HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ YẾN NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC BÓN PHÂN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY LẠC TẠI YÊN DŨNG –
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ YẾN
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC BÓN PHÂN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY LẠC TẠI YÊN DŨNG – BẮC GIANG
Giảng viên hướng dẫn khoa học: TS Vũ Đình Chính
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, Ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
TS Vũ Đình Chính, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin được chân thành cảm ơn các thầy tập thể các thầy cô giáo bộ môn Cây Công nghiệp, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, luôn giúp đỡ và
có những góp ý sâu sắc trong thời gian tôi học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, Ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Yến
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục .iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 3
2.1.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 6
2.2 Tình hình sản xuất lạc của tỉnh Bắc Giang 10
2.3 Một số nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và ở Việt Nam 13
2.2.1 Một số nghiên cứu về cây lạc trên Thế giới 13
2.2.2 Một số nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam 20
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Địa điểm nghiên cứu 28
3.2 Thời gian nghiên cứu 28
3.3 Đối tượng/vật liệu nghiên cứu 28
3.4 Nội dung nghiên cứu 29
3.5 Phương pháp nghiên cứu 30
3.5.1 Thí nghiệm 1 30
3.5.2 Thí nghiệm 2 30
3.6 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm 31
Trang 63.6.1 Thời vụ và mật độ 31
3.6.2 Phương pháp bón phân 31
3.6.3 Chăm sóc 32
3.7 các chỉ tiêu theo dõi 32
3.7.1 Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng, phát triển 32
3.7.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 33
3.7.3 Mức độ nhiễm sâu bệnh 34
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 34
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 35
4.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống lạc trong vụ xuân 2018 35
4.1.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống lạc ở vụ xuân 2018 tại Yên Dũng- Bắc Giang 35
4.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc 38
4.1.3 Một số đặc điểm sinh trưởng chủ yếu của các giống lạc 39
4.1.4 Chỉ số diện tích lá của các giống lạc 41
4.1.5 Khả năng tích lũy chất khô của các giống 43
4.1.6 Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của các giống lạc 44
4.1.7 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống lạc 46
4.1.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc 47
4.1.9 Năng suất của các giống lạc 49
4.2 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của các giống lạc l14 và md7 trong điều kiện vụ xuân năm 2018 tại Yên Dũng, Bắc Giang 51
4.2.1 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến thời gian và tỷ lệ mọc mầm của hai giống lạc L14 và MD7 51
4.2.2 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến thời gian sinh trưởng của hai giống lạc L14 và MD7 52
4.2.3 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến động thái thăng trưởng chiều cao thân chính 53
4.2.4 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến một số đặc điểm sinh trưởng của 2 giống lạc L14 và MD7 54
4.2.5 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến chỉ số diện tích lá 56
Trang 74.2.6 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến khả năng tích lũy chất khô
của 2 giống lạc L14 và MD7 58
4.2.7 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến số lượng nốt sần hữu hiệu và khối lượng nốt sần của hai giống lạc L14 và MD7 60
4.2.8 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ tới mức độ nhiễm sâu bệnh hại 61
4.2.9 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất 2 giống lạc L14 và MD7 63
4.2.10 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến năng suất 65
4.2.11 Ảnh hưởng của các công thức phân bón tới lãi thuần của hai giống lạc L14 và MD7 67
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 70
5.1 Kết luận thực hiện đề tài 70
5.2 Kiến nghị 71
Tài liệu tham khảo 72
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc toàn thế giới trong những năm
gần đây 4
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất sản lượng lạc của một số nước sản xuất lạc chủ yếu trên thế giới trong những năm gần đây 5
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất lạc của Việt Nam trong một số năm gần đây 8
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh Bắc Giang 12
Bảng 4.1 Tỷ lệ mọc mầm và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các giống lạc ở vụ xuân 2018 tại Yên Dũng- Bắc Giang 36
Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc 39
Bảng 4.3 Một số đặc điểm sinh trưởng chủ yếu của các giống lạc 40
Bảng 4.4 Diện tích lá (DTL) và chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống 41
Bảng 4.5 Khả năng tích lũy chất khô của các giống 43
Bảng 4.6 Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của các giống lạc 45
Bảng 4.7 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống lạc 46
Bảng 4.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc 48
Bảng 4.9 Năng suất của các giống lạc 50
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến thời gian và tỷ lệ mọc mầm của hai giống lạc L14 và MD7 52
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến thời gian sinh trưởng của hai giống lạc L14 và MD7 53
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của hai giống lạc L14 và MD7 54
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến một số đặc điểm sinh trưởng chủ yếu của các giống lạc L14 và MD7 55
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến chỉ số diện tích lá hai giống lạc L14 và MD7 57
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến khả năng tích lũy chất khô của 2 giống lạc L14 và MD7 59
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến số lượng nốt sần hữu hiệu và khối lượng nốt sần của hai giống lạc L14 và MD7 60
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ tới mức độ nhiễm sâu bệnh hại 62
Trang 10Bảng 4.18 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến các yếu tố cấu thành
năng suất của hai giống lạc L14 và MD7 63 Bảng 4.19 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến năng suất của hai giống
lạc L14 và MD7 66 Bảng 4.20 Ảnh hưởng của các công thức phân bón tới lãi thuần của hai giống lạc
L14 và MD7 68
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống lạc 50 Hình 4.2 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống lạc ở các mức
phân bón khác nhau 67
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Thị Yến
Tên luận văn: “Nghiên cứu xác định giống và ảnh hưởng của một số công thức bón phân
bón hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây lạc tại Yên Dũng - Bắc Giang”
- Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất một số giống lạc tại huyện Yên Dũng, Bắc Giang
- Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức bón phân hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đối với hai giống lạc L14 và MD7
Phương pháp nghiên cứu
- Bố trí thí nghiệm Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của 07 giống lạc tại Yên Dũng, Bắc Giang theo phương pháp thí nghiệm đồng ruộng chuẩn RCB
- Bố trí thí nghiệm Nghiên cứu ảnh hưởng của 04 loại phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của 02 giống lạc L14 và MD7 theo ô lớn, ô nhỏ Slip - plot Nhân tố chính là liều lượng phân bón hữu cơ (bố trí trên ô nhỏ), nhân tố phụ là giống (bố trí trên ô lớn)
- Số liệu được xử lý theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) bằng phần mềm IRISTAT 5.0 và Excel
Trang 13THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Thi Yen
Thesis title: “Evaluation of groundnut varieties and yield of organic fertilizers on the
growth, development and yield of groundnuts at Yen Dung district - Bac Giang province”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
Study on this topic to identify some peanut varieties for high productivity and suitable microorganic fertilizer application in spring conditions in Yen Dung district, Bac Giang province
Monitoring the growth, development and productivity of some Arachishypogaea varieties in Yen Dung district, Bac Giang province
Research on the effect of organic fertilizer formula on growth, development and productivity of two varieties, L14 and MD7
Materials and Methods
Experimental design to study the growth and development of 07 varieties of hypogaea varieties in Yen Dung district, Bacgiang province, according to RCB field experiment
Experimental design: To study the effect of 04 organic fertilizers on the growth, development and productivity of two varieties of L14 and MD7 in slip-plot The main factor is the rate of organic fertilizer ( in the small slip)
The data is analyzed by ANOVA using IRISTAT 5.0 and Excel
Main findings and conclusions
It is recommended to expand the varieties of potential L26, MD7 with the ecology and land conditions of Yen Dung district, during the spring season,
It is recommended toapply 1.5 tons of Que Lam organic fertilizer/ha 30 kg N + 90
kg P2O5 + 60 kg K2O + 500 kg lime powder is the most suitable for L14 and MD7
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây Lạc (Arachis hypogaea.L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực
phẩm có giá trị kinh tế cao và ngày càng được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc gia cầm và là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến Trong hạt lạc chứa khoảng 50% lipit, 22 - 25% protein, đồng thời chứa đến 8 axit amin không thay thế và nhiều loại vitamin khác nên lạc có khả năng cung cấp năng lượng rất lớn Ngoài ra, hạt lạc còn có nhiều loại vitamin như PP, B, E, F, đặc biệt là vitamin B1, B2 và B3
Lạc là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây trồng cải tạo đất rất tốt do hoạt động cố
định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium vigna cộng sinh trên rễ cây họ đậu Các
nghiên cứu cho thấy, sau mỗt vụ trồng lạc đã cố định và bổ sung vào đất từ 60 -
80 kg N/ha, tương đương 300 - 400 kg đạm Sulphát
Mặc dù canh tác 2.500- 2.700ha lạc/năm (vụ thu đông đạt 700- 1.000ha) nhưng năng suất lạc ở Bắc Giang thấp, chất lượng không đồng đều Nguyên nhân
là do bà con sử dụng giống cũ, kỹ thuật canh tác lạc hậu Để giúp bà con lựa chọn bộ giống tốt, cho năng suất cao thì công tác chọn tạo giống lạc cần chọn ra những giống lạc có năng suất cao, phẩm chất, khả năng chống chịu tốt, thâm canh và cơ giới hóa cao
Theo các nghiên cứu của các nhà khoa học khẳng định nguyên nhân quan trọng nhât làm hạn chế năng suất lạc là chưa áp dụng đồng bộ biện pháp kĩ thuật
và chưa khai thác, tận dụng hết tiềm năng để tăng năng suất và sản lượng lạc Hiện này có rất nhiều giống lạc khác nhau nên việc nghiên cứu, chọn tạo tìm ra giống có năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt, phù hợp điều kiện sinh thái ở địa phương là việc cấp bách trong sản suất hiện này
Ngoài ra, phân bón là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng, trong đó phân bón hữu cơ vi sinh đang được ưu tiên lựa chọn trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay Do có đặc tính ưu Việt của phân bón hữu cơ vi sinh cung cấp mùn hữu cơ đã được hoạt hóa, các chất cần thiết cho cây
Trang 16trồng, bổ sung vào đất các chủng vi sinh vật hữu ích giúp cải tạo và tăng độ phì nhiêu cho đất làm cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, bảo vệ môi trường, tăng hiệu suất hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng nhờ hàm lượng chất hữu cơ cao và đặc tính ổn định pH trung tính Có thể thay thế hoàn toàn phân chuồng, không lo ngại các mầm bệnh và tác nhân làm chua đất như khi phân chuồng chưa hoai
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu xác định giống và ảnh hưởng của một số công thức bón phân hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây lạc tại Yên Dũng – Bắc Giang” 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đề tài nhằm xác định được một số giống lạc cho năng suất cao
và công thức bón hữu cơ Vi sinh phù hợp trong điều kiện vụ xuân tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đề tài tập trung nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của
các giống lạc: L14, L08, L15, L18, L26, L27, MD7 trong điều kiện vụ xuân tại
xã Tiến Dũng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Đề tài thực hiện trên 04 loại phân hữu cơ: phân bón hữu cơ vi sinh Sông Gianh, phân bón hữu cơ sinh học Quế Lâm, phân bón hữu cơ vi sinh Nasa Smart, phân bón hữu cơ vi sinh Divital- germany đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lạc L14 và MD7 trong điều kiện vụ xuân năm 2018 tại xã Tiến Dũng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần tuyển chọn một số giống lạc và công thức bón phân hữu cơ phù hợp cho năng suất cao trong điều kiện vụ xuân tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ bổ sung thêm những tài liệu khoa học về cây lạc phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu chỉ đạo sản xuất tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nói riêng và vùng Đồng Bằng Sông Hồng nói chung
- Bổ sung giống lạc mới cho địa phương, góp phần làm tăng năng suất lạc đồng thời nang cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho người dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LẠC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.1.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn
ngày Mặc dù đã có từ rất lâu đời nhưng vai trò kinh tế của lạc chỉ được xác định trên 100 năm trở lại đây Trên thế giới, hiện nay nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng và đang khuyến khích nhiều nước đầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng, không chỉ về diện tích sản xuất mà năng suất và sản lượng lạc của thế giới cũng ngày càng được cải thiện so với trước đây Khi công nghiệp ép dầu lạc được phát triển ở Pháp (xưởng ép dầu ở Max xây) bắt đầu nhập cảng lạc từ Tây Phi để ép dầu, mở đầu thời kỳ dùng lạc đầu tiên trên quy
mô lớn Công nghiệp ép dầu được xây dựng với tốc độ nhanh ở các nước Châu
Âu và trên toàn thế giới
Trên thế giới, lạc được phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, trong khoảng 400 Bắc đến 400 Nam (Vũ Công Hậu và cs., 1995) Diện tích, năng suất, sản lượng lạc giữa các khu vực có sự biến động đáng kể Nhiều khu vực có diện tích trồng lạc lớn song năng suất lại tương đối thấp như ở châu Phi diện tích trồng lạc vào khoảng 6,4 triệu ha nhưng năng suất chỉ đạt 7,8 tạ/ha
Theo thống kê của FAO, tình hình sản xuất lạc của thế giới những năm qua biến động không nhiều Diện tích trồng lạc của thế giới từ năm 2006 – 2016 tăng từ 21,52 đến 27,66 triệu ha và đang có xu hướng tăng lên dần đều Nhờ áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nên năng suất lạc ngày càng tăng Năm 2006 năng suất bình quân trên thế giới đạt 15,89 tạ/ha, năm 2007 năng suất đạt 16,38 tạ/ha, từ năm 2008 đến 2010 năng suất lạc có giảm nhẹ, năm 2013 năng suất đạt cao nhất 17,77 tạ/ha Do diện tích trồng lạc tăng nên sản lượng lạc của thế giới tăng từ 33,30 triệu tấn đến 43,98 triệu tấn Số liệu thống kê thể hiện
ở bảng 2.1
Qua bảng số liệu cho thấy diện tích trồng lạc trong những năm gần đây có
sự biến động từ 21,52 triệu ha năm 2006 đến 27,66 triệu ha năm 2016, đang có
xu hướng tăng dần đều Năng suất của cây lạc cũng không ngừng được tăng lên
từ 15,49 tạ/ha vào năm 2009 lên 17,77 tạ/ha vào năm 2013 sau đó sụt giảm xuống còn 15,91 tạ/ha năm 2016
Trang 18Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc toàn thế giới
trong những năm gần đây
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Qua nghiên cứu tình hình sản xuất lạc trên thế giới cho thấy, sản lượng lạc được sản xuất ra hàng năm, phải kể đến: Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria, Mỹ, Indonesia, Myanma và Senegal…
Vào những năm 90 ở Trung Quốc nhờ có bước nhảy vọt về chọn tạo giống và kỹ thuật trồng trọt, năng suất lạc đã tăng rất nhanh so với thập kỉ 80
và là quốc gia đứng thứ 2 sau Ấn Độ về diện tích (3,7 - 5,1 triệu ha) Theo Duan Sufen (1998), Nước chiếm năng suất và sản lượng lạc lớn nhất so với thế giới là Trung Quốc với 16,68 triệu tấn (2016) chiếm tới 37,92% tổng sản lượng lạc của thế giới Ở Trung Quốc hầu hết các sản phẩm từ lạc được tiêu thụ trong nước là chính, lượng lạc tiêu thụ của Trung Quốc chiếm hơn một nửa lượng lạc của thế giới, tiêu dùng các sản phẩm chế biến từ lạc như: rang, muối
Trang 19và đóng gói tăng Trong khi, để hạn chế nhập khẩu dầu ăn, lượng lạc đã được dùng làm dầu ăn tăng lên Ở Trung Quốc có hơn 200 giống có năng suất cao
đã được phát triển và phổ biến cho sản xuất từ những năm cuối của thập kỷ 50 của thế kỷ 20 Kết quả ghi nhận là các giống lạc được trồng ở tất cả các vùng đạt tới 5,46 triệu ha Trong số đó những giống có năng suất cao là Haihua1, Xuzhou 68-4, Hua 37, Luhua 9,11,14 và 8130, tiềm năng năng suất của mỗi giống tới 7,5 tấn/ha (Duan Shufen, 1998)
Đứng đầu diện tích trồng lạc trên thế giới là quốc gia Ấn Độ có diện tích với 5,80 triệu ha (2016) chiếm 20,96% so với tổng diện tích của thế giới Do lạc chủ yếu được trồng ở những vùng khô hạn và bán khô hạn nên năng suất lạc rất thấp, thấp hơn năng suất trung bình của thế giới Năng suất lạc của Ấn Độ chỉ đạt khoảng trên 11 tạ/ha, bằng 1/3 năng suất của Mỹ và Trung Quốc
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất sản lượng lạc của một số nước sản xuất lạc chủ
yếu trên thế giới trong những năm gần đây
Quốc gia
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Mỹ 0,53 44,97 2,53 0,63 44,42 2,81 0,62 41,18 2,57 Nigeria 2,77 12,32 3,41 2,80 12,37 3,46 2,68 11,30 3,02
Ấn Độ 4,69 14,00 6,56 4,56 14,84 6,77 5,80 11,82 6,85 Trung Quốc 4,62 35,78 16,55 4,63 35,58 16,49 4,54 36,71 16,68 Thế giới 26,54 16,54 43,91 26,89 16,82 45,07 27,66 15,90 43,98
Trang 20nhiều nhất thế giới với khoảng 200.000 - 250.000 tấn/năm Canada, Mexico, EU
và Nhật nhập khẩu tới 80% lượng lạc xuất khẩu của Mỹ
Nước có diện tích trồng lạc lớn thứ 3 thế giới là Nigeria với 2,68 triệu ha chiếm 6,86% diện tích trồng lạc của thế giới, nhưng có năng suất đạt 11,30 tạ/ha thấp hơn năng suất trung bình của thế giới là 4,22 tạ/ha, do đó có sản lượng chỉ đạt hơn 3 triệu tấn chiếm 7,76% tổng sản lượng của thế giới
Ở Đông Nam Á chỉ có 3 nước là Thái Lan, Việt Nam và Indonexia là xuất khẩu lạc, trong đó Việt Nam là nước có sản lượng lạc xuất khẩu lớn nhất với 33,0 nghìn tấn (chiếm 45,13% lượng lạc xuất khẩu trong khu vực)
Ngoài các nước trên, cây lạc còn được trồng ở nhiều nước khác trên thế giới như Achentina, Indonesia, Hàn Quốc, Senegan, Braxin, Isaren,
Cùng với việc gia tăng về diện tích, năng suất và sản lượng lạc, thị trường tiêu thụ lạc cũng diễn ra rất sôi nổi, lượng lạc xuất khẩu trên thế giới không ngừng tăng lên Các nước xuất khẩu lạc nhiều trên thế giới đó là: Hoa Kỳ, Argentina, Sudan, Senegal và Brazil chiếm đến 71% tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới Trong những năm gần đây, Hoa Kỳ là nước xuất khẩu lạc hàng đầu Argentina là nước đứng thứ 2 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu 36,2 nghìn tấn, chiếm 12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới Lạc được sử dụng với mục đích làm thực phẩm và chế biến dầu là chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng cho mốt số mục đích khác như làm thức ăn chăn nuôi và làm bánh kẹo
Những thông tin trên cho thấy, tất cả các nước đã thành công trong phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lạc, đều rất chú ý đầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và công nghệ mới vào sản xuất, trên đồng ruộng của nông dân Chiến lược này đã được áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới và đã trở thành bài học kinh nghiệm sâu sắc trong phát triển sản xuất lạc của thế giới
2.1.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Cây lạc đã được nhân dân ta trồng từ lâu đời và đã trở thành thực phẩm thông dụng trong bữa ăn hàng ngày của người dân, vì vậy cây lạc đang được trồng trên hầu hết các vùng sinh thái của nước ta, cây lạc nhờ ưu thế về khả năng thích nghi rộng, yêu cầu kỹ thuật canh tác và đầu tư không quá cao, giá trị và thị trường khá ổn định, có nhiều giống lạc có tiềm năng xuất cao nên đã có một vai trò quan trọng trong định hướng phát triển sản xuất hàng hoá của các vùng sản
Trang 21xuất Diện tích lạc chiếm khoảng 28% tổng diện tích gieo trồng các cây công nghiệp ngắn ngày (Nguyễn Thị Chinh, 2005) và có xu hướng giảm qua các năm trong từ năm 2008 – 2016
Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kĩ thuật trồng lạc ở nước ta đã được quan tâm hơn trước Các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước và cấp ngành, các dự án trong nước và quốc tế về nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trên cây lạc đã được triển khai thu hút sự tham gia của một đội ngũ đông đảo các cán bộ nghiên cứu khuyến nông trong cả nước Việt Nam cử cán bộ nghiên cứu và khuyến nông đi đào tạo nâng cao trình độ đồng thời tiếp cận được với các thành tựu mới và học hỏi, trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu, phát triển sản xuất lạc trên thế giới và các nước trong khu vực
Số liệu của Tổng cục Thống kê cho biết, hiện diện tích trồng đậu phộng trên
cả nước vào khoảng 200.000 héc ta, năng suất trung bình là 22,6 tạ/héc ta; trong khi, thời điểm năm 2000, diện tích trồng đậu phộng đã gần 245.000 héc ta Hiện tại cả nước có 53 địa phương trồng đậu phộng, trong đó những tỉnh có diện tích trồng lớn nhất là Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa (Ngọc Hùng, 2017)
Theo Ngô Thế Dân và cs (2000), sự biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1970 đến 1998 chia làm 4 giai đoạn:
Từ năm 1975 - 1979: Giai đoạn này diện tích gieo trồng có xu thế giảm từ 97,1 ngàn ha (1976), xuống còn 91,8 ngàn ha (1979), năng suất thường không ổn định, năm cao, năm thấp và chưa đều giữa các vùng và các địa phương trong nước, năm
1976 năng suất đạt 10,3 tạ/ha, đến năm 1979 chỉ còn 8,8 tạ/ha, giảm 5,0%
Từ năm 1980 - 1987: Thời kỳ này diện tích trồng lạc tăng nhanh, từ 91,8 ngàn ha năm 1979 lên 237,8 ngàn ha (1987) Tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 5,6% năm đến 24,8% năm Diện tích năm 1987 tăng gấp 2 lần so với năm 1980
và sản lượng tăng 2,3 lần Mặc dù diện tích gieo trồng tăng lên nhanh chóng, nhưng năng suất không tăng, chỉ dao động từ 8,8 - 9,7 tạ/ha, sản xuất lạc lúc này còn mang tính quảng canh truyền thống
Từ năm 1988 - 1993: Trong ba năm đầu diện tích trồng lạc giảm từ 237,8 ngàn ha (1987) xuống còn 201,4 ngàn ha (1990) giảm với tốc độ 2,0% năm và sau đó phục hồi trở lại Năng suất lạc tăng nhanh từ năm 1990 đến nay, công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc ở nước ta đã được quan tâm hơn trước (Nguyễn Thị Chinh, 2005)
Trang 22Từ năm 1994 - 1998: Lạc đang là một trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng của nước ta Ngoài ra lạc còn được dùng làm thực phẩm ở nhiều dạng khác nhau, vì vậy sản xuất lạc ở nước ta trong những năm gần đây ngày càng tăng Giai đoạn này diện tích trồng lạc năm 1998 tăng 8% so với 1994 và sản lượng tăng (25%) Tốc độ tăng trưởng chủ yếu là do sự tăng trưởng về năng suất Do chúng ta đã tiếp cận được với thị trường quốc tế và nhu cầu cho chế biến trong nước cũng tăng lên
Trong những năm gần đây, nhà nước ta có chủ trương phát triển mạnh cây lạc, cho nên diện tích trồng lạc tăng lên đáng kể Quá trình phát triển sản xuất lạc
ở nước ta trong giai đoạn từ năm 2008 – 2016 được thể hiện qua bảng 2.3
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất lạc của Việt Nam trong một số năm gần đây
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
2008
2009
256,0 249,2
20,90 21,10
533,9 525,1
2011
2012
223,7 220,5
20,94 21,34
468,4 470,5
2008 đạt 20,90 tạ/ha lên 23,11 tạ/ha vào năm 2016 Do chúng ta đã tiếp cận và áp dụng biện pháp khoa học kĩ thuật mới
Năng suất lạc nước ta cũng không ổn định, một phần do điều kiện canh tác, khí hậu và một phần do giống sử dụng Tuy nhiên trong những năm gần đây năng suất lạc bình quân của Việt Nam đã tăng đáng kể (từ 20,9 tạ/ha lên 23,11 tạ/ha) Nguyên nhân chính khiến cho năng suất lạc không ngừng
Trang 23tăng lên là nhờ đã chọn và nhập nội những giống lạc mới có năng suất cao, khả năng chống chịu với sâu, bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh khá đang dần thay thế các giống địa phương có năng suất thấp Mặt khác, do chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhiều diện tích đất nông nghiệp đang dần bị thu hồi chuyển sang phát triển công nghiệp nên diện tích trồng cây nông nghiệp nói chung
và trồng cây lạc nói riêng đang dần bị thu hẹp Do vậy muốn tăng sản lượng lạc để đáp ứng nhu cầu ngày cang cao của con người, thì việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới kết hợp với thâm canh cao là một việc hết sức quan trọng và bức thiết hiện nay
Hiện nay, lạc đang được trồng ở hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam, tuy nhiên có 6 vùng sản xuất chính như sau:
+ Vùng đồng bằng sông Hồng: lạc được trồng chủ yếu ở Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Ninh với diện tích 31,3 nghìn ha, (chiếm 12,56% diện tích trồng lạc của cả nước), năng suất trung bình đạt 2,3 tấn/ha, sản lượng đạt 72,8 nghìn tấn (chiếm 13,86% sản lượng lạc toàn quốc)
+ Vùng trung du và miền núi phía Bắc: đây là vùng có diện tích cũng như sản lượng đứng thứ 2 của cả nước Lạc được trồng chủ yếu ở Hà Giang, Phú Thọ, Hoà Bình, Tuyên Quang với tổng diện tích 50,6 nghìn ha, chiếm 26,54% và sản lượng 102,2 nghìn tấn, chiếm 23,02% sản lượng của cả nước
+ Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung lạc được trồng chủ yếu ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Thanh Hoá, Bình Định, Quảng Trị, Thừa thiên Huế với diện tích 108,2 nghìn ha, (chiếm 43,42% diện tích trồng lạc của cả nước), năng suất trung bình đạt 1,9 tấn/ha, sản lượng đạt 210,4 nghìn tấn (chiếm 40,07% sản lượng lạc toàn quốc), trong đó Nghệ An có diện tích cao nhất (15,7 nghìn ha)
+ Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long: Tuy lạc được trồng chủ yếu ở các tỉnh Long An, Trà Vinh với diện tích 12,5 nghìn ha, (chiếm 5,01% diện tích trồng lạc của cả nước), năng suất trung bình đạt 3,3 tấn/ha, sản lượng đạt 41,4 nghìn tấn (chiếm 7,88% sản lượng lạc toàn quốc)
+ Vùng Đông Nam Bộ: đây là vùng có diện tích trồng lạc ít nhất cả nước, tổng diện tích trồng lạc là 9,6 nghìn ha, 5,06% và sản lượng 28,5 nghìn tấn, chiếm 6,42% sản lượng cả nước
Trang 24+ Vùng Tây Nguyên: lạc được trồng chủ yếu ở các tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai với diện tích 17,7 nghìn ha, (chiếm 7,1% diện tích trồng lạc của cả nước), năng suất trung bình đạt 1,7 tấn/ha, sản lượng đạt 30,4 nghìn tấn (chiếm 5,78% sản lượng lạc toàn quốc)
Hiện nay, những tỉnh có diện tích trồng lạc lớn như Nghệ An (23,9 nghìn ha) và là tỉnh có diện tích trồng lạc lớn nhất cả nước, tiếp đến là tỉnh Tây Ninh (21,7 nghìn ha), tỉnh Hà Tĩnh (19,9 nghìn ha), tỉnh Thanh Hoá (16,1 nghìn ha), tỉnh Bắc Giang (11,2 nghìn ha)
Theo số liệu của GTA, xuất khẩu lạc của Việt Nam, bao gồm nguyên vỏ, bóc vỏ và hạt không đáng kể (số liệu này không bao gồm thương mại biên giới với Trung Quốc) Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan, Nga, Malaysia và một số nước khác Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) điều chỉnh ước tính cho xuất khẩu lạc của Việt Nam trong vụ 2016/17 lên 10 nghìn tấn, bao gồm xuất khẩu lạc thông qua thương mại biên giới
và xuất khẩu lạc đã qua chế biến Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) điều chỉnh các ước tính cho xuất khẩu trong vụ 2016/17 và năm 2017/18 xuống còn 7 nghìn tấn và 8 nghìn tấn, do các nước nhập khẩu có nhu cầu thấp hơn (GTA, 2017) Qua số liệu thống kê cho thấy Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam
Bộ có năng suất đạt mức khá, Tây Bắc, Tây Nguyên đạt năng suất thấp Hiện nay, sản xuất lạc trên cả nước ta không đều giữa các vùng có sự chênh lệch lớn, diện tích trồng lạc ở nước ta vẫn còn nhỏ lẻ và phân tán, nên khó khăn cho việc sản xuất lạc hàng hoá Ở một số địa phương đã hình thành một vài vùng trồng lạc tập trung lớn như Diễn châu (Nghệ An), Hậu Lộc (Thanh Hoá) Tân Yên, Lạng Giang, Lục Nam ( Bắc Giang)
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LẠC CỦA TỈNH BẮC GIANG
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam Từ năm 2012 là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội Bắc Giang giáp với nhiều tỉnh thành, phía bắc giáp Lạng Sơn, phía đông giáp Quảng Ninh, phía tây giáp Thái Nguyên và Hà Nội, phía nam giáp Bắc Ninh và Hải Dương Tỉnh lỵ
là thành phố Bắc Giang, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50 km
Diện tích tự nhiên 3.823 km², chiếm 1,2% diện tích tự nhiên của Việt Nam Theo tài liệu năm 2000, trong tổng diện tích tự nhiên của Bắc Giang, đất nông nghiệp chiếm 32,4%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 28,9%; còn lại là đồi núi, sông suối chưa sử dụng và các loại đất khác
Trang 25Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông bắc Một năm có bốn mùa rõ rệt Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu ôn hòa Nhiệt độ trung bình 22 – 230C độ ẩm dao động lớn, từ 73 - 87%.Lượng mưa hàng khoảng 1.533 mm, mưa nhiều trong thời gian các tháng từ tháng 4 đến tháng 9,
đủ đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.700 giờ, thuận lợi cho phát triển các cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới
Bắc Giang có tiềm năng về du lịch lớn như chùa Bổ Đà trung tâm truyền Phật giáo vào thế kỷ XII - XIII, một số đình, chùa có kiến trúc độc đáo như đình Phù Lão, đình Thổ Hà, đình Lỗ Hạnh được mệnh danh là đệ nhất Kinh Bắc thế
kỷ XVI, đình Tiên Lục (thế kỷ XVII), nơi còn lưu lại cây Dã Hương ngàn năm tuổi… Nếu được đầu tư, những địa điểm trên có thể trở thành các điểm du lịch hấp dẫn khách trong và ngoài nước
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Bắc Bộ, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên và huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hải Dương.Trong những năm gần đây, Kinh tế của Bắc Giang phát triển khá toàn diện và đang dần khẳng định được vị thế là Trung tâm kinh tế lớn thứ hai của vùng Trung du và miền núi phía Bắc Với những thuận lợi đặc biệt về vị trí địa lí như trên, Bắc Giang
đã và đang phát huy lợi thế đó trong phát triển kinh tế, đặc biệt trong phát triển nông nghiệp của tỉnh, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, phát triển nông nghiệp của tỉnh theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, góp phần nâng cao thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân
Theo kết quả điều tra khảo sát của viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp trên diện tích 19.093,04 ha Nhìn chung, đất đai huyện Yên Dũng khá đa dạng, hàm lượng các chất dinh dưỡng từ trung bình đến nghèo Các nhóm đất phù sa, bạc màu, dốc tụ, thích hợp trồng các loại cây ngắn ngày như lúa, ngô, rau đậu, khoai tây, lạc Nhóm đất đỏ vàng ở khu vực chân đồi, tầng dầy đất thích hợp trồng một
số loại cây ăn quả như vải, na, hồng và một số loại cây lâm nghiệp
Theo báo cáo kết quả hàng năm của sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Giang và báo cáo của Cục thống kê tỉnh từ năm 2000 đến nay cho thấy, hàng năm
cơ cấu giống lạc luôn có sự biến động, có nhiều giống lạc mới L14, L23, MD7, MD9, L18, TB25 có tiềm năng năng suất cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh được đưa vào sản xuất Năng suất và sản lượng lạc ngày một được mở rộng và tăng
Trang 26lên do đã áp dụng những tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh lạc như mật độ, phân bón
và che phủ nilon , kết quả được thể hiện qua bảng 2.4
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh Bắc Giang
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang (2018)
Từ năm 2011 cho đến năm 2017 diện tích lạc của tỉnh không có biến động lớn Diện tích trồng lạc của tỉnh Bắc Giang cao nhất là vào năm 2012 với 11.773 ha và đang có xu hướng giảm dần về diện tích xuống 11.366 ha năm 2017
Theo số liệu Niên giám thống kê của tỉnh năm 2018 của tỉnh Bắc Giang cho thấy năng suất lạc tăng đề trong giai đoạn 2011-2017, cao nhất năm 2016 25,0 tạ/ha Tuy nhiên, so với năng suất cả nước và của một số tỉnh trong khu vực thì năng suất lạc của Bắc Giang còn rất thấp và không ổn định và đang có xu hướng giảm dần Sản lượng lạc của Bắc Giang tăng đều qua các năm do cơ cấu giống lạc trên địa bàn ngày căng được cải thiện, việc áp dụng những tiến bộ mới trong thâm canh lạc ngày càng được bà con nông dân chú trọng, năng suất lạc năm sau cao hơn năm trước Năm 2017, sản lượng lạc của tỉnh đạt 29.828 tấn
Theo Phòng Trồng trọt (Sở Nông nghiệp và PTNT) vụ xuân năm 2018 toàn tỉnh trồng 8,7 nghìn ha lạc xuân Diện tích vụ này tăng là do những năm gần đây cơ quan chuyên môn đã xây dựng các mô hình đưa giống lạc có năng suất cao, chất lượng tốt và ứng dụng biện pháp thâm canh trong sản xuất Qua
đó, người dân tiếp cận được kỹ thuật chăm sóc và yên tâm mở rộng diện tích Thời gian qua, giá lạc luôn ổn định ở mức từ 15-20 nghìn đồng/kg, góp phần nâng cao thu nhập cho người sản xuất Ngoài ra, lạc củ không chỉ cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thực phẩm mà còn được dùng làm giống cung ứng ra thị trường Vì dễ bảo quản nên lạc không chịu sức ép về
Trang 27thời gian tiêu thụ Bên cạnh đó, để ứng phó với tình trạng hạn hán có thể xảy
ra, một số chân ruộng vàn cao, không chủ động nước tưới nông dân chuyển đổi sang trồng lạc
Lạc xuân được xác định là cây thế mạnh mang lại hiệu quả kinh tế cao trong Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá Do vậy, cây trồng này luôn được các địa phương quan tâm mở rộng diện tích, nhất là vụ xuân Một số xã trên địa bàn huyện cũng tập trung phát triển cây lạc như: Đông Thắng, Tư Mại, Đồng Phúc Vụ này, nông dân Yên Dũng gieo trồng hơn 250ha lạc, là một trong những huyện có diện tích lạc lớn của tỉnh Những năm gần đây, giá lạc luôn ổn định và ngày càng tăng cùng với các ưu điểm như vốn đầu tư ít và đầu ra tương đối thuận lợi nên nông dân yên tâm mở rộng diện tích Hơn nữa, đồng đất của Yên Dũng vốn bạc màu để khắc phục nhược điểm đó, trước đây, ngành chuyên môn khuyến cáo nông dân trồng lạc và đậu tương để cải tạo đất Đã có thời điểm Yên Dũng trở thành vựa đậu tương lớn nhất tỉnh song do nhiều yếu tố nên người dân chỉ còn tập trung vào trồng lạc Giống được đưa vào trồng trong vụ này là MD7, L14, L23 Trong đó lạc MD7, L14 chiếm hơn 90% tổng diện tích bởi có nhiều ưu điểm như: vỏ mỏng, nhân to, đều củ, năng suất bình quân đạt hơn một tạ/sào Nhưng do công tác chọn và bảo quản giống không tốt nên chất lượng giống không đảm bảo, cách thức chọn và để giống chủ yếu là được tổ chức tại nông hộ, do chính người nông dân tiến hành do đó năng suất lạc của tỉnh còn hạn chế
2.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ CÂY LẠC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.2.1 Một số nghiên cứu về cây lạc trên thế giới
2.3.1.1 Một số nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới
Một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng lạc là giống Do đó các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới
đã đặc biệt quan tâm đến chương trình chọn tạo giống lạc năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu cao phục vụ cho sản xuất
Viện Nghiên cứu Cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) là cơ
sở nghiên cứu giống lớn nhất về các loại cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng Tính đến năm 1993, ICRISAT đã thu thập được 13.915 lượt mẫu giống lạc
từ 89 nước trên thế giới Trong đó, từ châu Phi là 4.078 mẫu, châu Á 4.609, châu
Trang 28Âu 53, châu Mỹ là 3.905, châu Úc và châu Đại dương 59, còn 1.245 mẫu giống chưa rõ nguồn gốc Đặc biệt, ICRISAT đã thu thập được 301 lượt mẫu giống
thuộc 35 loài dại của chi Arachis, đây là nguồn gen có giá trị cao trong công tác
cải tiến giống theo hướng chống bệnh và chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận (Mengesha, 1993)
Trung Quốc, hơn 200 giống có năng suất cao đã được phát triển và phổ biến cho sản xuất, trong số đó những giống có năng suất cao là Haihua1, Xuzhou 68-4, Hua 37, Luhua 9,11,14, 8130…, tiềm năng năng suất của mỗi giống tới 7,5 tấn/ha ), còn ở Mỹ đã giới thiệu được các giống lạc mới để phục vụ sản xuất như: Dixie Runer, Floruner, NC Floria 14, Andru 93, SunOleic 97R, C-99R, GP-1, DP-1, Georgia 02C, AP-3, VA98R,… (Gorbet Dan, 2003) Việc cải tiến giống đã đóng góp một phần rất lớn cho việc tăng sản lượng lạc
Các nhà khoa học ở Trung Quốc đã chọn tạo được nhiều giống mới bằng các phương pháp khác nhau như đột biến sau khi lai, đột biến trực tiếp, lai đơn, lai kết hợp… hơn 200 giống lạc đã được phát triển và phổ biến cho sản xuất từ những năm cuối của thập kỷ 50 Trong đó có những giống năng suất cao là: Haihua 1, Xuzhou 68 - 4, Hua 37… các giống có chất lượng hạt tốt bao gồm: Baisha 1016, Hua 11, Hua 17, Luhua 10 đã sản xuất chủ yếu để xuất khẩu Một
số giống kháng cao với bệnh héo xanh vi khuẩn, gỉ sắt như giống Luhua 3, Zhonghua 2, Zhonghua 4, Yueyou 92 đã được sử dụng rộng rãi ở các vùng có nguy cơ nhiễm bệnh cao Viện nghiên cứu lạc tỉnh Sơn Đông đã chọn được một
số giống mới có năng suất cao là: Luhua 6, 8 , 9, 1830, đạt năng suất 50 - 75 tạ/ha Viện cây lấy dầu Vũ Hán đã lai tạo được giống Zhonghua No.4 chín sớm
có năng suất cao Trong những năm 1980, các giống mới chín sớm với những đặc tính nông học tốt như Shanyou 27, Yueyou 116, Yuesuan 58, Yueyou 92 đã thay thế những giống thuộc loài chín trung bình Spanish, Virginia ở các tỉnh miền Trung và miền Nam Trung Quốc
Trường Đại học Nông nghiệp Dharwad đã tạo ra giống R8808 năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, giống DH40 ngắn ngày và thịt hạt đỏ, từ phương pháp lai xa tạo ra giống R106 có khả năng kháng cao với bệnh héo xanh vi khuẩn
(Chuan Tang Wang et al., 2009), giống lạc GPBD4 năng suất cao, kháng bệnh
đốm lá và hàm lượng dầu trên 45% (Ajay, 2006), giống lạc TxGA-6 kháng tuyến trùng Từ phương pháp lai đơn ICRISAT đã chọn tạo thành công các giống lạc mới TLG45 ngắn ngày, chịu hạn có kiểu hình hạt lớn, năng suất vỏ là 3,14 tấn/ha
Trang 29Công tác phát triển giống lạc trong những thập niên qua đã đạt nhiều thành tựu nổi bật như: ICRISAT đã chọn tạo thành công hàng ngàn giống lạc và
đã giới thiệu để phát triển sản xuất ở các quốc gia khác nhau trên thế giới Trong các mẫu giống đã thu thập ICRISAT đã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọn tạo giống như: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu cao, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm… Trong đó, các giống chín sớm điển hình là Chico,
91176, 91776, ICGS (E)71 (Fang Zengguo, 2009), các giống có năng suất cao như: ICGV-SM83005 (Naik and Basha, 2008) Hiện nay giống lạc ICGV 91114 với ưu điểm cho năng suất cao đang được phát triển rộng rãi ở các bang
AndraPradesh và Chhattisgarh của Ấn Độ (Songri et al., 2005)
Ấn Độ cũng là nước có nhiều thành tựu to lớn về công tác chọn tạo giống (Ngô Thế Dân, 2000), các nhà nghiên cứu ở Ấn Độ đã lai tạo và chọn được các giống lạc thương mại mang tính đặc trưng cho từng vùng, mỗi bang trồng các giống khác nhau Tại Bang Andhra Pradessh, trồng giống Kadiri-2, Giống Karidi-3, chiều cao cây 23-28 cm, thời gian sinh trưởng 115-120 ngày, hạt chứa 43,7% dầu, tỷ lệ nhân 76% Bang Gujarat, trồng giống GAUG-1, dạng cây đứng, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, thích ứng trong điều kiện canh tác nước trời Bang Haryana, trồng giống MH, dạng thân đứng, lá màu xanh tối, thời gian sinh trưởng 105-110 ngày Bang Uttar pradesh, trồng giống T-
28, dạng thân bò, lá xanh đen, hạt chứa 48% dầu, năng suất cao Giống Kaushal, dạng thân đứng, lá màu xanh tối, thời gian sinh trưởng 108 đến 112 ngày, năng suất cao, tỷ lệ nhân 72% Giai đoạn từ năm 2002 - 2014 Ấn Độ đã công nhận Quốc gia được 10 giống lạc mới gồm: GG7, GG8, GG15, GG21, GG16, GJG9, GJG31, GJG17, Các giống lạc này có năng suất cao hơn giống đối chứng là các giống địa phương từ 14-38%
Các nhà khoa học ở nước Mỹ không ngừng cải tiến kỹ thuật, cơ cấu giống và đã tạo được nhiều giống có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng sâu bệnh phục vụ sản xuất (Florigant Florkowski, 1994), giống F2
VA93B, VGP9 ( Coffelt et al., 1994) Đã chọn tạo ra hàng trăm giống lạc có
thời gian sinh trưởng dài ngày (130 - 145 ngày) có năng suất cao từ 3,50 - 5,60 tấn/ha, chất lượng tốt phục vụ sản xuất tại các vùng thuộc Bang Georgia
và Florida Các giống lạc này thuộc nhiều dạng hình sinh trưởng khác nhau Điển hình là các giống Georgia 12Y, Georgia 10T, Florida - 07, thuộc dạng
Trang 30hình Runner Giống VGS1 và VGS2 đều là 2 giống có năng suất cao được
trồng nhiều ở Florida ( Coffelt et al., 1995) Giống Andru 93 là giống có năng
suất cao, hàm lượng dầu là 50,7%, giống NC12C có khả năng kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt và héo xanh vi khuẩn, năng suất cao từ 30-50 tạ/ha được trồng
phổ biến ở Georgia, Florida và Alabam (Isleib et al., 1992)
Hàn Quốc là một nước khá phát triển và nổi tiếng về đầu tư cho nghiên cứu
và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trên cây lạc Chương trình nghiên cứu khoa học trên cây lạc ở Hàn Quốc được tăng cường rất sớm, bắt đầu từ những năm 1960 Nhờ kết hợp giống mới, với biện pháp kỹ thuật che phủ nilon đến đầu những năm 1990 năng suất lạc của Hàn Quốc đã tăng gấp 4 lần so với năm 1960 Hiện nay, trên những nông trại lớn của Hàn Quốc có sử dụng giống lạc mới và kỹ thuật tiến bộ, năng suất lạc đã đạt trên 6,0 tấn/ha
Australia đã thu thập được 12.160 lượt mẫu giống từ nhiều nước trên thế giới như châu Phi, Trung Quốc, Bắc Mỹ, châu Á, châu Âu, châu Đại Dương Hầu hết các mẫu giống đều thuộc 2 kiểu phân cành liên tục và xen kẽ, theo FAO, 2013
Ở Thái Lan cũng đã chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống lạc có đặc tính năng suất cao, chín sớm, chịu hạn, kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt có kích thước hạt lớn như: Khon Kean 60-3; Khon Kean 60-2; Khon Kean 60-1 và Tainan 9
(Sanun Joglog et al., 1996)
Philipin đã đưa vào sản xuất nhiều giống như UPLP n6, UPLP n8 và BPIP n8 có kích thước hạt lớn, kháng bệnh gỉ sắt, bệnh đốm lá
Theo David Okello Kalule (2013) cho biết ở Uganda các nhà khoa học
đã chọn được 12 giống lạc có thời gian sinh trưởng từ 90-110 ngày, có năng suất cao từ 2,50-3,70 tấn/ha đó là các giống: Serenut 3R2, Serenut 4T2, Serenut 5R, Serenut 6T, Serenut 7T, Serenut 8R, …
Ở Pakistan, giống lạc 96CG010 đạt năng suất từ 2,41 đến 4,1 tấn/ha, kháng với bệnh đốm lá và được mệnh danh là giống lạc vàng; giống lạc Mutants 28-2 có kiểu hình hạt lớn, kháng với sâu và bệnh đốm lá, hàm lượng dầu đạt 47%
2.3.1.2 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây lạc trên thế giới
Bón phân là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất sản lượng lạc của các nước trên thế giới
Những nghiên cứu về liều lượng đạm bón
Trang 31Các nghiên cứu về phân bón cho thấy liều lượng, kĩ thuật bón phân và loại phân bón là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất lạ của các nước trên thế giới Các nhà khoa học đều khẳng định, cây lạc cần một lượng
N lớn để sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất, lượng N này chủ yếu được lấy từ quá trình cố định đạm sinh học ở nốt sần Theo William (1979), trong điều kiện tối ưu, cây lạc có thể cố định được 200 - 260 kg N/ha, do vậy có thể bỏ hẳn lượng N bón cho lạc
Theo nghiên cứu của Reddy (1988), thì lượng phân bón là 20kg N/ha trên đất Limon cát có thể đạt năng suất 3,3 tấn quả/ha trong điều kiện các yếu tố khác tối ưu và chỉ khi nào muốn đạt được năng suất cao hơn mới cần bón thêm đạm
Bổ sung dinh dưỡng khoáng hợp lý cho đất trồng lạc là biện pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế về độ chua và dinh dưỡng Cac nhà khoa học đã thử nghiệm ở hơn 200 cuộc trên các loại đất khác nhau ở ở Ấn Độ đã chỉ ra rằng, khi sử dụng 20kg N/ha lạc không làm tăng năng suất quả (Mann, 1965) Tuy nhiên, khi tăng lượng đạm là 40kg N/ha trong điều kiện ẩm độ đất tối ưu thì lại đem lại kết quả (Choudary, 1977)
Những nghiên cứu về bón lân cho lạc:
Ở Trung Quốc thường bón supe photphat và canxi photphat Phân lân supe photphat có 18% hàm lượng nguyên chất, phân giải nhanh Loại phân này bón trên đất trồng lạc có độ phì trung bình và mang tính kiềm thì sẽ đạt năng suất cao Phân canxi photphat, phân giải chậm phù hợp với đất trồng lạc có độ phì trung bình, đất chua (Lê Văn Diễn, 1991)
Lân là yếu tố dinh dưỡng quan trọng đối với lạc Nó có tác dụng lớn đến
sự phát triển nốt sần, sự ra hoa và hình thành quả Vì vậy nó cũng là yếu tố hạn chế năng suất trên các loại đất trồng lạc có thành phần cơ giới nhẹ Lượng lân cây hấp thu không lớn, để đạt một tấn quả khô lạc chỉ sử dụng 20 - 40 kg P2O5 Tuy nhiên, việc bón lân cho lạc là rất cần thiết ở nhiều loại đất trồng, đồng thời lượng phân lân bón cho lạc đòi hỏi tương đối cao vì khả năng hấp thu lân của lạc kém Các loại đất bạc màu, đất khô cằn nhiệt đới thường rất thiếu lân Bón phân lân thường là mấu chốt tăng năng suất ở nhiều vùng trồng lạc Lạc hấp thu lân nhiều nhất ở thời kỳ ra hoa, hình thành quả, trong thời kỳ này lạc hấp thu tới 45% lượng hấp thu lân của cả chu kỳ sinh trưởng
Trang 32Ở tất cả các vùng tại Ấn Độ khi bón kết hợp 30 kg/ha N và 20kg/ha P làm tăng năng suất lạc lên gấp hai lần so với bón riêng 30kg N/ha (Kanwar, 1978) Tổng hợp từ từ 200 thí nghiệm trên nhiều loại đất đã kết luận rằng: bón 14,5 kg P2O5/ha cho lạc nhờ nước trời năng suất tăng 201 kg/ha, trên đất Limon đỏ nghèo N, P bón 15 kg P2O5/ha năng suất tăng 14,7 % Đối với loại đất Feralit mầu nâu ở Madagasca, lân là yếu tố cần thiết hàng đầu Nhờ việc bón lân ở liều lượng 75 kg P2O5/ha năng suất lạc có thể tăng 100%, cần bón
400 - 500 mg P/ha đã kích thích được sự hoạt động của vi khuẩn Rhizobium Vigna sống cộng sinh làm tăng khối lượng nốt sần hữu hiệu ở cây lạc
Tại Senegan phân lân với lượng 12 - 14 kg P2O5/ha đã làm tăng năng suất quả lên 10 - 15% so với không bón Phân lân không có hiệu quả chỉ khi hàm lượng lân dễ tiêu trong đất đạt >155 ppm
Nghiên cứu về bón kali cho lạc:
Kali tham gia chủ yếu vào hoạt động của enzym, chuyển hóa chất trong cây Vai trò quan trọng nhất của kali là xúc tiến quang hợp và sự phát triển của quả, làm tăng cường mô cơ giới, tăng khả năng giữ nước của tế bào, tăng tính chịu hạn và tăng cường tính chống đổ của cây Thiếu hụt kali
sẽ làm cho mép lá bị úa vàng, lá cháy xém và bị khô vào lúc trưởng thành
Ở Tây Ban Nha trồng khoai tây sau đó trồng lạc và tập trung bón phân cho cây khoai tây với lượng như: 60 tấn phân chuồng, 600 tấn supe lân, 200 -
300 kg kali clorua/ha Nhưng năng suất lạc vẫn có thể đạt từ 2,5 - 3,5 tấn/ha
Theo Reddy (1988), trên đất Limon cát vùng Tyrupaty trồng lạc trong điều kiện phụ thuộc vào nước trời, năng suất tăng khi bón kali với lượng 66
kg K2O/ha Mức bón để có năng suất tối đa là 83,0kg K2O /ha và có hiệu quả nhất là bón 59,9 kg K2O /ha
Nghiên cứu về bón Canxi (Ca) cho lạc
Một trong những yếu tố quan trọng nhất để sản xuất lạc quả to, mẩy là canxi Trong cây, canxi là một nguyên tố ít di động vì nó thường ở thể oxalat Canxi có rất nhiều chức năng sinh lý như: làm tăng độ nhớt của nguyên sinh chất, giảm tính thấm, vì vậy nó có ý nghĩa lớn trong tính chống chịu của thực vật (Chu Thị Thơm và cs., 2006)
Theo Xuzeyong (1992), ở Ấn Độ với các loại đất có độ phì trung bình
và cao, mức đạm cần bón phải giảm đi 50% và tăng lượng lân cần bón lên
Trang 33gấp 2 lần Bón phối hợp 10 - 40 kg N + 30 - 40 P2O5 + 20 - 40 K2O cho 1 ha
là mức bón tối ưu cho lạc
Vôi là một nhân tố không thể thiếu khi trồng lạc, vôi làm thay đổi độ chua của đất Đất trồng lạc thiếu Ca sẽ dẫn đến giảm quá trình hình thành hoa và tia quả, dẫn đến củ bị ốp và cũng làm phôi hạt bị đen Ca làm giảm hiện tượng phát triển không đầy đủ của noãn, tăng số quả/cây, dẫn đến tăng năng suất
Trung Quốc vôi bón cho đất chua làm trung hòa độ pH của đất, cải thiện phần lý tính của đất và ngăn ngừa sự tích lũy của độc tố do Al và các nhân tố khác gây nên Bón vôi với liều lượng 375 kg/ha cho đất nâu ở Weihai đã làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/ha, tăng 11,8% so với đối chứng không bón vôi Các kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy bón N, P, K kết hợp làm tăng khả năng hấp thu đạm của cây lên 77,33%; lân lên 3,75% so với việc bón riêng lẻ, tỷ
lệ bón thích hợp nhất là 1:1,5:2 Để thu được 100 kg lạc quả cần bón 5 kg N, 2
kg P2O5 và 2,5 kg K2O cho 1 ha (Duan Shufen, 1998)
Nghiên cứu về phân hữu cơ cho lạc
Trên thế giới các nhà khoa học ở các nước đã nghiên cứu và sử dụng phân
vi sinh vật trong nhiều năm nhằm nâng cao năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái Phân vi sinh vật cố định đạm cho các cây họ đậu với các tên khác nhau như: Nitrazin (Đức, Balan, Liên Xô) Bactenit hoặc Rizonit (Hunggari), Nitrobacterin (Anh), Campen (Hà Lan), Nitrzon (Tiệp), Azofit (Ý) Chế phẩm phân giải chất hữu cơ Estrasol (Nga), Mân (Nhật, Philipin) Phân vi sinh tổng hợp Tian-li-bao (Trung Quốc, Hồng Công)
Kết quả nghiên cứu từ các nước Mỹ, Canada, Nga, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật cho thấy sử dụng chế phẩm VSV có thể cung cấp cho đất
và cây trồng từ 30 - 60 kg N/ha/năm hoặc thay thế 1/2 - 1/3 lượng lân vô cơ bằng quặng photphat Dịch nuôi cấy các VSV sinh tổng hợp chất điều hoà sinh trưởng thực vật như Azotobacter, Azospirilum, Rhizobium có thể cung cấp 10-20 μgIAA/ml hoặc 20 μg GA3/ml do đó làm tăng khả năng nảy mầm, ra rễ của hạt giống, tăng khả năng phân chia mô tế bào, kích thích hoặc kìm hãm sự nở hoa, tăng khả năng sinh trưởng và năng suất củ quả và tăng tính chống chịu hạn Một
số chất kháng sinh như Agrocin 84, Agrocin 434, Phenazines, Pyoluteorin được sinh ra bởi Agrobacterium, Pseudomonas và Bacillus có khả năng hạn chế bệnh tua mực ở cây quế, bệnh trụi ngọn ở cam chanh, bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh
Trang 34thối rễ do nấm ở cây đậu đỗ
Theo Muchtar and Soelaeman (2010) tại Gajah Mada - Indonesia cho thấy, không bón phân vô cơ, chỉ bón 15 tấn phân xanh năng suất lạc đạt 14,0 gam/cây và cao hơn từ 7,6 đến 18,0% so với lượng bón 5 và 10 tấn phân xanh Kết quả nghiên cứu của Ibrahim and Eleiwa (2008) tại Ai Cập cho thấy, bón bổ sung
600 lít/ha dung dịch chiết xuất từ phân chim trên nền phân vô cơ 60 kg N, 60 kg
P2O5 và 50 kg K2O/ha năng suất lạc tăng từ 14,4 đến 39,6% và hàm lượng dầu tăng
từ 2,0 đến 6,3% so với bón bổ sung dung dịch chiết xuất từ phân gà và bioga
Ở Trung Quốc chế phẩm phân vi sinh được ứng dụng rộng rãi: chế phẩm
“Điền lục bảo” có hai chủng ưu thế có khả năng chuyển hóa photpho khó tan, xác định thuộc chi Bacillus Nó đã được thử nghiệm trên 23 loại cây trồng khác nhau
và được chứng minh là vừa có khả năng chuyển hóa photpho trong các hợp chất khó tan vừa có khả năng cố định nitơ để cung cấp phopho nitơ cho cây trồng Năm 1970 ở Liên Xô đã dùng bacillus megatheriumvar Phosphatcum để sản xuất chế phẩm photphobacterin Chế phẩm này được sử dụng rộng rãi ở Liên
Xô và các nước Đông Âu dùng bón cho lúa mì, ngô, lúa nước kết quả cho thấy sản lượng tăng 5 – 10% so đối chứng Cùng năm này Liên Xô xử lý 10% diện tích trồng cây họ đậu Còn ở Mỹ từ năm 1968 xử lý hơn 70% diện tích trồng cây
họ đậu bằng chế phẩm phân vi sinh vật cố định đạm
Ở Mỹ vào những năm 1984 người ta tính là trong khoảng 15 triệu đôla cho công nghiệp sản phẩm chế phẩm phân vi sinh cố định đạm
Nhu cầu về phân bón vi sinh vật trên thế giới là rất lớn Đây là phương hướng tương lai của nông nghiệp để nhằm giảm bớt các tác hại của việc sử dụng không cân đối các loại phân hóa học, việc làm ô nhiễm môi trường và việc chi phí quá nhiều ngoại tệ nhập khẩu phân bón vô cơ
2.2.2 Một số nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam
2.3.2.1 Một số nghiên cứu về chọn tạo giống lạc ở Viêt Nam
Từ những năm 1980 ở các trường Đại học Nông nghiệp, các trung tâm và viện nghiên cứu nông nghiệp ở Việt Nam đã tiến hành công tác thu thập, bảo quản và sử dụng tập đoàn lạc, song phần lớn các tập đoàn này chỉ được giữ ở mức tập đoàn công tác, việc tiến hành thu thập không mang tính hệ thống Đến khi Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VKHKTNNVN) ra đời mới tiến hành thu thập và nhập nội một cách có hệ thống các loại cây trồng trong đó
Trang 35có lạc Số lượng mẫu giống trong tập đoàn lạc có tới 1271 giống gốm 1271 mẫu
nhập từ 40 nước trên thế giới và 100 giống địa phương (Ngô Thế Dân, 2000)
Công tác chọn tạo giống ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các mục tiêu: năng suất cao, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các công thức luân canh cây trồng, giống có chất lượng cao phục vụ
ép dầu và xuất khẩu
Các giống được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính: Giống lạc Sen lai 75/23 được chọn tạo từ việc lai hữu tính 2 giống Mộc Châu trắng và Trạm Xuyên, có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tương đối chịu rét, vỏ lạc màu hồng, hạt to phù hợp xuất khẩu (Lê Song Dự và cs., 1991) Giống L12 được chọn tạo từ
tổ hợp lai giữa V79 và ICGV 87157 (Nguyễn Văn Thắng và cs., 2004)
Chọn tạo các giống bằng phương pháp đột biến: Từ giống Bachsa, sử dụng phương pháp đột biến phóng xạ tạo ra giống B5000 có hạt to, vỏ lụa màu hồng, năng suất cao và ổn định (Lê Song Dự và cs., 1996)
Từ năm 1974, công tác nghiên cứu được bắt đầu để chọn tạo giống lạc bằng phương pháp lai hữu tính và phương pháp đột biến phóng xạ ở bộ môn môn Cây Công nghiệp - Học viện Nông nghiệp Hà Nội
Từ 1986 đến 1990, Viện KHNN Miền Nam đã xử lí đột biến 3 giống: Lì, Bạch Sa 77, Trạm Xuyên và chọn được các dòng triển vọng là: L15-2-1, L25-4-
1, TX15-1-2, TX 10-7-2BS 1-1-1 Giống 4329 được chọn tạo từ xử lý đột biến giống Hoa 17, giống có nguồn gốc Trung Quốc, có thời gian sinh trưởng 130-140 ngày, năng suất đạt trên 20 tạ/ha, tỷ lệ hạt cao
Từ năm 1991 đến năm 2000 Viện KHNN miền Nam đã theo dõi và đánh giá 250 mẫu giống, trong đó có 150 giống nhập từ viện nghiên cứu cây trồng toàn Liên Bang Nga mang tên Vavilop (VIR), 24 mẫu giống nhập từ ICRISAT
Giai đoạn 1996 - 2004 chương trình giống Quốc gia đã chọn tạo được 16 giống lạc, trong đó các giống lạc có năng suất vượt trội là L18, L14; giống có khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn năng suất khá MD7, giống chất lượng cao L08, giống chịu hạn L12 hiện đang phát triển mạnh ở các tỉnh Phía Bắc Các giống lạc VD1, VD2 năng suất cao hơn Lỳ địa phương, phù hợp cho các tỉnh phía Nam (Trần Đình Long và cs., 2005)
Những năm gần đây, Việt Nam đã thu thập và nhập nội được một lượng giống lạc tương đối lớn (Ngô Thế Dân và cs., 2000) Song việc mô tả, đánh giá,
Trang 36bảo quản còn nhiều hạn chế, do thiếu kinh phí Một lượng nhỏ mẫu giống (133 mẫu) được lưu giữ, mô tả trong ngân hàng gen Quốc Gia
Một số giống tiến bộ kỹ thuật điển hình đang trồng phổ biến ngoài sản xuất trên cả nước:
Giống VD2: Được tạo từ tổ hợp lai Lỳ Đức Hoà với USA54, chín sớm,
năng suất trung bình đạt 30 tạ/ha, khối lượng 100 hạt 46 - 48 g, tỉ lệ nhân cao 78
- 80% thích hợp cho các tỉnh phía Nam (Nguyễn Thị Chinh, 2005)
Giống L02: có năng suất trung bình 30 tạ/ha, khối lượng 100 hạt 60 - 68 g,
tỉ lệ nhân đạt 68 - 70%, Năng suất trung bình đạt 35 tạ/ha, trong điều kiện thâm canh tốt, năng suất có thể đạt tới 50 tạ/ha, kháng khá với bệnh đốm lá, gỉ sắt, héo xanh vi khuẩn (Ngô Thế Dân, 2000)
Giống L12: Được chọn từ tổ hợp lai giữa V79 và ICGV 87157 có năng suất
trung bình là 30tạ/ha, chịu được hạn tốt, kháng một số bệnh như đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt, khối lượng 100 hạt 50 - 60g (Nguyễn Văn Thắng và cs., 2005)
Giống L08: Năng suất trung bình đạt 30 tạ/ha, kháng sâu chích hút, bệnh
hại lá và bệnh héo xanh vi khuẩn ở mức trung bình (Nguyễn Xuân Hồng, 2004)
Giống MD7: có khối lượng 100 hạt đạt 60 - 65 g, tỉ lệ nhân đạt 70 - 75%,
là giống có tính thích ứng rộng, trồng thuần hay trồng xen đều có năng suất, trung bình đạt 35 tạ/ha, kháng bệnh héo xanh rất cao hiện được trồng phổ biến ở nhiều vùng sinh thái của nước ta Hiện nay nước ta đã chọn tạo được giống chất kháng bệnh béo xanh vi khuẩn MD7 (Nguyễn Xuân Hồng và cs., 2001)
Giống L18: Là giống thích hợp cho vùng thâm canh, năng suất cao từ 50 -
55 tạ/ha, nhiễm trung bình với các bệnh hại lá
Giống VD1: Chọn lọc từ giống Lỳ địa phương, có thời gian chín rất sớm,
năng suất trung bình đạt 30 tạ/ha, thích hợp với các tỉnh phía Nam (Ngô Thị Lam Giang, 1999)
Hiện nay theo một số nhà nghiên cứu cho biết các giống nhập từ Trung Quốc
tỏ ra có nhiều ưu điểm nổi bật như: có tiềm năng năng suất cao, khả năng chịu thâm canh cao và chống chịu sâu bệnh khá Trong đó, từ nguồn vật liệu nhập nội, nhiều giống mới đã được cải tiến thông qua việc lai tạo và đột biến L12, L16
Theo Bùi Xuân Sửu (2007), khảo sát 45 dòng, giống trong điều kiện vụ xuân 2007 có một số nhận xét: Tỷ lệ hoa hữu hiệu của các dòng, giống chỉ đạt
Trang 3729%, số quả chiếm 65% tổng số quả, xác định một số dòng có triển vọng: 91211,
87354, 93075, 94001
Ở Việt Nam Mặc dù còn một số hạn chế nhất định song công tác chọn tạo giống lạc trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Mục tiêu chọn tạo giống ở nước ta tập trung vào một số yếu tố: năng suất cao, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các công thức luân canh cây trồng, giống có chất lượng cao phục vụ ép dầu và xuất khẩu Ở các địa phương các giống cổ truyền và số lượng đáng kể các vật liệu di truyền từ các nước khác nhau đã được thu thập và bảo quản trong ngân hàng gen cây trồng của Viện KHKTNNVN trước đây và ngày nay là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) là nguồn vật liệu quý phục vụ cho công tác chọn tạo giống lạc hiện tại và tương lai
2.3.2.2 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây lạc ở Việt Nam
Cây lạc là cây có khả năng cố định đạm nhưng giai đoạn đầu cây rất cần đạm do lượng dự trữ trong hạt không đáp ứng được nhu cầu phát triển bình thường của cây Tuy nhiên, việc bón đạm phải có chuẩn mực, vì bón đạm quá ngưỡng thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành quả
và hạt dẫn đến năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của Viện nông hoá thổ nhưỡng trên đất bạc màu Bắc Giang, trên nền 8- 10 tấn phân chuồng, lượng bón thích hợp là 30 kg N/ha, nếu tăng lên 40 kg N/ha thì năng suất không tăng và hiệu lực giảm đi rõ rệt (Ngô Thế Dân, 2000)
Theo kết quả đã thử nghiệm ở một số mô hình bón phân hợp lý trên đất bạc màu cho biết: bón lân cho lạc tăng năng suất lạc từ 1,25 tấn/ha lên 1,57 tấn/ha, bội thu 0,32 tấn/ha Hiệu suất phân bón của 1 kg P2O5 (dạng supe photphat) ở mức 60
kg P2O5/ha cho từ 4,5 - 5,0 kg lạc vỏ so với 3,6 - 4,0 kg lạc vỏ ở mức bón 90 kg
P2O5/ha Những kết quả tương tự cũng thu được khi tiến hành thí nghiệm với lạc
trên đất bạc màu Bắc Giang (Nguyễn Thị Hiền và cs., 2001)
Võ Minh Kha (1996), đối với lạc bón thermophotphat trên đất xám ở Quảng Ngãi cho hiệu suất 2,8 - 3,0kg lạc vỏ/1 kg P2O5, trên đất phù sa Sông Hồng đạt 5 kg lạc vỏ/1 kg P2O5
Lê Văn Quang và Nguyễn Thị Lan (2007), nghiên cứu xác định liều lượng kali và lân bón cho lạc Sen lai vụ xuân 2006 trên đất cát huyện Nghi Xuân nhận xét: bón (90 kg P2O5 + 60 kg K2O)/ha trên nền (10 tấn phân chuồng + 30 kg N +
Trang 38800 kg vôi bột)/ha cho năng suất lạc cao nhất (23,02 - 24,92 tạ/ha) Hiệu suất bón cao nhất đạt 9,17 kg/1 kg P2O5 lạc vỏ ở liều lượng bón 60 kg P2O5/ ha, 7,62 kg/1
kg K2O lạc vỏ ở liều lượng 60 kg K2O/ ha
Trần Thị Thu Hà (2004), thăm dò ảnh hưởng của liều lượng và tỷ lệ đạm - lân đến năng suất lạc trên đất phù sa nghèo dinh dưỡng Theo tác giả tỷ lệ đạm, lân
có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nốt sần thông qua chỉ tiêu trọng lượng, liều lượng đạm lân ít ảnh hưởng đến sự hình thành hoa và trọng lượng 100 quả ở cây lạc Trong khi đó, số quả chắc trên cây có phản ứng tích cực với liều lượng và tỷ lệ bón đạm lân ở cả hai vụ nghiên cứu Còn trên đất cát biển Thừa Thiên Huế, Lê Thanh Bồn (1997) xác định bón 40 kg N/ha làm tăng năng suất so với đối chứng không bón 10,18% và Trần Thị Thu Hà (2006) xác định bón 40 kg N/ha đạt hiệu quả cao nhất Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên (1991) kết luận: trên đất cát biển có hàm lượng hữu cơ 0,6 - 1,0% đạm tổng số 0,03 - 0,09%, hàm lượng kali tổng số thấp (0,75%), hàm lượng lân, kali dễ tiêu: 3 - 5 và 6 - 7 mg/100g, có độ chua trung bình, khả năng hấp thu kém dễ bị rửa trôi thì hiệu suất 1 kg P2O5 (dạng supe photphat) ở mức bón 60
P2O5 cho trung bình 4,5 - 5,0 kg lạc vỏ Hiệu lực 1 kg P2O5 đầu tư là 3,0 - 4,5 kg lạc
vỏ, cá biệt đạt 7 - 8 kg lạc vỏ Để đạt hiệu quả kinh tế cao thì nên đầu tư ở mức 60 kg
P2O5/ha và để đạt năng suất cao nên đầu tư ở mức 90 kg P2O5/ha
Theo nghiên cứu của Bùi Huy Hiền (1997), trên đất cát biển không chua (pH = 5,8 - 6,0) hiệu lực các loại phân lân (phân lân nung chảy và phân lân chậm tan) cao, chỉ thấp hơn superphotphat trên nền 8 tấn phân chuồng +
30 kg N + 30 kg K2O/ha Bón supe lân năng suất lạc tăng so với đối chứng 115%, còn phân lân nung chảy là 112%
2.3.2.3 Một số kết quả nghiên cứu và sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh ở Việt Nam
Sản xuất nông nghiệp hiện nay dần trở thành tiêu điểm quan tâm không trên phạm vi quốc gia mà con trên qui mô toàn cầu Sản xuất nông nghiệp Việt Nam đóng góp 24% GDP, 30% sản lượng xuất khẩu, tạo việc làm cho 60% lao động cả nước song rõ ràng sản xuất nông nghiệp lâu nay chưa được chú trọng đúng mức việc bảo vệ môi trường Sản xuất nông nghiệp sạch, nâng cao chất lượng nông sản nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và thân thiện với môi trường đang là mục tiêu phấn đấu của ngành nông nghiệp nói chung và nông dân nói riêng Một trong những biện pháp hữu hiệu để sản xuất nông
Trang 39nghiệp sạch là ứng dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học, sử dụng phân hữu cơ
vi sinh nhằm thay thế các hóa chất bảo vệ thực vật và các loại phân hóa học có tác động xấu đến môi trường
Phân hữu cơ vi sinh vật với thành phần chất hữu cơ được bổ sung vi sinh vật có ích có ảnh hưởng rất lớn đến độ phì nhiêu của đất và năng suất cây trồng Phân hữu cơ không chỉ trực tiếp cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng mà còn có tác dụng quyết định cải thiện các tính chất lý hóa sinh của đất, điều hòa dinh dưỡng trong cơ chế tăng khả năng hấp thụ của đất bằng việc tăng chất và lượng các hợp chất hữu cơ khoáng trong đất, tạo cho đất có khả năng giữ chặt chất dinh dưỡng, hạn chế sự mất dinh dưỡng do rửa trôi và bốc hơi; chuyển hóa các hợp chất khó tan thành dễ tan, cung cấp thêm dinh dưỡng cho cây trồng mà rõ nhất là chuyển hóa lân khó tiêu thành dễ tiêu
Trong những năm qua, phân bón vi sinh vật đã thể hiện vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Chất hữu cơ còn là nguồn thức ăn cho các loài sinh vật sống trong đất Phần lớn vi sinh vật thuộc nhóm hoại sinh Nguồn thức ăn chủ yếu của nhóm này là dư thừa Cung cấp chất hữu cơ giúp duy trì nguồn thức ăn, tạo điều kiện phát triển sinh khối, đa dạng chủng loại và kìm hãm sự gia tăng của các loài vi sinh vật có hại
Hiệu quả của phân chuồng và phân xanh đối với cây lạc cũng đã được nghiên cứu và đánh giá ở nước ta Trên đất phù sa nghèo dinh dưỡng ở Thừa Thiên Huế, Trần Thị Thu Hà (2003) cho biết: khi bón 6 tấn phân chuồng/ha trên nền phân vô cơ 30 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O, năng suất lạc tăng 36,6% so với không bón và tương đương so với lượng bón 9 tấn phân chuồng/ha
Phân vi khuẩn nốt sần không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất lạc, tiết kiệm phân đạm khoáng mà còn làm tăng cường sức đề kháng cho lạc đối với một số bệnh vùng rễ Ngoài ra dưới tác dụng của vi khuẩn nốt sần, lạc có sinh khối cao hơn Tàn dư thực vật sau thu hoạch nếu được vùi trả lại đất thì đó sẽ
là nguồn dinh dưỡng đạm và chất hữu cơ quan trọng cho các cây trồng vụ sau (Nguyễn Minh Hưng và cs., 2012)
Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Tám và cs (2013) cho biết: Bón phân hữu cơ vi sinh cho cây lạc trên đất xám Trảng Bàng, Tây Ninh với liều lượng
từ 500 đến 2000 kg/ha/vụ có bổ sung phân khoáng cho bằng công thức đối
Trang 40chứng (60 kg N + 60 kg P2O5+ 90 kg K2O/ha) đã cho năng suất trung bình 2
vụ tăng 0,34 - 0,94 tấn/ha/vụ, tương đương 15,69 - 34,31% so với đối chứng; lượng phân đạm tiết kiệm được 5 - 20 kg N/ha/vụ tương đương 8,3 - 33,3% tổng lượng N; phân lân tiết kiệm được 15 - 60 kg P2O5/ha/vụ tương đương
25 - 100% tổng lượng lân và lượng phân kali tiết kiệm được 5 - 20 kg
K2O/ha/vụ tương đương 5,5 - 22,2% tổng lượng kali Mức lãi ròng thu được
ở các công thức bón phân hữu cơ vi sinh 4,72 - 8,52 triệu đồng/ha/vụ so với chỉ bón phân khoáng Tỷ suất lợi nhuận (VCR) khi sử dụng phân hữu cơ vi sinh đạt 1,46 - 2,34
Sản phẩm phân bón vi sinh vật trong tương lai không xa sẽ được tạo ra
từ tổ hợp các vi sinh vật nhiều hoạt tính Khi đó vi sinh vật trong phân bón vừa có nhiệm vụ cung cấp, chuyển hóa chất dinh dưỡng, tạo điều kiện cho cây trồng sử dụng dinh dưỡng hiệu quả hơn, vừa có tác dụng nâng cao độ phì của đất trồng, giảm thiểu các tác động sinh học và không sinh học bất lợi đối với cây và đất trồng
Các sản phẩm phân bón VSV đơn chủng (Nitragin, Rhizoda, Azogin, Rhizolu, Phosphobacterin) hay đa chủng (phân hỗn hợp từ VSV cố định nitơ
và phân giải lân: Biomix, Humix) đã thể hiện được tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng phân khoáng, tăng cường trao đổi chất trong cây và qua đó nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và tăng thu nhập cho người nông dân (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 2000 – 2005)
Theo Nguyễn Xuân Thành và cs (2003), phân sinh học (bao gồm phân hữu cơ vi sinh) có tác dụng rất lớn trong tạo nền thâm canh để tăng năng suất cây trồng, nhưng chỉ có phân sinh học thôi thì không thể cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây trồng để có năng suất cao, khó đảm bảo đủ lương thực, thực phẩm cho nhân loại Do đó cần sử dụng tổng hợp các loại phân sinh học và hóa học một cách cân đối
Trong những năm qua các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã nghiêm cứu và thử nghiệm và triển khai thành công công nghệ sản xuất phân vi khuẩn nốt sần cho cây bộ đậu Trong hơn 20 năm qua, các công trình nghiên cứu và thử nghiệm phân vi khuẩn nốt sần tại Việt Nam cho thấy phân vi khuẩn nốt sần có tác dụng nâng cao năng suất lạc vỏ 13,8 -17,5% ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung và 22%
ở các tỉnh miền Nam