Tại một điểm bất kỳ trên ngọn lửa sẽ có hai loại vận tốc: 1 Vận tốc thứ nhất vuông góc với ngọn lửa có hướng về phía hỗn hợp khí đốt và KK chưa cháy ký hiệu Su gọi là “ vận tốc của sức c
Trang 1Hình 5a: Bình bom 20 lít (bom Hartmann) để thí nghiệm.
Thí nghiệm đo Kst với bột than đá Bột than sẽ đưa vào bình nhỏ (Dispersion reservoir, bên tay phải bình) Sau đó bơm không khí (KK) vào để trôn lẫn với bột than ở áp suất vài bar Sau đó mở ống thông
Trang 2
Hình 5b: Bình bom 20 lít (bom Hartmann) để thí nghiệm Hình thật sự (Hình lấy từ web của
Katholieke Universiteit Leuven)
Trang 3
Hình 6: Tốc độ tăng của áp suất theo thới gian Thí nghiệm thực hiện
với bột than đá, nồng độ 473 g than đá cho 1 m3 KK hay 9,46 gram cho bình 20 lít, năng lượng mồi là 10 KJ và đo bằng bình 20 lít Từ hình
vẽ ta có thể tính được Kst (công thức (1)) bằng cách vẽ tiếp tuyến để chọn (dP/dt)max và V = 20 lít
Từ lúc bắt đầu cháy khoảng 70 mili giây (70 ms) (hỗn hợp bột than đá
và KK đưa vào bình 20 lít khoảng 70 ms để hỗn hợp đủ thời gian toả
Trang 45 Tốc độ cháy của ngọn lửa
Có rất nhiều từ chuyên môn mà cần giải thích cho những đọc giả không chuyên ngành Chúng ta nhìn vào đèn Bunsen (Hình 5) Đèn Bunsen gồm mốt ống hình tròn dài, dài đủ để chúng ta có một tốc độ của hỗn hợp khí đốt và KK không thay đổi dù ống dài hơn nữa (fully developed velocity profile) Đường kính của ống rất nhỏ (khoảng 5 – 30 mm) Hỗn hợp khí đốt và KK chảy (thổi) vào ống và có ngọn lửa ngay phía ngoài ống Chúng ta thấy màu thật sáng màu xanh có hình chữ V ngược gọi là ngọn lửa (tiếng Anh gọi là flame front), đó là ranh giới, một bên phía ngoài chữ V ngược là hỗn hợp khói (khí đốt và KK đã cháy xong) và phía dưới chữ V ngược là hỗn hợp khí đốt và KK chưa cháy Tại một điểm bất kỳ trên ngọn lửa sẽ có hai loại vận tốc: 1) Vận tốc thứ nhất vuông góc với ngọn lửa có hướng về phía hỗn hợp khí đốt và KK chưa cháy (ký hiệu Su) gọi là “ vận tốc của sức cháy ” (burning velocity) và 2) Vận tốc thứ hai có hướng ra phía
ngoài thành (ký hiệu Ur) phía hỗn hợp khói gọi là “ vận tốc của hỗn hợp khí ” (gas velocity) “Vận
tốc của sức cháy” rất quan trọng trong sự đốt cháy và nó được dùng để đánh giá sự mảnh liệt của ngọn lửa hay sự mảnh liệt của sức nổ Hai vận tốc này cộng lại gọi là “ vận tốc của ngọn lửa ”
(flame speed) Nếu ngọn lửa ổn định (steady state) nghĩa là ngọn lửa đứng yên, vận tốc của ngọn
lửa bằng “không”
Chúng ta định nghĩa hai loại vận tốc như sau:
a) Vận tốc của sức cháy (burning velocity) là vận tốc của ngọn lửa mốc là hỗn hợp khí đốt
và KK Dùng ít “phép thuật” toán, vận tốc sức cháy có thể tính được từ đường biểu diễn P-thời gian ở Hình 6
b) Vận tốc của ngọn lửa là vận tốc mà mốc là tọa độ cố (nhất) định
“Tốc độ của sự cháy” của một loại hạt rất quan trọng vì chúng ta dùng nó để chuẩn đoán độ cháy của hạt (độ nguy hiểm của hạt nếu hạt bị cháy nổ)
Trang 5
Hình 7: Mô hình và đèn (ngọn lửa) Bunsen (hình chụp lấy trong internet)
Sự rối loạn rất quan trọng trong sự đốt cháy hay nói một cách khác, nếu có sự rối loạn vận tốc của sức cháy sẽ tăng lên hay sức cháy hoặc sức nổ trở nên mảnh liệt hơn Để giải thích cho điều này, chúng ta hãy quan sát thí nghiệm “đóng-mở” của ống dài Trong ống dài chứa hỗn hợp chất đốt (dạng khí hay rắn) và không khí (KK) Nồng độ chất đốt trong KK trong phạm vi có thể xảy
Trang 6Dt giây) Hỗn hợp chất đã đốt xong không đụng chạm tới ngọn lửa và ngọn lửa cứ tiếp tục cháy cho đến khi không còn hỗn hợp chất đốt và KK chưa cháy còn lại trong bình Ngọn lửa có hai chiều (hình tròn) và di chuyển đều Trong trường hợp này ngọn lửa di chuyển với tốc độ bằng tốc
độ của sức cháy thành lớp (không có sự rối loạn) (laminar burning velocity)
Hình 8: Thí nghiệm “đóng-mở” của ống dài
Trường hợp 2 (Hình 8c và 8d): Mồi tại đầu “đóng” của ống (Hình 8c, t = 0 giây) Ngay lúc bắt
đầu, ngọn lửa vẫn còn ở dạng hai chiều và bằng với vận tốc của sức cháy thành lớp (không có sự rối loạn) Hỗn hợp ở trạng thái ban đầu yên tĩnh (lặng yên), khi vừa bắt đầu cháy thì có hiện tượng khác xảy ra, Ngọn lửa nóng lên và bắt đầu phát ra năng lượng cho hỗn hợp khí đã vừa cháy xong (khói) Sự giãn nở của hỗn hợp vì nhiệt độ tăng sẽ đẩy ngọn lửa di chuyển về phía đầu
mở của ống Khí đầu ống phía sau ngọn lửa bị bít kín, bắt buộc hỗn hợp khí đã bị đốt quay ngược đầu lại và chuyển động với vận tốc lớn hơn vận tốc của sức cháy thành lớp (không có sự rối loạn) và sẽ làm ngọn lửa bị biến dạng Hỗn hợp khí (khói) bây giờ có sự rối loạn và làm ngọn lửa
Trang 7cũng trở thành ba chiều Diện tích bề mặt của ngọn lửa tiếp xúc với hỗn hợp chất đốt và KK (unburned gas) lớn hơn diện tích của ngọn lửa ở dạng hai chiều, nhiều năng lượng phát sinh ra làm nóng hỗn hợp khí chưa cháy, hỗn hợp khí chưa cháy nóng hơn, dễ bắt mồi cháy hơn, và sẽ cháy nhanh (nhiều) hơn Vận tốc của ngọn lửa sẽ bằng vận tốc sức cháy cộng với vận tốc của hỗn hợp khí đã bị đốt (khói)
Essenhigh và Woodhead (1959) [9] đã làm thí nghiệm này với hỗn hợp “nút bần”-không khí trong một ống bằng kiếng với chiều dài 5,2 m và đường kính bằng 56 mm và 76 mm Họ đã khám phá ra vận tốc ngọn lửa trong trường hợp 2 (mồi tại đầu “đóng”) lớn hơn 20 lần so vối vận tốc ngọn lửa trong trường hợp 1 (mồi tại đầu “mở”)
Như vậy sự rối loạn rất quan trọng trong sự đốt cháy. Có rất nhiều tài liệu nói về liên quan giữa sự rối loạn và sự đốt cháy Tốc độ cháy trong trường hợp có sự rối loạn lớn hơn tốc độ cháy không có sự rối loạn khoảng 2 – 4 lần cho chất đốt là các hạt rắn (chất khí có thể lớn hơn nhiều) Có nghĩa là áp suất tăng đột ngột nhanh hơn 2 – 4 lần Áp suất cũng lớn hơn (khoảng 40%) trong trường hợp có sự rối loạn [10]
Khi cháy nó có thể tạo ra sự rối loạn Sự rối loạn làm tăng lên tốc độ cháy Giải thích hơi phức tạp nên không trình bày ở đây
Bao nhiêu joule (1 joule = 2,77778 x 10-7 kw-giờ) để ngọn lửa có thể bắt đầu cháy? Câu hỏi này rất khó trả lời vì nó tùy thuộc vào:
Vật liệu (bột than, đường hay gỗ, v.v.) Bột kim loại cũng có thể cháy thí dụ nhôm, đồng
Trang 8
Điều quan trọng là chúng ta phòng hờ các trường hợp có thể làm mồi cho ngọn lửa như:
Lửa, khí (khói, không khí, v.v.) nóng
Vật nóng
Chạm điện
Từ trường (???)
Hàn xì
Tia lửa do hai vật rắn chạm vào gây ra
v.v
Nên nhớ là các hạt có thể tự cháy nếu nhiệt độ tăng lên [2], [11] và [12] có nêu rất nhiều dữ kiện cho nhiều các hạt khác nhau Bảng 3 và 4 chỉ một vài loại hạt thông dụng, áp suất tối đa (Pmax) và nhiệt độ tối thiểu (Tmin) mà các hạt tự cháy
Bột giấy 5,7 - 9,8 490 - 580
Than bùn (Brown coal) 9,1 420
Bò hóng (trong ống khói) 8,8 - 9,2 760 - 840
Trang 9Bảng 3: Pmax: áp suất tối đa có thể xảy ra khi có hiện tượng nổ;
Tmin: Nhiệt độ tối thiểu mà hạt có thể tự bốc cháy mà không cần các loại mồi khác [2]
Kim loại cũng có thể cháy (Bảng 4)
Kim loại Pmax (bar) Tmin (oC)
Nhôm 10 - 12,5 500 - 650
Kẽm 6,0 - 7,3 570 - 800
Bảng 4: Pmax và Tmin cho một vài loại kim loại tường gặp [2]
Các hạt có thề cháy khi có sự hiện diện của chất oxy hoá như không khí (KK) Nhiều KK hay ít KK quá cũng không thể cháy được Nồng độ của các hạt nếu xảy ra hiện tượng cháy nổ hoàn toàn tùy thuộc vào loại hạt (bột hay than hay kim loại, v.v
Trang 10
10 Cách đề phòng
Cách đề hay nhất là không làm việc với chất có thể cháy Điều này không thể được vì kim loại (hạt nhôm) không cháy nhưng với điều kiện nào đó sẽ cháy được và gây ra hiện tượng nổ con mảnh liệt hơn các hạt cháy được ở điều kiện thường Vài điều sau đây nên lưu ý:
Không để các hạt bụi bám trên tường, ống thông hơi hay ống khói, v.v
vì khi cháy các hạt này sẽ tung lên do sự rối loạn và tham gia phản ứng nổ
Nhiều loại hạt (thí dụ than đá) có chứa nhiều hydrocarbon như CH4,
C2H6, v.v các hydrocarbon này sẽ thoát ra khoảng từ 150 – 300 oC và
nó sẽ dễ cháy và sẽ là vật mồi cho các hạt
Áp suất tối đa khoảng 5 – 10 lần áp suất ban đầu Nếu chúng ta sấy vật liệu ở áp suất cao hơn 1 bar (điều kiện thường) thì hãy thiết kế bình chứa chịu đựng áp suất 10 lần so với áp suất ban đầu
Phải thiết kế lỗ thoát hơi (xem Hình 9) Khi áp suất trong bình quá áp suất mà lỗ thoát hơi được thiết kế, lỗ thoát hơi sẽ tự động mở
Nếu quá trình sản suất quá phức tạp thì phải có cố vấn thêm của người biết về vấn đề này
Hình 9: Bình chứa có lỗ thoát hơi