1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư liệu Nguyễn Tuân doc

52 156 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư liệu Nguyễn Tuân
Tác giả Nguyễn Tuân
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Tư liệu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 184 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư liệu Nguyễn Tuân Cho đến nay và mãi nhiều năm về sau nữa, chắc chắn không ai nghi ngờ vị trí hàng đầu trong làng văn Việt Nam hiện đại của Nguyễn Tuân.. Bối cảnh xã hội, không khí gia

Trang 1

Tư liệu Nguyễn Tuân

Cho đến nay và mãi nhiều năm về sau nữa, chắc chắn

không ai nghi ngờ vị trí hàng đầu trong làng văn Việt Nam

hiện đại của Nguyễn Tuân "Ông là một trong mấy nhà

nhà văn lớn mở đường, đắp nền cho văn xuôi Việt Nam

thế kỷ XX" (Nguyễn Ðình Thi) Nói đến Nguyễn Tuân là

nói đến một giá trị hiển nhiên, gợi nhắc một vùng trời

riêng, xôn xao thanh âm ngôn ngữ dân tộc Sáng tác của

Trang 2

ông tồn tại vừa như những giá trị thẩm mỹ độc lập vừa gợi

ý, kích thích tìm tòi, sáng tạo nên các giá trị mới

I TIỂU SỬ - CON NGƯỜI - QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT

1) Nguyễn Tuân sinh ngày 10-7-1910 tại phố Hàng Bạc,

Hà Nội Gia đình có truyền thống nho học Nhưng lúc này

nho học đã thất thế, nhường chỗ cho Tây học Cả một thế

hệ vốn gắn bó với cửa Khổng sân Trình bỗng dưng trở

nên lỗi thời trước xã hội giao thời Tây - Tàu nhố nhăng ;

sinh ra tư tưởng bất đắc chí (trong đó có cụ Tú Hải Văn,

Trang 3

thân sinh của Nguyễn Tuân) Bối cảnh xã hội, không khí

gia đình đặc biệt ấy đã ghi lại dấu ấn sâu sắc trong cá

tính, tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của nhà

văn Nguyễn Tuân Là một trí thức giàu tinh thần dân tộc,

Nguyễn Tuân đã phải trải qua những năm tháng vô cùng

khổ sở, có lúc bế tắc, tuyệt vọng

- Năm 1929, bị đuổi học và không được vào làm việc ở

bất cứ công sở nào trên toàn cõi Ðông Dương (vì tham

gia bãi khóa chống giáo viên Pháp nói xấu người Việt

Nam, tại trường trung học Nam Ðịnh) Cùng một nhóm

Trang 4

bạn, vượt biên giới sang Lào; bị bắt ở Thái Lan, đưa về

giam ở Thanh Hóa Hơn một năm sau, ra tù Ði trái phép

vào Sài Gòn, đến Vinh thì bị bắt và bị quản thúc ở Thanh

Hóa Kể từ đây, Nguyễn Tuân lâm vào tình trạng khủng

hoảng tinh thần sâu sắc Ông lao vào con đường ăn chơi

trụy lạc, thành kẻ "đại bất đắc chí", như một người "hư

hỏng hoàn toàn"

- Năm 1938, tham gia vào đoàn làm phim "Cánh đồng

ma", quay tại Hồng Kông

Trang 5

- Từ 1942 đến 1945, ngày càng bế tắc, suy sụp ; đã có ý

định tự sát

* Cách mạng tháng Tám đã cứu sống cuộc đời cũng như

trang viết Nguyễn Tuân Ông hân hoan chào đón cuộc đổi

đời lịch sử, tự "lột xác" và chân thành đứng vào hàng ngũ

nhà văn Cách mạng

- Năm 1950, vào Ðảng Cộng sản Ðông Dương Từ

1948-1958, là tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam

Trang 6

- Luôn hăng hái tham gia vào hai cuộc kháng chiến Tiếp

tục đi nhiều, có mặt ở tuyến lửa ác liệt, dùng văn chương

ngợi ca đất nước và cùng nhân dân đánh giặc

* Nguyễn Tuân mất ngày 28-7-1987 tại Hà Nội

2) Nguyễn Tuân là một trí thức dân tộc rất mực tài hoa,

uyên bác Ông am tường cả Hán học lẫn Tây học, đặc

biệt, có lòng say mê thiết tha đối với tiếng Việt Rất mực

đề cao và chú tâm gìn giữ nhân cách nghệ sĩ, nên Nguyễn

Tuân căm ghét thói xấu xa đê tiện, rởm đời, vô văn hóa

Trang 7

Ðọc văn ông, người đọc không chỉ có khoái cảm thẩm mỹ

từ nghệ thuật ngôn từ mà còn được bồi dưỡng thêm tri

thức về nhạc, họa, điêu khắc, kiến trúc, lịch sử, địa lý,

điện ảnh, Thực tế ấy chứng tỏ Nguyễn Tuân là một tài

năng phong phú, có năng lực ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật

3) Ðời viết văn hơn nửa thế kỷ của Nguyễn Tuân là một

quá trình lao động nghệ thuật thật sự nghiêm túc Về sau,

khi đã ở đỉnh cao nghề nghiệp, ông vẫn không bao giờ tỏ

ra lơi lỏng, hời hợt ; mà ngược lại, luôn nghiêm khắc với

Trang 8

chính mình Ðây là một nhà văn "suốt đời đi tìm cái Ðẹp,

cái Thật" (Nguyễn Ðình Thi), tự nhận mình là người "sinh

ra để thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa"

- Trước Cách mạng tháng Tám, trong bối cảnh nước mất,

xã hội đảo điên "lộn tùng phèo" mọi thứ quan niệm, mọi

giá trị, Nguyễn Tuân đã đứng hẳn về phía dân tộc và

truyền thống dũng cảm chống lại sức công phá của lối

sống xu thời Sáng tác của ông thời kỳ này dồn sức chủ

yếu vào việc phục hiện lại các giá trị văn hóa thuộc lĩnh

vực tinh thần và xã hội Trên trang viết Nguyễn Tuân,

Trang 9

những "vẻ đẹp xưa" chợt sống dậy trong niềm xót xa tiếc

nuối khôn nguôi Dù điều kiện bấy giờ không cho phép

nhà văn bộc lộ trực tiếp tâm sự u hoài đối với dân, với

nước, người đọc vẫn cảm nhận được một tấm lòng chân

thành và rất mực thủy chung Ông đã ghé vai vào chống

chỏi, hàn gắn, sắp xếp lại với kỳ vọng gìn giữ những giá

trị thiêng liêng nhất vốn hun đúc nên quốc hồn, quốc túy

Việt Nam Nếu có thể ví trang sách như tấm lá chắn hữu

hiệu thì nhà văn Nguyễn Tuân - giai đoạn trước 1945 -

chính là người cảm tử quân đang chiến đấu với cái Ác, tử

thủ ở thành trì Chân - Thiện - Mỹ

Trang 10

- Từ sau 1945, Nguyễn Tuân viết đều đặn, càng tỏ ra sâu

sắc trong tư tưởng nghệ thuật Nhà văn có dịp đi nhiều,

vừa đi vừa mở lòng đón nhận bao nhiêu thanh sắc của

cuộc sống mới đang từng giây từng phút sinh sôi Nếu

trước kia chỉ có thể bộc lộ tâm sự yêu nước thương dân

một cách kín đáo, thì giờ đây con người tài hoa uyên bác

ấy như được tháo cũi sổ +++g, phát huy hết mọi sở

trường, cất cao lời ngợi ca đất nước và con người Việt

Nam trong thời đại mới

Trang 11

Nếu trước Cách mạng tháng Tám, quan niệm về cái Ðẹp

của Nguyễn Tuân đậm màu sắc chủ quan, "không bà con

gì với luân lý thời đại" thì giờ đây, đã có sự hài hòa cần

thiết Bởi cái Ðẹp giờ hiện hữu trong thực tại, là đời sống

muôn màu của Nhân Dân ; như có thể cầm lên tay mà

nâng niu ngắm nghía Hoài cổ không còn mang ý nghĩa

níu kéo dĩ vãng mà được nâng lên thành ý thức về sự góp

mặt của dĩ vãng ở hiện tại

II SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC :

* Tác phẩm tiêu biểu :

Trang 12

- Trước 1945 : Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời

(1939), Ngọn đèn dầu lạc (1939), Thiếu quê hương

(1940), Tàn đèn dầu lạc (1941), Chiếc lư đồng mắt cua

(1941), Tùy bút I (1941), Tùy bút II (1943), Tóc Chị Hoài

(1943), Nguyễn (1945)

- Sau 1945 : Chùa Ðàn (1946), Ðường vui (1949), Tình

chiến dịch (1950), Thắng càn (1963), Tùy bút kháng chiến

và hòa bình (Tập I/1955, tập II/1956), Sông Ðà (1960), Hà

Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), Ký (1976), Hương vị và cảnh

Trang 13

sắc đất nước (1978), Tuyển tập Nguyễn Tuân (1994)

1) Nguyễn Tuân có một khoảng thời gian thử bút ở một số

thể loại trước khi dừng lại và tỏa sáng với tùy bút

- Do chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hán học, sáng tác của

ông, cho đến trước năm 1937, hầu hết được viết theo bút

pháp cổ điển Những sáng tác buổi đầu ấy chưa gây được

tiếng vang Tuy nhiên, có thể bắt gặp ở một số trang viết

tiêu biểu như "Giang hồ hành" (thơ), "Vườn xuân lan tạ

chủ" (truyện ngắn) những tín hiệu của một phong cách

Trang 14

nghệ thuật lớn Ðó là tinh thần hoài cựu, luôn chăm chút

nhặt nhạnh những vẻ đẹp xưa dù đã tàn tạ, cuối mùa ; là

hệ thống nhân vật tài hoa tài tử, nhuốm chút ngông

nghênh kiêu bạc ; là lối văn cầu kỳ trúc trắc mà uyên bác

hơn người

- Ðến 1937, Nguyễn Tuân lại xuất hiện trên các báo với

những truyện ngắn hiện thực trào phúng, ở đó thường vỡ

ra những tràng cười châm biếm thoải mái, đậm đà phong

vị dân gian (Ðánh mất ví, Một vụ bắt rượu, Mười năm trời

mới gặp lại cố nhân) Tuy nhiên, do trào lưu hiện thực phê

Trang 15

phán lúc bấy giờ đã phát triển rất mạnh với nhiều tên tuổi

lớn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng,

Nam Cao, cho nên thật không dễ dàng đối với Nguyễn

Tuân trong việc tìm một vị trí có hạng trên văn đàn Vả

chăng, có lẽ hơn ai hết, Nguyễn Tuân sớm nhận ra rằng

thể loại truyện ngắn vẫn chưa phù hợp với sở trường của

mình

- Nguyễn Tuân chỉ thực sự công nhận như một phong

cách văn chương độc đáo kể từ tùy bút - du ký "Một

chuyến đi", năm 1938 Tác phẩm là tập hợp những trang

Trang 16

viết từ chuyến du lịch không mất tiền sang Hương Cảng

để tham gia thực hiện bộ phim "Cánh đồng ma" - một

trong những phim đầu tiên của Việt Nam Nét đặc sắc

nhất ở "Một chuyến đi" chính là giọng điệu Có thể nói đến

đây Nguyễn Tuân mới tìm được cách thể hiện giọng điệu

riêng, một giọng điệu hết sức phóng túng, linh hoạt đến kỳ

ảo : "Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt bông

phèng, khi thì thánh thót trầm bổng, khi thì xô bồ bừa bãi

như là ném ra trong một cơn say chếnh choáng, khinh bạc

đấy, nhưng bao giờ cũng rất đỗi tài hoa" (Nguyễn Ðăng

Mạnh) Nhân vật chính trong tác phẩm là cái "tôi" ngông

Trang 17

nghênh kiêu bạc của nhà văn Một cái "tôi" sau quá nhiều

đắng cay tủi cực đã hầu như hoài nghi tất cả, chỉ còn tin ở

cái vốn tình cảm, ý nghĩ, cảm xúc sắc sảo và tinh tế của

mình tích lũy được trên bước đường xê dịch

- Một năm sau, 1939, bằng tập truyện "Vang bóng một

thời" Nguyễn Tuân đã vươn đến đỉnh cao của sáng tạo

nghệ thuật Tác phẩm gần đạt đến độ "toàn thiện toàn mỹ"

ấy (Vũ Ngọc Phan) góp phần đưa nghệ thuật văn xuôi Việt

Nam phát triển thêm một bước mới trên con đường hiện

đại hóa "Vang bóng một thời" vẽ lại những cái "đẹp xưa"

Trang 18

của thời phong kiến suy tàn, thời có những ông Nghè, ông

Cống, ông Tú thích chơi lan chơi cúc, thích đánh bạc bằng

thơ hoặc nhấm nháp chén trà trong sương sớm với tất cả

nghi lễ thành kính đến thiêng liêng Cũng vào thời ấy, tên

đao phủ còn chém người bằng đao, người ta còn đi lại

trên đường bằng võng, bằng cáng ; vừa đi vừa dềnh dàng

đánh cờ bằng miệng, Thời gian hầu như chưa trở thành

nỗi ám ảnh lớn đối với con người, bởi nó còn được đo

bằng mùa, bằng tiết Nhưng những vẻ đẹp có màu sắc

truyền thống ấy đang có nguy cơ bị mai một Ðau đớn

nhận ra điều đó, Nguyễn Tuân ra sức níu giữ, gom góp và

Trang 19

phục chế lại bằng tất cả tấm lòng thành kính "Vang bóng

một thời", vì thế, có thể được xem như một bảo tàng lưu

giữ các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc

- Từ sau "Vang bóng một thời" đến năm 1945, sáng tác

của Nguyễn Tuân dần đi vào ngõ cụt Nếu như ở "Thiếu

quê hương" (1940), "Chiếc lư đồng mắt cua" (1941) tuy

mải mê với những lạc thú trần tục, cái "tôi" vẫn còn đầy tự

trọng và giữ được ý thức về bản thân mình thì từ 1942,

tình hình có khác đi Vẫn cái "tôi" ấy nhưng đã có vẻ mất

tự tin và niềm tin vào cuộc sống Trong những năm đen tối

Trang 20

này, đời sống tinh thần của Nguyễn Tuân lâm vào tình

trạng ngày càng khủng hoảng sâu sắc Những trang viết

thưa dần Bên cạnh những đề tài cũ (vẻ đẹp xưa, đời

sống trụy lạc), xuất hiện thêm các đề tài mới hướng về thế

giới của yêu tinh, ma quỷ Ngay tiêu đề các tác phẩm :

"Xác ngọc lam", "Ðới roi", "Rượu bệnh", "Loạn âm" cũng

đủ nói lên tình trạng bế tắc của ngòi bút Nguyễn Tuân thời

kỳ này

* Dõi theo quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân giai đoạn

trước Cách mạng tháng Tám, thật dễ nhận ra sự thay đổi

Trang 21

rõ rệt về tư tưởng nghệ thuật, nhất là từ "Vang bóng một

thời" trở về sau Ðiều này hoàn toàn có thể lý giải được

nếu nhìn vào quy luật của chủ nghĩa lãng mạn : bao giờ

cũng khởi đầu thật ấn tượng bằng việc khám phá và đề

cao cái "tôi" cá nhân, để rồi sau giây phút choáng ngợp ấy

tất cả vụt trở nên nhỏ nhoi, trống vắng và buồn chán đến

nao lòng Dẫu sao, những trang viết của Nguyễn Tuân

vẫn luôn được đón nhận bằng thái độ trân trọng và thông

cảm sâu sắc; bởi độc giả nhận ra ở đấy một tấm lòng

chân thành, cả trong những thời điểm khắc nghiệt nhất

Trang 22

2) Những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, ngoài một

vài tùy bút ngắn ghi lại tâm trạng vừa hoang mang vừa

đầy ắp hy vọng của một trí thức tự "lột xác" để dấn thân

vào cuộc đời mới (Vô đề, Ngày đầy tuổi tôi Cách Mệnh),

Nguyễn Tuân còn có "Chùa Ðàn" - một tác phẩm được

viết khá công phu và đầy tâm huyết "Chùa Ðàn" là truyện

về một nhân vật mắc căn bệnh cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ

đến tàn nhẫn ; nhưng từ sau 1945, như được uống liều

thuốc cải lão hoàn đồng, tự cải tạo vươn lên thành con

người mới, sống chan hòa với xung quanh Có nhiều ý

kiến đánh giá chưa thật thống nhất đối với tác phẩm này

Trang 23

Mới đọc qua, dễ có ấn tượng về một quá trình đổi thay có

vẻ giản đơn, công thức Nhưng nếu xem xét tác phẩm

trong cả quá trình sáng tác của nhà văn thì không thể

không công nhận "Chùa Ðàn" là một cố gắng đáng trân

trọng

- Tiếp theo, hai tập tùy bút : "Ðường vui" (1949) và "Tình

chiến dịch" (1950) - ghi nhận chuyển biến thật sự sâu sắc

của ngòi bút Nguyễn Tuân Ðáp lời kêu gọi của Ðảng,

Nguyễn Tuân hăng hái xốc ba lô lên vai dấn thân khắp

các nẻo đường chiến dịch Cái "tôi" giờ đây không còn

Trang 24

phá phách, ngông nghênh nữa mà rưng rưng hòa nhập,

sẻ chia với đồng bào đồng chí Giọng điệu văn chương trở

nên sôi nổi tin yêu, tràn ngập một tình cảm chân thành

đến hồn nhiên đối với quê hương đất nước, với Cách

mạng và kháng chiến Ngỡ như sau phút dừng chân bên

đường để định phương hướng, Nguyễn Tuân lại tiếp tục

bôn ba trên hành trình đi tìm cái Ðẹp, cái Thật Có điều

khác là những giá trị ấy giờ đây không phải mất công tìm

kiếm ở cõi quá vãng hoặc vô hình nào mà hiện hữu ngay

trong cuộc đời thực đang từng giây từng phút sinh sôi

cuồn cuộn trước mắt Nguyễn Tuân như chuếnh choáng

Trang 25

say sưa trước niềm hạnh phúc vô biên ấy Ông vốc từng

vốc lớn chất liệu hiện thực và bày biện một cách hết sức

tài hoa, tinh vi lên trang viết để thết đãi cả nhân dân mình

Hàng loạt tùy bút đặc sắc ra đời trong mạch cảm hứng ấy

: "Phở", "Cây Hà Nội", "Con rùa thủ đô", "Tìm hiểu Sê

Khốp",

- "Sông Ðà", viết từ 1958 đến 1960, là cái mốc quan trọng,

đỉnh cao mới trong sáng tác của Nguyễn Tuân từ sau

Cách mạng tháng Tám Tác phẩm như một dòng thác lớn

thanh âm ngôn ngữ, cảm xúc, tư tưởng được khơi đúng

Trang 26

nguồn mạch chính, hệt con sông Ðà "hung bạo và trữ

tình", chảy băng băng qua vùng Tây Bắc hùng vĩ và ngạo

nghễ với thời gian Ðọc "Sông Ðà", thấy trữ lượng cái Ðẹp

- chất "vàng mười" của đất nước và con người Việt Nam

trong cuộc sống mới - quả là nhiều vô kể Cánh cửa tâm

hồn tài hoa, lãng tử của Nguyễn Tuân như mở toang ra

cho cái Ðẹp ùa vào :

"Ðời sống Tây Bắc ngày nay là một tấm lòng tin tưởng

không bờ bến, tin mình tin người, mấy chục dân tộc miền

cao và đồng bằng tin cậy lẫn nhau, và nhất là tin chắc vào

Trang 27

cái chế độ đẹp sáng do tay mình đắp cao mãi lên trên chỗ

cao nguyên tiềm tàng sức sống này"

- Từ sau "Sông Ðà", Nguyễn Tuân tiếp tục đi và viết nhiều,

chủ yếu vẫn ở thể tùy bút, được tập trung in trong các tác

phẩm tiêu biểu : "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" (1972), "Ký"

(1976), "Hương vị và cảnh sắc đất nước" (1978) Nhìn

chung, sáng tác thời kỳ này có thể phân thành hai mảng

chính : mảng thứ nhất viết về tình cảm Bắc - Nam và đấu

tranh chống Mỹ - Ngụy chia cắt đất nước ; mảng thứ hai

tiếp tục khai thác vẻ đẹp của đất nước và con người Việt

Trang 28

Nam, của truyền thống văn hóa Việt Nam trong thời đại

mới Công cuộc chống Mỹ đã đưa dân tộc ta lên tầm cao

của thời đại mới Tinh thần quyết thắng từ tầm cao lịch sử

ấy là âm hưởng chung của văn học thời kỳ này Tuy

nhiên, Nguyễn Tuân đã thể hiện tinh thần ấy theo một

cách riêng Dưới ngòi bút của ông, người Việt Nam vừa

đánh Mỹ vừa sản xuất trong tư thế ung dung, sang trọng

và đầy tài hoa ; tư thế của một dân tộc không chỉ giành

được chính nghĩa trong chiến đấu giữ nước mà còn có bề

dày truyền thống văn hóa lâu đời Nhiều bài ký khiến

người đọc phải ngỡ ngàng trước một sức bút kỳ lạ với vốn

Ngày đăng: 28/07/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w