1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Thu nhập trước thuế, trả lãi và khấu hao ppsx

3 369 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu nhập trước thuế, trả lãi và khấu hao
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 55,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thu nhập trước thuế, trả lãi và khấu hao Earnings Before Interest, Taxes, Depreciation and Amortization - EBITDA Thông thường thì các nhà đầu tư hay chú ý tới dòng tiền, thu nhập ròng

Trang 1

Thu nhập trước thuế, trả lãi và khấu hao (Earnings Before Interest, Taxes, Depreciation and Amortization -

EBITDA )

Thông thường thì các nhà đầu tư hay chú ý

tới dòng tiền, thu nhập ròng và doanh số như là các thước đo cơ bản về giá trị và sức mạnh của doanh nghiệp Tuy nhiên trong những năm gần

đây đã xuất hiện một chỉ số mới trong các báo cáo quý và báo cáo kế toán, đó chính là

EBITDA Đây là một chỉ số thể hiện tình hình tài chính của một công ty, được tính bởi công thức:

EBITDA = doanh thu - các kho ả n chi phí (tr ừ

ti ề n tr ả lãi, thu ế , kh ấ u hao)

EBITDA có thể được sử dụng để phân tích và

so sánh mức lãi giữa các công ty hoặc các

ngành bởi chỉ số này đã loại bỏ được ảnh

hưởng do các quyết định về mặt kế toán và tài chính gây ra EBITDA ban đầu được sử dụng trong hoạt động sáp nhập, thôn tính vào những

năm 80, khi đó chỉ số này chủ yếu được dùng

để đánh giá khả năng thanh toán nợ của một công ty Sau đó, nó trở nên phổ biến hơn trong các ngành có tài sản giá trị lớn, cần chiết khấu

Trang 2

trong thời gian dài Ngày nay thì EBITDA được

sử dụng phổ biến trong rất nhiều công ty, đặc

biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin

Một nhầm lẫn thường gặp với EBITDA đó là

người ta nghĩ chỉ số này thể hiện khả năng thu

tiền EBITDA là một chỉ số tốt để đánh giá khả

năng sinh lợi nhưng không phải là thước đo

đánh giá nguồn tiền EBITDA cũng không tính

đến lượng tiền mặt cần thiết để chi trả các chi phí hoạt động cũng như thay thế các loại thiết bị

cũ, mà khoản chi phí này là tương đối lớn Do

đó chỉ số này thường được các công ty sử dụng

để đánh bóng hình ảnh của mình, tạo ra một

con số kế toán tương đối đẹp về khả năng kiếm

lời Các nhà đầu tư cũng cần phải phân tích kĩ

các chỉ số tài chính khác để chắc chắn rằng

công ty không cố tình che giấu sự thật nào đó

đằng sau EBITDA

Những người khởi xướng ra

EBITDA thì cho rằng chỉ số này

phản ánh một cách rõ ràng hơn về

tình hình hoạt động của công ty vì

nó đã loại bỏ các khoản chi phí có

thể sẽ che đi những tiến bộ thực sự Lãi

suất_một trong các nhân tố quan trọng trong các quyết định tài chính đã bị bỏ qua Thuế cũng

Trang 3

không được tính đến vì chúng có thể thay đổi rất nhiều phụ thuộc vào các khoản lãi, lỗ trong các

kì trước, sự biến động này có thể bóp méo thu

nhập ròng thực tế Cuối cùng, EBITDA loại bỏ

đi yếu tố chủ quan, tuỳ ý trong việc tính khấu hao ví dụ như thời gian hữu ích, giá trị thặng dư,

và các phương pháp tính khấu hao khác nhau

Bằng việc loại trừ các yếu tố này EBITDA khiến cho việc so sánh năng lực tài chính giữa các

công ty dễ dàng hơn Chỉ số này cũng rất hữu

dụng trong việc đánh giá các công ty có cơ cấu

vốn, mức thuế và chính sách khấu hao khác

nhau Đồng thời các nhà đầu tư cũng có thể xác

định được lượng tiền mà một công ty mới mở

hoặc công ty vừa cơ cấu lại có thể tạo ra trước khi thanh toán cho chủ nợ và cơ quan thuế Lý

do chính EBITDA' được sử dụng phổ biến là chỉ

số này cho thấy mức lợi nhuận cao hơn thông

thường Công ty sẽ khiến cho bức tranh tài

chính của mình thêm sáng sủa bằng cách đưa thêm chỉ số EBITDA, đánh lạc hướng chú ý của các nhà đầu tư khỏi tỉ lệ nợ và chi phí hoạt động cao

Ngày đăng: 31/07/2014, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w