(còn gọi là thương mại vô hình – bao gồm các hoạt động xuất và nhập khẩu dịch vụ vận tải, du lịch, ngân hàng,…): Chênh lệch giữa XK và NK được xếp vào mục xuất khẩu ròng (NX)
+ XNK các yếu tố SX (vốn, lao động, bằng phát minh)
⇒ Chênh lệch giữa thu nhập (TN) từ các yếu tố XK và TN từ các yếu tố NK
được xếp vào mục TN ròng từ nước ngoài.
+ Chuyển nhượng TN giữa các nước với nhau, bao gồm các khoản như viện trợ, bồi thường chiến tranh, quà biếu,… chênh lệch giữa TN do nhận chuyển
nhượng và TN chuyển nhượng ra nước ngoài được xếp vào mục chuyển nhượng ròng.
- Tài khoản vốn (Capital Acount) nhằm ghi lại các luồng vốn đi vào và đi ra
khỏi quốc gia
+ Vốn dùng để mua nhà máy, mua c/phiếu của các công ty được gọi là đầu
tư Chênh lệch giữa luồng đi vào và đi ra được xếp vào mục đầu tư ròng.
+ Vốn dùng để gửi NH và mua công trái của CP nước ngoài, hay trực tiếp
vay mượn từ bên ngoài được gọi là giao dịch tài chính Chênh lệch giữa luồng đi vào và đi luồng đi ra được xếp vào mục giao dịch tài chính ròng.
- Cán cân thanh toán hay kết toán chính thức nhằm tổng kết toàn bộ lượng
ngoại tệ đi vào và đi ra dưới tất cả các hình thức:
Trang 6- Giá trị hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu (X).
- Nhận viện trợ của nước ngoài.
- Thu nhập từ nước ngoài.
2 Tài khoản vốn (tài khoản tư bản)
- Đầu tư nước ngoài vào trong nước.
- Vay của chính phủ và tư nhân
- Chi trả thu nhập cho nước ngoài
- Đầu tư ra nước ngoài.
- Cho chính phủ và tư nhân nước ngoài vay.
Trang 73 Cán cân thanh toán quốc tế = có – nợ
Nếu (+) thì có thặng dư
Nếu (-) thì có thâm hụt
IV TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
1 Tỷ giá hối đoái và thị trường ngoài hối
1.1 Tỷ giá hối đoái
Ví dụ: Một người dân Việt Nam mua 1 kg Cà phê tại VN thì tất nhiên
người đó muốn trả bằng tiền VN Người SX Cà phê cũng muốn được trả bằng tiền VN vì chi tiêu hàng ngày của họ cũng được thanh toán bằng VNĐ Tuy nhiên, nếu muốn mua một máy Photo của Mỹ thì bằng cách nào đó, cuối cùng cũng phải trả bằng USD cho người Mỹ Ngược lại, người Mỹ muốn mua Cà phê của VN thì cuối cùng, bằng cách nào đó cũng phải trả bằng VNĐ ⇒ Việc mua bán giữa 2 nước sử dụng 2 loại tiền khác nhau đòi hỏi phải có sự chuyển đổi loại
tiền này sang loại tiền khác Từ đó hình thành nên tỷ giá hối đoái.
Khái niệm
Tỷ giá hối đoái (Foreign Exchange Rate) là giá cả của 1 đơn vị tiền tệ của
1 nước tính bằng tiền tệ của nước khác
Hoặc Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền trong nước với đồng
tiền nước ngoài
Thông thường, thuật ngữ “tỷ giá hối đoái” được ngầm hiểu là số lượng đơn
vị tiền nội tệ cần thiết để mua 1 đơn vị ngoại tệ.
Giả định xét thị trường trao đổi giữa VND và USD và xác định tỉ giá giữa hai đồng tiền này Nguyên lý chung được áp dụng cho các giao dịch khác với nước ngoài, như vậy USD được coi là ngoại tệ nói chung, và giá trị của USD được tính theo VND được coi là TGHĐ nói chung
Vì tiền của một nước được trao đổi với tiền của nước khác trên thị trường ngoại hối, do đó cầu về ngoại tệ chính là cung về VNĐ, trong khi cung về ngoại
tệ chính là cầu về VNĐ
Vì lí do này mà một lý thuyết về TGHĐ giữa DUSD và SUSD hoặc DVND hoặc
SVND Tuy nhiên, để tiện cho việc phân tích sẽ xem xét cầu và cung về USD và tỷ giá của USD tính theo VND
Ký hiệu:
e - Tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ tính theo ngoại tệ
E - Tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tệ
Ví dụ: Tỷ giá hối đoái của VN tính theo USD là e = 1USD/15.322 VNĐ hay
E = 15.322 VNĐ/ USD
Trang 8Chẳng hạn từ 15.322 VNĐ/USD lên 16.322 VNĐ/USD, có nghĩa là giá của đồng USD tăng và giá của đồng VN giảm Thật vậy, nếu trước đây chỉ cần 15.322 đồng là mua được 1 USD, thì bây giờ phải cần đến 16.322 VNĐ mới mua được 1 USD, tức đồng USD tăng giá Nói ngược lại, trước đây 1 USD chỉ mua được 15.322 VNĐ, thì nay 1 USD có thể mua được 16.322 VNĐ, tức VNĐ bị giảm giá
Như vậy, nếu e tăng thì ta nói đồng nội tệ tăng giá hơn trước (appreciation), tức đồng ngoại tệ giảm giá hơn trước (E giảm) Ngược lại, nếu
e giảm thì ta nói đồng nội tệ giảm giá hơn trước hay mất giá (depreciation), tức đồng ngoại tệ tăng giá hơn trước (E tăng).
*Cách xác định tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối:
@ Cung và cầu về tiền trong các thị trường ngoại hối
Cung về USD (S USD )
Được sinh ra từ 2 nguồn:
- Lượng hàng hóa, dịch vụ và tài sản trong nước mà người nước ngoài muốn mua
- Lượng vốn, lượng thu nhập và các khoản chuyển nhượng từ nước ngoài vào trong nước
Đường SUSD là đường dốc lên (đồ thị dưới) Điều này biểu thị khi giá USD tăng (E⇑), Phàng và tài sản của Việt Nam tính bằng USD giảm ⇒ Người nước ngoài mua nhiều hơn (X⇑)⇒SUSD tăng
Khi có sự di chuyển trên đường SUSD, nếu xuống phía dưới, thì giá trị của USD giảm, giá trị của VND tăng Trong trường hợp ngược lại, VND giảm giá, USD tăng giá
Cầu về USD (D USD )
Được sinh ra từ 2 nguồn:
- Lượng hàng hóa, dịch vụ và tài sản của người nước ngoài mà người trong nước muốn mua
- Lượng vốn, thu nhập và các khoản chuyển nhượng ra nước ngoài
Đường DUSD là đường dốc xuống (đồ thị dưới) Điều này biểu thị khi giá USD giảm (E⇓), Phàng và tài sản của Việt Nam tính bằng USD tăng ⇒ Người Việt Nam mua nhiều hàng hóa hơn từ Mỹ (IM⇑)⇒DUSD tăng
Khi có sự di chuyển trên đường DUSD, nếu xuống phía dưới, thì giá trị của USD giảm, giá trị của VND tăng Trong trường hợp ngược lại, VND giảm giá, USD tăng giá
@ Xác định tỉ giá hối đoái
Trang 9TGHĐ cân bằng được xác định tại giao điểm của cung và cầu về ngoại tệ, tại đây cung = cầu ngoại tệ Nếu TGHĐ trong thực tế khác với TGHĐ cân bằng thì thị trường sẽ được điều chỉnh (tùy theo cách thức can thiệp) để đưa về TGHĐ cân bằng.
1.1.2 Các nguyên nhân của sự dịch chuyển của các đường cung và cầu về tiền trên thị trường ngoại hối
- Cán cân thương mại: Trong các đ/k khác không đổi, nếu IM của 1 nước
tăng thì đường cầu ngoại tệ sẽ dịch chuyển sang bên phải
- Tỷ lệ LP tương đối: Nếu tỷ lệ LP của nước A cao hơn tỷ lệ LP của nước
B thì nước A sẽ phải cần nhiều tiền hơn để mua 1 lượng tiền nhất định của nước
B ⇒ Làm cho đường cầu ngoại tệ dịch sang trái và tỷ giá hối đoái giảm xuống.
- Sự vận động của vốn: Khi l/s của 1 nước tăng lên một cách tương đối so
với nước khác, thì các tài sản của nó tạo ra tỷ lệ tiền lời cao hơn và có nhiều
người dân nước ngoài muốn mua các tài sản ấy Làm cho đường cung ngoại tệ dịch sang phải và làm tăng tỷ giá hối đoái của nó.
- Dự trữ và đầu cơ ngoại tệ: Tất cả đều có thể gây ra những thay đổi lớn
về tiền, đặc biệt trong điều kiện thông tin liên lạc hiện đại có thể trao đổi hàng tỉ USD giá trị tiền tệ mỗi ngày
Ví dụ: Trong điều kiện mọi yếu tố khác không đổi, khi các nhà đầu tư dự
báo rằng trong tương lai tỷ giá hối đoái (e) giảm xuống hay E tăng lên thì hiện tại vốn có khuynh hướng chạy ra nước ngoài ⇒ S dịch chuyển về phía phải cầu đối với đồng ngoại tệ đó có xu hướng tăng lên, và ngược lại.
Trang 102 Vai trò của tỷ giá hối đoái và mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán
Để làm rõ vai trò của tỷ giá hối đoái, ta xét mối quan hệ giữa TGHĐ và cán cân TM nói riêng, cán cân thanh toán nói chung
Tỷ giá hối đoái là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến XK ròng (NX) Vì:
- TGHĐ tác động đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên TT quốc
tế Một khi giá cả sp nội địa rẻ tương đối so với sp cùng loại trên TT quốc tế, thì
khả năng cạnh tranh tăng lên ⇒ X có xu hướng tăng lên
Khả năng cạnh tranh còn gọi là TGHĐ thực tế (Real foreign Exchange rate)
là tỷ giá có phản ánh tương quan giá cả hàng hoá giữa hai nước, được tính theo loại tiền của 1 trong hai nước đó
Khả năng cạnh tranh = Er= E.Po/P
Từ phương trình, ta thấy Er phụ thuộc vào tỷ giá danh nghĩa E và mqh giữa giá cả tương đối giữa 2 nước
Trong đó:
Po - giá sản phẩm nước ngoài tính theo giá nước ngoài (ví dụ: USD)
P - giá sp cùng loại SX trong nước tính theo đồng nội địa (ví dụ: VNĐ)
E - Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được tính bằng số đơn vị nội tệ/1 đơn vị ngoại tệ
Ví dụ: giá Máy tính của Mỹ tính theo tiền của Mỹ là Po =1000 USD, nếu tỷ giá danh nghĩa E = 14.000 VNĐ/USD thì giá máy tính của Mỹ theo tiền
VN là:
1.000 USD 14.000 VNĐ/USD = 14.000.000 VNĐVới P và Po không đổi, khi E⇑⇒ E.Po⇑ P của sp nước ngoài trở nên đắt tương đối
so với giá sp trong nước P của sp trong nước trở nên rẻ tương đối so với sp nước ngoài