Học nhóm đông người = không hiệu quả Theo quan điểm của các teen thì mỗi nhóm học nếu có từ 10 thành viên trở nên sẽ rất dễ tạo thành một cái chợ!. Tuy nhiên, các bạn phải hiểu rằng, một
Trang 15 “lầm tưởng” về học
nhóm
Không phải nhóm học sinh nào cũng có cách học nhóm tốt nhất Những quan niệm sau nên được khắc phục.
1 Học nhóm đông người = không hiệu quả
Theo quan điểm của các teen thì mỗi nhóm học nếu có từ 10 thành viên trở nên sẽ rất dễ tạo thành một cái chợ! Bởi vì có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu cái
“tôi”, có bấy nhiêu ý kiến phát biểu Điều đó cũng có nghĩa là sẽ rất khó hoà hợp trong một không khí chung khi cái “tôi” của một số người quá mạnh Hơn nữa, quá đông thì khó kiểm soát và khó kiểm tra đánh giá
Tuy nhiên, các bạn phải hiểu rằng, một mặt khác, nếu một nhóm có đông người sẽ đồng nghĩa với các bạn sẽ có rất nhiều cái đầu sáng tạo, kinh nghiệm, và khi gánh nặng bài vở được chia sẻ càng nhiều, các bạn càng có thêm thời gian để tự học Chỉ cần các bạn biết sắp xếp nhiệm vụ các thành viên một cách khoa học, có giấy trắng mực đen rõ ràng, các thành viên sẽ đều rất hữu ích đấy
2 Học nhóm ít người = có hiệu quả
Bổ sung cho ý trên, đồng thời với việc cho rằng học nhóm quá đông có thể ảnh hưởng đến công việc chung, teen cũng cho rằng học nhóm càng ít người càng
dễ tập trung, càng dễ tập trung, càng hiệu quả Quan niệm ấy có caí đúng và cái chưa đúng
Đúng là vì khi học nhóm với số lượng ít đồng nghĩa với tiếng ồn giảm, ít sự tranh cãi, ít ý kiến cá nhân hơn Nhưng ngược lại, nếu nhóm các bạn toàn những
Trang 2mem hơi thụ động trong cách học thì nhóm sẽ không thể có được những ý tưởng sáng tạo, những sự tranh luận sôi nổi nhiệt tình Hình thức một kèm một chỉ phù hợp khi bạn học với gia sư hoặc “đôi bạn cùng tiến” thôi Nghĩa là sự chênh lệch kiến thức, trình độ giữa hai người là có, phần lớn bạn đóng vai trò bị động Còn nếu
đã là học nhóm thì nên càng có nhiều ý kiến khách quan, bàn luận để đi đến ý kiến thống nhất và đúng nhất thì tốt hơn
Từ hai quan điểm trên, suy ra, một nhóm học sẽ có hiệu quả tốt nhất khi có
số thành viên vừa đủ, phụ thuộc vào không gian học, quan hệ giữa các thành viên, đặc biệt là sự điều hành của người trưởng nhóm
3 Các thành viên nhóm phải cùng một trình độ
Thông thường thì các nhóm học là những bạn chơi thân với nhau Các bạn này lại thường có chung một khả năng học (là các mọt sách của lớp hay các mem chậm tiến) Các bạn cũng quan niệm rằng không nên có những thành viên có trình
độ khác biệt vào nhóm của mình, nếu không sẽ không đạt kết quả tốt
Ví dụ: một nhóm toàn những VIP học giỏi ở lớp không hề muốn có sự góp mặt của các mem học kém hơn họ, chậm tiếp thu hơn họ, điều đó sẽ làm giảm
không khí học tập và tiến độ ôn tập của nhóm vip này Tương tự, một nhóm toàn những bạn hơi kém một tí, mặc dù rất muốn có thành viên giỏi trong nhóm mình nhưng lại sợ bị coi thường, lên lớp
Tốt nhất, một nhóm học nên có các thành viên với nhiều mức độ và khả năng học khác nhau Vì xét cho cùng, học nhóm là để giúp nhau cùng tiến bộ Các bạn giỏi sẽ truyền kinh nghiệm cho các bạn kém Các bạn kém chưa chắc đã không có những ý kiến hay và hữu ích, mà chỉ vì họ không biết cách diễn giải mà thôi Trong khi giảng giải cho các bạn yếu, các bạn khá cũng sẽ một lần nữa tự củng cố lại kiến thức cho mình
4 Học là học, không chơi bời, giải trí gì hết!
Nhiều nhóm học hơi khắt khe trong chuyện học, ôn tập Họ tự đưa ra quyết
tâm: “Chỉ có học và ôn tập không ngừng mới có thể đạt kết quả tốt” Thế là cứ đến
Trang 3giờ học nhóm, không khí lúc nào cũng như đưa đám, nặng nề, mở miệng ra là học, chuyện quanh đi quẩn lại cũng vẫn chỉ là ôn thi
Quyết tâm học tập là tốt nhưng chớ biến việc học thành một cực hình, một gánh nặng Nếu không, sẽ có ngày các thành viên trong nhóm hoặc là stress nặng
nề hoặc là sẽ nổ tung đầu lên vì bị nhồi nhét quá nhiều Học phải đi đôi với giải trí hợp lí Một nhóm học thông minh là một nhóm học biết các thành viên muốn gì và làm gì để việc học trở nên nhẹ nhàng, thoải mái
VD: Các bạn có thể treo những giải thưởng nho nhỏ nếu các thành viên có sự
cố gắng trong học tập (được đi xem phim, xem ca nhạc, ăn chè…) Giữa các giờ học, trong giờ nghỉ, các bạn có thể cùng nhau nghe nhạc, ăn trái cây, cùng chơi các trò chơi nhẹ nhàng…
5 Học tức là “gạo” bài hoàn toàn trong sách vở
Một cách tự nhiên và gần như là chân lí, các teen luôn quan niệm học để đựơc điểm cao, để điểm cao thì phải có một kiến thức bách khoa, tức là ít nhất phải nắm rõ như lòng bàn tay các nội dung trong sách giáo khoa Vì thế, hình thức học chủ yếu của các teen là cùng nhau ngồi giải bài tập, cùng nhau kiếm tra bài, ôn bài,
ai không hiểu thì hỏi một thành viên khá nhất…chấm hết! Cách học như thế không hoàn toàn hiệu quả
Teen là lứa tuổi mà các bạn say mê khám phá thế giới khoa học xã hội một cách tự nhiên Đừng phủ nhận nhé, khám phá bằng chính cách của mình sẽ hay ho hơn nhiều là tiếp nhận những thứ đã được người ta tìm ra từ cách đó hàng thế kỉ Cách học nhóm cần phải được đổi mới để việc học nhóm trở nên thú vị và có kết quả thực chất chứ không chỉ là điểm số bề ngoài
VD: Các nhóm teen có thể tìm hiểu kiến thức qua việc cùng nhau dựng một
vở kịch (đối với môn văn), cùng đi thăm quan một địa danh, một viện bảo tàng (đối với sử, địa), thành lập câu lạc bộ đố vui (hấu hết các môn học đều tốt), cùng nhau sưu tầm tư liệu, tranh ảnh…liên quan đến môn học
Các bạn đừng sợ rằng những công việc nói trên là vô bổ, tốn thời gian Cái mà chúng ta thu được đâu chỉ là kiến thức mà còn là kinh nghịêm thực tế, trên tất cả là
Trang 4niềm say mê môn học Và các bạn cũng chẳng sợ mình đơn độc đâu Trong các tiết sinh hoạt, các bạn có thể đề xuất cách học của nhóm mình lên cô chủ nhiệm, các cô giáo bộ môn để cả lớp, thậm chí cả trường cùng học với các bạn.
Ứng dụng cụ thể công nghệ thông
tin trong dạy học
Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy toán đang là một phong trào, thậm chí là “mốt” ở nhiều trường phổ thông hiện nay Tuy nhiên, tiếp cận CNTT ra sao để thật sự hiệu quả thì vẫn còn là điều phải bàn Theo nhận xét của PGS.TS Lê Văn Tiến, Đại học sư phạm TP.HCM, có trường hợp sử dụng CNTT lại trở thành “phản đổi mới”!
Hai quan điểm tiếp cận CNTT
Theo PGS.TS Lê Văn Tiến, trên thế giới hiện có hai quan điểm chủ yếu về tiếp cận CNTT trong dạy học toán ở trường phổ thông Cách thứ nhất là tiếp cận CNTT chủ yếu qua máy tính bỏ túi Quan điểm này ngày càng được củng cố do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ khiến máy tính bỏ túi ngày càng tiệm cận với máy vi tính; máy có chức năng lập trình hay vẽ đồ thị đã xuất hiện trên thị trường thế giới hơn 10 năm nay Tính gọn nhẹ và giá cả hợp lý của máy tính bỏ túi
Trang 5tạo thuận lợi cho việc phổ cập máy tới từng học sinh (HS), trong từng tiết học và tới cả những địa bàn khó khăn như nông thôn, miền núi… Nhờ vào nó, có thể đưa việc ứng dụng CNTT vào trong chính nội dung của các môn học, không phải cấu trúc tin học như một môn học tách rời các môn học khác Đó thực sự là tin học ứng dụng, chứ không phải là tin học “lý thuyết” – chỉ nên đưa vào như một môn học tự chọn, dành cho những HS yêu thích tin học và có năng khiếu về ngành này Chính
HS là người thực sự có cơ hội khai thác ứng dụng CNTT, chứ không chỉ có giáo viên (GV) Theo quan điểm này, việc khai thác ứng dụng CNTT qua máy vi tính vẫn được khuyến khích
Quan điểm thứ hai là tiếp cận CNTT chủ yếu qua máy vi tính (như ở Việt Nam hiện nay) Từ đó, môn tin học “lý thuyết” thường được cấu trúc như một môn học độc lập và bắt buộc, đồng thời người ta gia tăng việc ứng dụng CNTT vào dạy học các bộ môn khác Tiếp cận này có nhiều ưu điểm, nhưng cũng không ít khiếm khuyết, chẳng hạn những khó khăn đối với các vùng nông thôn, miền núi; không có
sự đan xen giữa nội dung tin học với các môn học khác, làm giảm vai trò ứng dụng của CNTT
Ứng dụng CNTT không có nghĩa là đã đổi mới phương pháp dạy học
( ảnh chỉ có tính chất minh hoạ – nguồn: sưu tầm )
Trang 6Ứng dụng CNTT không đồng nhất với đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận lợi cho triển khai PPDH tích cực, chứ không phải là điều kiện đủ của PPDH này Để một giờ học có ứng dụng CNTT là một giờ học phát huy tính tích cực của HS, thì điều kiện tiên quyết là việc khai thác CNTT phải đảm bảo các yêu cầu và tính đặc trưng của PPDH tích cực mà GV lựa chọn PGS.TS Lê Văn Tiến cho rằng, hai trong các đặc trưmg cơ bản của PPDH tích cực là:
HS được tạo cơ hội hoạt động tích cực và kiến thức là do HS kiến tạo với sự giúp đỡ của GV
Trong thực tế dạy học hiện nay, các bài giảng có khai thác ứng dụng CNTT thường chỉ dừng lại ở hai cấp độ: cấp độ 1 là thay thế chức năng của bảng và phấn; cấp độ 2 là tạo ra các hình ảnh trực quan cụ thể về toán học hoặc về quy trình thao tác trên các đối tượng đang nghiên cứu trong bài dạy Điều này tạo thuận lợi cho học sinh tiếp thu kiến thức toán học vốn rất trừu tượng Nói cách khác, nguyên tắc dạy học “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” ít nhiều đã được vận dụng Tuy nhiên, người thiết kế thường “sao nhãng” việc quán triệt các yêu cầu đặc trưng của PPDH tích cực và chưa phối hợp tốt các PPDH khác nhau Điều này làm hạn chế hiệu quả của các giải pháp đổi mới PPDH
Hiện nay hầu hết các bài giảng cho ứng dụng CNTT đều thiên về khả năng khai thác CNTT của chính người dạy chứ không phải của người học GV thường không đòi hỏi HS phải biết khai thác CNTT mà chỉ mong muốn các em thừa hưởng được kết quả vận dụng của GV Việc học sinh không trực tiếp khai thác CNTT để tiến hành các hoạt động liên quan tới bài dạy làm giảm đi hiệu quả học tập kiến thức Vì vậy, PGS.TS Lê Văn Tiến cho rằng cần tạo cho học sinh các cơ hội trực tiếp khai thác CNTT để giải quyết các vấn đề liên quan tới nội dung dạy học do GV đặt
ra hoặc do chính người học đề xuất