1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Trịnh Công Sơn (1939–2001) doc

20 224 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 510,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự nghiệp âm nhạc của mình, Trịnh Công Sơn đã sáng tác lượng tác phẩm khá đồ sộ, phần lớn là tình ca, ngoài ra còn khá nhiều ca khúc mang thông điệp phản chiến trong thời kỳ Chiến

Trang 1

Trịnh Công Sơn (1939–2001)

Trịnh Công Sơn (1939–2001) là một nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam, quê làng

Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế Trong sự nghiệp âm nhạc của mình, Trịnh Công Sơn đã sáng tác lượng tác phẩm khá đồ sộ, phần lớn là tình ca, ngoài ra còn khá nhiều ca khúc mang thông điệp phản chiến trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam Ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ

dù không chuyên Xin giới thiệu baì tiểu sử Trịnh Công Sơn trích trong cuốn sách

"Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng" của tác giả Ban Mai, được Nhà xuất bản

Lao Động, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông - Tây xuất bản

Những hẹn hò từ nay khép lại

Thân nhẹ nhàng như mây

Trang 2

Đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời

Như một lời chia tay

("Như một lời chia tay" – Trịnh Công Sơn)

Thời tuổi trẻ

Trịnh Công Sơn sinh ngày 28-2-1939 tại Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong một gia đình gốc Huế Hai năm trước đó, bố mẹ ông lên đây lập nghiệp Năm sau, sinh con trai đầu lòng, không nuôi được Năm tiếp theo, Trịnh Công Sơn chào đời, xem như con trưởng Ông là anh cả của 8 người em trai và gái, người thừa kế quan trọng trong một gia đình trung lưu Cha ông là một doanh nhân yêu nước và tham gia chống Pháp Mẹ ông là một người đàn bà nhân hậu, đảm đang và có cảm nhận nghệ thuật rất tinh tế [44]

Năm 1943, khi ông lên bốn, gia đình về lại Huế, ở tại vùng Bến Ngự, một vùng đất xanh tươi, bên dòng sông An Cựu, nơi có nhiều chùa chiền, lăng tẩm Tiếng chuông chùa và lời cầu kinh thấm vào hồn ông từ tuổi thơ Điều đó giúp chúng ta hiểu vì sao những ca từ của ông về sau mang đậm dấu ấn Thiền, Phật và giàu chất Huế

Khi ông được 8 tuổi, gia đình ông có cửa hàng buôn bán xe đạp và xe máy tại Sài Gòn Ông thường xuyên vào ra Sài Gòn – Huế Lên trung học, Trịnh Công Sơn học ở Huế là trường Lycée Français, rồi đổi sang trường Providence, rồi theo học

Trang 3

ban Triết tại trường Chasseloup-Laubat, Sài Gòn Điều đó chứng tỏ ông là một trong những trí thức thấm nhuần văn hóa Pháp ngay từ khi còn rất trẻ, phần nào lý giải ảnh hưởng nền triết học phương Tây hiện đại, như Albert Camus, J P Sartre , lên cuộc sống tâm thức ông Người có công rất lớn trong việc đem triết học phương Tây hiện đại vào Việt Nam, gây nhiều ấn tượng và ảnh hưởng đối với thanh niên miền Nam Việt Nam những năm 50 là giáo sư Nguyễn Văn Trung du học từ Bỉ về [7; 16-19]

Năm 1955, khi ông 15 tuổi, cha ông bị tai nạn giao thông qua đời Cái chết đột ngột thảm khốc của người cha là cú sốc đầu đời, ám ảnh ông thường trực Từ đấy, ông luôn suy nghĩ về sự sống và cái chết

Có lẽ người ta sẽ ngạc nhiên khi xem ảnh thời thơ ấu của ông Chàng trai vui vẻ và khỏe mạnh giành nhiều giải thưởng thi đấu thể thao (chạy, cử tạ, judo) này là ai vậy? Điều gì sau đó đã đưa ông trở thành một nhà thơ – nhạc sĩ “buồn bã và ốm yếu” trong mắt của nhiều người?

Năm 1957, Trịnh Công Sơn 18 tuổi Một tai nạn bất ngờ đã thay đổi tất cả cuộc đời ông Lúc ấy ông đang học trung học, vào một ngày khi đang tập judo với người em trai, ông bị thương nặng ở ngực, suýt chết và phải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế Không ngờ thời gian nằm dưỡng bệnh này ông có nhiều thì giờ rảnh rỗi, suy nghĩ về kiếp người, cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên Để khuây khỏa nỗi buồn ông đọc ngấu nghiến Apollinaire, Marcel Pagnol, Jacques Prévert,

Trang 4

Rabindranath Tagore, Marcel Proust, Nietzsche, Nikos Kazantzakis, Albert Camus, Jean-Paul Sartre Ông đặc biệt yêu thích những tác phẩm của Albert Camus, Truyện Kiều của Nguyễn Du và triết lý Phật giáo Ông không chỉ tiếp cận với văn học, thi ca mà còn tìm hiểu dân ca Việt Nam, âm nhạc của người da đen: blues, gospel v.v [44] Trịnh Công Sơn quyết định chơi đàn guitare và bắt đầu sáng tác Những ca khúc đầu tiên mang tên Sương đêm và Chơi vơi đều chưa ấn hành [7; 18]

Theo Sâm Thương, ông từng thổ lộ: “Khi rời khỏi giường bệnh, trong tôi đã có một niềm đam mê khác – âm nhạc Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy” [44]

Tai nạn trên là một cái rủi cho ông về thể xác nhưng là một cái may cho nền âm nhạc Việt Nam Nếu như không có khúc quanh bất ngờ này, có lẽ ông đã tiếp tục

Trang 5

chơi thể thao, đi học tiếp và không chừng đã trở thành một ông bác sĩ, hay kỹ sư nào đó và lịch sử âm nhạc Việt Nam sẽ không bao giờ có được một nhạc sĩ tài hoa như thế

Ca khúc được in đầu tiên của Trịnh Công Sơn là bài Ướt mi, sáng tác vào năm

1958 và công bố năm 1959, nói về giọt nước mắt thuần khiết của một người con gái Đó là một cô ca sĩ mới 16 tuổi, xuất hiện về đêm ở phòng trà Văn Cảnh – Sài Gòn, đi hát để nuôi mẹ bị bệnh lao nặng Đêm nào khi hát bài Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong, cô cũng khóc Điều ấy đã gợi nguồn cảm hứng cho ông sáng tác Ướt mi Tác phẩm này cho thấy sự thành công qua số lượng đĩa nhạc bán được Người hát bài này đầu tiên cũng chính là cô ca sĩ ấy - ca sĩ Thanh Thúy – người

mà sau này cũng rất nổi tiếng trong sự nghiệp ca hát trước năm 1975 Nguyễn Văn Trung đã từng viết bài Ảo ảnh Thanh Thúy để ca ngợi giọng ca đầy chất liêu trai của cô [60; 469]

Trang 6

Sau đó, đầu thập niên 60 là thời kỳ Trịnh Công Sơn sáng tác rất nhiều bản nhạc tình và đã trở thành những kiệt tác ca khúc Việt Nam Ở Huế, thời gian này Trịnh Công Sơn lại rung động theo hình ảnh một thiếu nữ mảnh mai: Ngô Vũ Bích Diễm, con của thầy Ngô Đốc Kh dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc Học Huế Ca khúc nổi tiếng Diễm xưa ra đời, một ca khúc đánh dấu đặc biệt trong đời ông và có hậu vận bền lâu Mối tình thơ mộng và ngắn ngủi với Bích Diễm được tiếp nối qua hình ảnh cô em Ngô Vũ Dao Ánh cho đến cuối đời, tuy có nhiều đứt đoạn Với Trịnh, đó là mối tình gắn bó lâu dài vì cả hai đã có chung nhiều kỷ niệm xưa(2)

Những năm 62-64, chiến tranh Việt Nam ngày càng tàn khốc, thanh niên hầu hết đều bị động viên đi lính Để hoãn quân dịch, Trịnh Công Sơn rời Huế thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn, trường mới thành lập và đây là khóa đầu tiên đào tạo giáo sinh thời khóa hai năm Nơi thành phố biển hiền hòa, yên tĩnh này, Trịnh đã sáng tác những tình ca nổi tiếng như Biển nhớ, Nhìn những mùa thu đi, Nắng thủy tinh, Chiều một mình qua phố, Vết lăn trầm, Dã tràng ca, Cát bụi.[28; 33] Những tình ca của Trịnh Công Sơn đã gây kinh ngạc cho mọi người thời đó, khi mà cả miền Nam vẫn còn quen với dòng nhạc tiền chiến sướt mướt với Biệt ly của Doãn Mẫn, Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong, hay Bóng chiều xưa của Dương Thiệu Tước Những hình ảnh của Trịnh Công Sơn mang đậm nét siêu thực, với những

ca từ lạ hóa hình ảnh đời thường, đã đánh thức cả một thế hệ Lạ từ nhan đề tới hình ảnh tân kỳ trong lời ca như: Diễm xưa, Tuổi đá buồn, Lời buồn thánh Rồi

Trang 7

những hình ảnh mắt xanh xao, hồn xanh buốt, hai bàn tay đói, bàn tay chăn gió mưa quả là độc đáo, mang nhiều màu sắc mới lạ, đã gây sự chú ý và liền chinh phục người nghe [46; 125]

Thời "phản chiến"

Năm 1964, sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn, ông được điều lên Bảo Lộc dạy học Thời gian này, cuộc chiến ở Việt Nam đã trở nên ác liệt Năm 1965 quân đội Mỹ bắt đầu rầm rộ đổ bộ lên miền Nam Việt Nam Phong trào đấu tranh của Phật giáo và sinh viên dâng cao

Giai đoạn 1965-1972, “nhạc phản chiến” trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Trịnh Công Sơn Ông bắt đầu sáng tác những bài hát về thân phận con người trong chiến tranh, miêu tả cuộc sống đau đớn, kinh hoàng đầy chết chóc hằng ngày của người dân, từ những người mẹ, người vợ cho đến cụ già, em bé Những bài hát của ông là tiếng kêu than thống thiết của con người trong cuộc chiến Tiêu biểu như Gia tài của mẹ, Hát trên những xác người, Đàn bò vào thành phố, Người già em bé, Người con gái Việt Nam, Tình ca người mất trí Cuối cùng có lệnh tổng động viên toàn quốc, không thể trốn tránh mãi, ông bắt buộc tìm cách làm cho mình không đủ sức khỏe để đi lính Hằng ngày ông phải nhịn ăn, và uống thêm diamox, một thứ thuốc rút bớt nước trong cơ thể làm cho sút ký nhanh,

và ông đã “thành công” khi tự hủy hoại bản thân mình với trọng lượng cơ thể không thể đi lính Trốn lính gần như là một cái “nghề” đầy tính chất phiêu lưu của

Trang 8

thanh niên miền Nam lúc bấy giờ, trong số đó có Trịnh Công Sơn Thái độ trốn tránh ấy, chứng tỏ quyết tâm không tham chiến của ông, ông từ chối chiến tranh

và phản đối nó [60; 180]

Dường như không khí thời đại đã thôi thúc ông trong việc sáng tác, và một gặp gỡ định mệnh giữa ông với ca sĩ Khánh Ly, người thể hiện tuyệt vời những nhạc phẩm của ông, đã làm nên tên tuổi cả hai từ đó

Theo Bửu Ý, vào năm 1965 tại Đà Lạt tình cờ Trịnh Công Sơn nghe Khánh Ly hát trong hộp đêm Tulipe Rouge Ông biết ngay giọng hát của cô ca sĩ này phù hợp với những bản nhạc của mình nên mời cô tham gia Thời gian sau, Khánh Ly rời

Đà Lạt và theo ông xuống Sài Gòn Từ đó cô đã trở thành “Ca sĩ chuyên hát nhạc Trịnh Công Sơn” Hãy nghe ông nói về cuộc gặp gỡ này: “Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly

là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly”.[61; 522]

Trang 9

Vào cuối năm 1966, buổi ra mắt đầu tiên của ông trước công chúng Sài Sòn là khoảnh sân sau Trường Đại học Văn khoa, với hàng ngàn sinh viên và trí thức Bằng chiếc ghi ta thùng đơn giản và giọng ca huyền thoại Khánh Ly, những bài tình tự quê hương và thân phận con người được hát vang lên và làm thức tỉnh, say đắm hàng ngàn khán giả cuồng nhiệt đêm đó

Tác phẩm đã hòa nhập vào công chúng, là tiếng lòng của công chúng

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng và rồi trở thành thần tượng của lớp trẻ lúc bấy giờ

“Trịnh Công Sơn, với dáng người mảnh khảnh, cặp kính trắng trí thức, giọng Huế nhỏ nhẹ, với cuộc sống bất định Đêm đi hát, khuya về kê ghế bố ngủ với bạn bè ở Quán Văn hay Hội Họa Sĩ Trẻ Bên cạnh đó hình ảnh Khánh Ly, khi hát đi chân đất – nữ hoàng chân đất của một thời – giọng hát da diết sương khói diễn tả nỗi trầm thống vô vọng: “tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người” Hai người

đi với nhau tạo nên hình ảnh “đôi lứa”, một đôi trai-gái trong tình bạn hồn nhiên,

Trang 10

trong sáng Tạo thành một đôi bạn trẻ, một couple ở đây rất mới, đáp lại ước mơ hiện đại của một thế hệ thanh niên muốn phá vỡ quan niệm nam nữ thụ thụ bất thân còn đè nặng lên xã hội Việt Nam Trong dư luận, họ cũng không bị nghi ngờ hay tai tiếng, dù người đời có kẻ thắc mắc, tò mò Những tâm hồn phóng khoáng

và “hiện đại” thì gạt phăng đi loại “tò mò bệnh hoạn ấy”.[9] Và đặc biệt, Trịnh Công Sơn là người tăm tiếng mà không tai tiếng Sơn nói: “Tôi và Khánh Ly chỉ là hai người bạn Thương nhau vô cùng, trên tình bạn”.[61; 529] Khánh Ly viết:

“Một mối liên hệ cao hơn, đẹp đẽ hơn, thánh thiện hơn là những tình cảm đời thường”.[61; 112]

Nhưng trên hết, chính hình ảnh Trịnh Công Sơn và Khánh Ly thường đi hát cộng đồng, nghĩa là hát không công, không lấy thù lao, chủ yếu là cho thính giả trẻ, tại các giảng đường, trường học, đã tạo ra một hình ảnh lý tưởng trong nghệ thuật, nhất là nghệ thuật ca hát – mang theo lý tưởng nhân đạo và tình yêu thể hiện sự dấn thân của người nghệ sĩ Trong khi đó, đa số các ca sĩ khác chỉ hát để kiếm tiền Trong một lần trả lời phỏng vấn nhà báo Bùi Văn Phú, Khánh Ly kể lại giai đoạn

cơ cực đói khổ nhưng đầy hạnh phúc những năm 60 ấy: “Thực sự tôi rất mê hát Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn”.[47]

Trang 11

Năm 1969 nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn nổi tiếng khắp thế giới, ông được xem là một Bob Dylan (nhạc sĩ phản chiến số 1 ở Mỹ) của Việt Nam Năm 1970, bài Diễm xưa được vào chung kết cuộc thi các bài hát nước ngoài ở Nhật, bài Ngủ

đi con chiếm “Đĩa vàng” và đã phát hành trên hai triệu đĩa [7; 27]

Trịnh Công Sơn từ đó trở thành thần tượng - Kẻ du ca bất khuất - trên đất nước đầy bom đạn Những sáng tác tiếp theo của ông với những ca từ mạnh mẽ, trong tập Kinh Việt Nam hay Ta phải thấy mặt trời, Nhân danh Việt Nam là tiếng kêu gọi hòa bình và thống nhất đất nước Nhạc phản chiến của ông bị chính phủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cấm phát hành Bản thân ông phải sống trốn tránh Nhưng ông được nhiều trí thức và quần chúng cưu mang Trong đó có đại tá Lưu Kim Cương, một sĩ quan cao cấp trong Không quân miền Nam Việt Nam đã che chở và giúp đỡ ông rất nhiều trong thời gian khốn khó ấy Sau khi đại tá Lưu Kim Cương tử trận, ông viết bài Cho một người nằm xuống để tri ân một người bạn đã từng che chở mình và chính bài hát này về sau là nỗi khổ của ông

Những năm đầu hòa bình

Tháng Tư 1975, chiến tranh chấm dứt, ông là người đầu tiên lên Đài Phát thanh Sài Gòn hát vang bài Nối vòng tay lớn, một bài hát nói lên niềm khao khát hòa bình, thống nhất Ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam-Bắc, được ông viết từ năm 1968

Trang 12

Ngày 30 tháng Tư người thân ông ra đi, bạn bè ông ra đi, Khánh Ly rời đất nước trước ngày Sài Gòn sụp đổ Ông ở lại, bởi vì đó là logic của một con người ước

mơ được nhìn thấy: ngày hòa bình thống nhất trên quê hương

Bàn tay thân ái

Lòng không biên giới

Anh em ơi lắng nghe tình nhau

Ngày vui lớn sẽ qua trăm cầu

Mẹ dâng miếng cau rồi dâng ngọn trầu

Cho hai miền trùng phùng lòng thấy nao nao

Ngày Nam đêm Bắc

Tình chan trong mắt

Sẽ thấy trăm bình minh ngọt ngào

Huế - Sài Gòn - Hà Nội

Tại sao ông ở lại Việt Nam?

Trước ngày 30/4/1975 có nhiều lời mời đưa ông ra nước ngoài của các hãng thông tấn quốc tế Ông nói: “Việt Nam là nơi duy nhất tôi có thể sống và sáng tác Ở

Ngày đăng: 29/07/2014, 19:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Năm 1990, hình như Trịnh Công Sơn cũng có ý định cưới vợ một lần nữa, người  phụ nữ này là V.A, nhưng cuối cùng rồi chuyện cũng không thành, và trong tình  yêu ông  vẫn là chàng lãng tử cô độc  “Từng người tình bỏ ta đi như những  dòng  sông nhỏ”… cho đến - Trịnh Công Sơn (1939–2001) doc
m 1990, hình như Trịnh Công Sơn cũng có ý định cưới vợ một lần nữa, người phụ nữ này là V.A, nhưng cuối cùng rồi chuyện cũng không thành, và trong tình yêu ông vẫn là chàng lãng tử cô độc “Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”… cho đến (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN