Trước khi vào học đại học, Ketterle nhận được học bổng của Quỹ tài trợ tài năng Quốc gia Đức và một phần của học bổng này là cơ hội tham dự các khóa học hè đặc biệt ở dãy Alps Italia.. q
Trang 1GIẢI NOBEL VẬT LÝ 2001
Các cuộc thám hiểm của Ketterle trong thế giới kỹ thuật bắt đầu với Legos
Đó là một trò chơi xây dựng các vật chuyển động từ các khối xây dựng cơ bản Ketterle rất sáng tạo trong trò chơi này Ketterle có thể sử dụng các bộ lắp ráp điện, các bộ sửa chữa đồ dùng gia đình và làm được đồ mộc Cha mẹ Ketterle rất tin vào
Trang 2khả năng của ông khi cho phép ông làm thực nghiệm với các hỗn hợp dễ nổ Điều gây ấn tượng đối với Ketterle là một hỗn hợp như thế có khả năng làm chảy kim loại Ketterle còn tháo rời các đài vô tuyến và tivi cũ và kết hợp một đài vô tuyến xách tay và một bộ khuếch đại âm thanh của ống chân không để tạo ra âm thanh nổi Ketterle quan tâm học nhiều về điện tử nhưng ông thất vọng vì các bộ lắp ráp điện tử chỉ giải thích cách phối hợp các bộ phận với nhau như thế nào chứ không giải thích được các bộ phận này thực sự hoạt động như thế nào Vì thế, Ketterle mặc dù thám hiểm khoa học và công nghệ từ lúc còn nhỏ ông không hiểu sâu sắc lắm Điều đó một phần vì không ai giảng giải cho ông và một phần vì ông sử dụng nhiều thời gian ở trường và chơi thể thao
Ketterle học tiểu học ở Eppelheim và Heidelberg Các bài học khoa học của ông không có thí nghiệm và sự đa dạng của các đề tài và trò chơi khoa học mà con cái của Ketterle sau này rất thích thú ở trường của chúng Tuy thế, các bài học này rất có ích đối với sự quan tâm của Ketterle Ketterle còn nhớ đến một giáo viên toán tên là Albrecht Strobel Strobel giảng bài theo cảm hứng Ông ấy thách đố Ketterle với các bài toán đặc biệt và cố gắng truyền thụ cách tiếp cận các vấn đề toán học theo cách vui đùa Khoa học và toán học không đòi hỏi quá nhiều cố gắng của Ketterle Ketterle học chăm chỉ để đạt điểm cao nhất về ngôn ngữ và các môn học khác Vì thế, Ketterle là học sinh giỏi nhất trong lớp học của ông Ngoài giờ học, Ketterle thích chơi bóng đá và bóng rổ Ông có thể chạy xa và thỉnh thoảng thi nhảy sào Ketterle còn duy trì chơi thể thao cho tận tận bây giờ Khi Ketterle khoảng 30 tuổi, ông có thể chạy maratông trong vòng ba giờ và tham gia các cuộc đua xe đạp đường dài
Sau khi tốt nghiệp trường trung cao, Ketterle muốn vào học đại học ngành vật lý, toán học hợc khoa học máy tính Ông quyết định học vật lý vì ông cho rằng vật lý sẽ kết hợp thế giới thực và toán học Lúc này, ông chưa hình dung được bức tranh của vật lý hiện đại Khi ông học nhiều hơn về vật lý, ông ngày càng yêu thích
nó Trước khi vào học đại học, Ketterle nhận được học bổng của Quỹ tài trợ tài năng Quốc gia Đức và một phần của học bổng này là cơ hội tham dự các khóa học
hè đặc biệt ở dãy Alps (Italia) Ông có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đồi núi và đi
bộ đường dài Từ đó, nó trở thành một trong các hoạt động ưa thích của ông Điều
Trang 3quan trọng nhất là các khóa học này đã lựa chọn được một nhóm của các sinh viên rất giỏi Các mối tương tác với họ là động lực thúc đẩy ông đặt ra các mục tiêu cao trong cuộc sống của ông
Năm 1976 Ketterle vào học Đại học Heidelberg Trường đại học này là trường đại học thứ hai của nước Đức và nó được thành lập năm 1386 Sau khi học hai năm, Ketterle đã vượt qua kỳ thi trung gian và chuyển sang học Đại học Kỹ thuật Munich Ông muốn học trường này vì Munich là một trong các thành phố hấp dẫn nhất của nước Đức và Đại học Kỹ thuật Munich là một trường tuyệt vời về nhiều lĩnh vực con khác nhau Khi đó, Ketterle không chắc mình sẽ đi sâu vào chuyên môn nào và chỉ có một ý niệm không rõ ràng về lĩnh vực hiện nay của ông
là vật lý nguyên tử
Bắt đầu một cuộc sống độc lập ở một thành phố mới thực không dễ dàng Việc gần dãy Alps là một lời mời đến đó đi bộ đường dài về mùa hè và trượt tuyết
về mùa đông Ông yêu thích cả nhà hát lớn và nhà hát nhỏ cùng với các bảo tàng nghệ thuật ở Munich Ketterle còn tham gia vào hoạt động của phong trào hòa bình
và hoạt động của một nhóm nghiên cứu về các vấn đề của thế giới thứ ba
Vào thời gian cuối ở Đại học Kỹ thuật Munich, Ketterle rất quan tâm đến vật
lý lý thuyết và viết luận văn tốt nghiệp đại học với đề tài về sự hồi phục spin trong các vật liệu hỗn độn Luận văn của Ketterle do giáo sư Wolfgang Gotze hướng dẫn Ketterle học được sự tường minh của Gotze trong việc phân tích các bài toán và cách Gotze thu được hiểu biết vật lý từ các lời giải toán học Đề tài luận văn cần thực hiện trong một năm và cuối cùng Ketterle tự tìm ra điểm quyết định trong cuộc đời của mình Cho đến lúc đó, ông đã tập trung vào các vấn đề khoa học thuần túy và ông muốn có kinh nghiệm về vật lý ứng dụng và kết hợp nó với các vấn đề của thế giới thực Do đó để chuẩn bị cho luận án tiến sĩ của mình, Ketterle chọn một đề tài thực nghiệm là phân tích vết của các chất bán dẫn bằng cách sử dụng quang phổ laze Đề tài này do giáo sư Herbert Walther và tiến sĩ Hartmut Figger tại Viện Quang học lượng tử Max-Planck ở Garching hướng dẫn Sau một năm thực hiện đề tài này, ông nhận ra rằng đề tài này quá khó thực hiện trong điều kiện thiết
bị luíc đó Do ông không muốn bắt đầu từ con số không, ông tiếp tục nghiên cứu ở
Trang 4cùng phòng thí nghiệm và tập trung vào quang phổ cơ bản của các phân tử nhỏ Ketterle đã tạo ra các phân tử trung hòa kích thích bằng cách chuyển điện tích cho một chùm ion có khối lượng lựa chọn Điều này đem lại cho ông khả năng chọn lọc cao hơn nhiều trong việc quan sát các phân tử nào đó so với những sự phóng điện thông thường và ông thu được phổ phát quang hầu như tinh khiết của hyđrô ba nguyên tử
Đến cuối thời gian làm nghiên cứu, Ketterle áp dụng cùng một phương pháp cho hiđrua heli và quan sát thấy phổ gián đoạn đầu tiên của phân tử này Điều này xác nhận sự tồn tại của hiđrua heli Hiđrua heli là phân tử dị hạt nhân đơn giản nhất (ngoài HD ra) mà trước đó người ta chưa quan sất được phổ của nó Ketterle rất hứng thú khi ông lần đầu tiên tạo ra hiđrua heli và quay cách tử của bộ tạo đơn sắc dùng để ghi lại phổ của hiđrua heli Khi đó, xuất hiện ánh sáng hầu như ở khắp nơi trong các vùng nhìn thấy và vùng gần hồng ngoại Trong một vài tháng tiếp đó, ông đã giải mã được phổ này và thu được các giá trị đầu tiên đối với các chiều dài liên kết và tần số dao động của phân tử hiđrua heli Ông cảm thấy hạn phúc khi xác định được các tính chất cơ bản của một phân tử mới Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ, Ketterle làm thực tập sinh ở Viện Max-Planck và nghiên cứu sự kích thích laze của các trạng thái Rydberg đối với hyđrô ba nguyên tử và hiđrua heli Ông đã thành công trong việc phân tích tất cả phổ phát xạ của hiđrua heli mà ông đã phát hiện ra trong khi làm nghiên cứu sinh Việc phân tích phổ khá phức tạp vì sự quay phân tử dẫn đến một sự phá vỡ phép gần đúng Born-Oppenheimer gọi là sự tách đội L (L-uncoupling) Vì thế, xảy ra sự trộn của các trạng thái electron khác nhau Hơn nữa, phổ bị nhiễu loạn bởi các tương tác giữa các trạng thái s, p và d Một số các trạng thái electron và các nhiễu loạn của chúng cần phải được tái hiện đồng thời trước khi phổ tính toán bắt đầu chỉ ra một sự tương tự nào đó với số liệu Ketterle xem việc tìm ra lời giải cho bí ẩn này là một trong nghiên cứu khó nhất mà ông đã làm được
Trước khi hoàn thành luận án tiến sĩ của mình, Ketterle đã biết rằng ông sẽ không làm về quang phổ phân tử nữa Ông muốn nghiên cứu trong một lĩnh vực vật lý cơ bản hơn hoặc tập trung vào một lĩnh vực liên quan trực tiếp đến nhu cầu của xã hội Ketterle đã tham gia một số cuộc phỏng vấn và có một số lời mời làm
Trang 5việc tại một số cơ sở công nghiệp Cuối cùng, ông quyết dịnh theo đuổi nghiên cứu ứng dụng trong một cơ sở trường đại học nhằm duy trì ít nhất sự tự do nghiên cứu khoa học Ketterle tham gia vào nhóm của giáo sư Jurgen Wolfrum tại Đại học Heidelberg Ở dó, ông nghiên cứu hóa lý và tập trung vào phép chẩn đoán cháy bằng laze Quang phổ phân tử mà lúc đó ông là một chuyên gia đã được sử dụng để
đo nhiệt độ và các nồng độ phân tử trong một ngọn lửa Một trong các đề tài chính của ông đã được thực hiện khi hợp tác với Hãng Volkswagen Nhiệm vụ của ông là vận chuyển một tải trọng của các laze và thiết bị đến một giá thử nghiệm động cơ tại một nhà máy và tính đến các vấn đề như muội than trên các cửa sổ của động cơ nhìn suốt qua được và sự chảy nhỏ giọt của dầu từ một động cơ Diesel
Sự thay đổi lĩnh vực làm việc là một kinh nghiệm rất quan trọng đối với Ketterle Kinh ngạc khi nhìn thấy nhiều điều mà mình học được trước đây có thể được áp dụng trong lĩnh vực mới, Ketterle nhận thức được rằng các năng lực chung quan trọng hơn nhiều so với kiến thức riêng Ông nghĩ cần một thời gian dài
để ông có thể trở nên có ích trong môi trường mới của mình nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi ông chuyển sang lĩnh vực mới, các nghiên cứu sinh trong lĩnh vực này đã tìm gặp ông để xin ý kiến giúp đỡ Kinh nghiệm này giúp ông tự tin để mạo hiểm đi vào các lĩnh vực mới và tạo ra lực đẩy cho quyết định sau này của ông
là đến Mỹ và bắt đầu trở lại một lần nữa trong một lĩnh vực mới
Khi công việc của bạn liên quan trực tiếp đến sự cháy sạch hơn và có hiệu quả hơn, bạn có thể dễ dàng thuyết phục những người không làm khoa học về tính liên quan trong nghiên cứu của bạn Ketterlr thích thú điều đó cũng như các tương tác với công nghiệp và các kỹ sư Tuy nhiên, ông bắt đầu quên mất một điều là sự tìm kiếm kiến thức thuần túy và sự theo đuổi mục đích mà chúng chỉ được xác định một cách mập mờ và thay đổi thành những tiến bộ nghiên cứu Do đó, ông nhận ra rằng vị trí của ông cần phải ở trong nghiên cứu cơ bản
Lúc 32 tuổi, Ketterle quyết định thay đổi lĩnh vực làm việc một lần nữa Ông muốn chuyển sang một lĩnh vực của vật lý cơ bản mà ở đó ông có thể áp dụng một
số kiến thức của mình trong quang học và quang phổ và do đó ông nhận ra lĩnh vực của các nguyên tử lạnh như một lĩnh vực có triển vọng nhất Khi đó, Ketterle
Trang 6cho rằng lĩnh vực làm lạnh và bẫy bằng laze đã tiến đến đỉnh cao của nó nhưng vẫn còn đủ chỗ để nghiên cứu Ông không dự tính được rằng điều tốt nhất còn chưa tới
Việc rời khỏi một vị trí lâu dài ở Đức và nhận một vị trí thực tập sinh ngắn hạn ở Mỹ là một sự bất trắc đối với bản thân Ketterle và gia đình ông Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu cháy ở Heidelberg đã giúp ông phát hiện ra cái mà ông thực
sự muốn làm và củng cố thêm sự tự tin của ông Ketterle tự nguyện chấp nhận các bất trắc mà một vài năm trước đây ông không dám làm Qua tiếp xúc mọi người và đọc các tuyển tập báo cáo hội nghị, Ketterle nhận ra các nhóm hàng đầu trong lĩnh vực nguyên tử lạnh mà ông quan tâm và liên lạc với các nhóm này để đề nghị cộng tác nghiên cứu với họ Ông đã nhận được hai lời đề nghị cộng tác từ các nhóm này mặc dù ông thiếu kinh nghiệm về các nguyên tử lạnh Mùa xuân năm 1990, Ketterle đến làm việc với nhóm của Dave Pritchard ở MIT
Trong năm đầu tiên ở MIT, Ketterle nhận được học bổng của Cơ quan trao đổi hàn lâm Đức (DAAD) Đó là một truyền thống ở Đức nhằm hỗ trợ nghiên cứu khoa học ở nước ngoài Không may là truyền thống này không có ở Mỹ Ở MIT, một nửa số nghiên cứu sinh là người nước ngoài Ở đó người ta không có thành kiến
Họ khá khoan dung và đánh giá cao những ý tưởng và phong cách làm việc khác thường Ketterle nhận ra một bầu không khí đặc biệt trong nhóm của Pritchard Trước đây, ông làm việc trong hai nhóm khá lớn ở Đức Nhóm của Pritchard nhỏ hơn Các tương tác giữa Ketterle và Pritchard và các thành viên khác của nhóm rất thông tục Cả nhóm tạo ra một bầu không khí bạn bè thân thiết Kiến thức của Pritchard về các nguyên tử lạnh rất uyên bác Trong các cuộc thảo luận trao đổi, Pritchard có thể trả lời hầu như bất kỳ câu hỏi nào và ngay lập tức đưa ra đánh giá xem hiện tượng có thể quan sát được hay không Lúc đầu, Ketterle cảm thấy sự hăm dọa và thách đố bởi quyền uy khoa học của Pritchard nhưng hai người sớm trở thành những người bạn bình đẳng hơn Đó là sự mở đầu của một sự hợp tác tuyệt vời mà nó cho đến nay vẫn còn tiếp tục
Năm 1986 Ketterle cưới vợ là Gabriete Sauer Vợ chồng ông có ba con là Jonas (sinh năm 1986), Johanna (sinh năm 1988) và Holger (sinh năm 1992) Ông
và vợ ông rất khác nhau và sống xa nhau nhiều năm Năm 2001, họ chia tay nhau
Trang 7hai tháng trước khi có thông báo rằng ông được trao Giải Nobel
Carl E Wieman sinh ngày 26 tháng 3 năm 1951 tại Corvallis (Oregon, Mỹ)
và là con thứ tư trong một gia đình có năm con Ông bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Stanford năm 1977 và trở thành giáo sư vật lý tại Đại học Colorado ở Boulder
từ năm 1987
Cha mẹ Wieman là N Orr và Alison Wieman và đều tốt nghiệp đại học Cha Wieman bắt đầu làm việc trong ngành công nghiệp khai thác rừng và trong phần lớn tuổi thơ của Wieman, cha Wieman làm thợ cưa trong một nhà máy cưa Hầu hết thời thơ ấu của Wieman sống trong các khu rừng ở Oregon Có lẽ tính độc lập của Wieman sớm hình thành vì ông sống xa các ngôi nhà khác và các đô thị Wieman thường lang thang trong các khu rừng cây lãnh sam (fir) Douglas cao ngất Wieman dành nhiều thì giờ đọc sách và hái quả và nõn cây lãnh sam để kiếm tiền
Cứ đến thứ bẩy hàng tuần, gia đình Wieman lại đi đến thị trấn gần nhất để mua bán hàng hóa Một sự dừng chân ở thư viện công luôn luôn là một phần của các chuyến
đi này Cha mẹ Wieman cố gắng sắp xếp để con cái của họ được sử dụng sách của thư viện Các thủ thư cho phép Wieman mượn quá số sách qui định của thư viện là năm cuốn Các gia đình đều có ti vi trừ gia đình Wieman Điều đó lại rất tốt cho Wieman vì Wieman dành thì giờ để đọc sách mà không mất thì giờ xem ti vi
Wieman đến trường tiểu học (cho đến lớp 6) tại trường phổ thông thung lũng Kings Đó là một trường nông thôn nhỏ mà nó được mở rộng từ một phòng sang ba phòng một thời gian ngắn trước khi Wieman vào học Các giáo viên lý tưởng trẻ tuổi về toán học và khoa học ở đây đã có ảnh hưởng quan trọng đến Wieman Wieman đặc biệt nhớ đến giáo viên khoa học của mình là Ron Tobias Khi
đó, Tobias vừa mới bắt đầu công việc giảng dạy của mình Bạn học với Wieman đều
là con cái của những người đốn củi và nông dân Vì thế, việc học đối với các học sinh này không được chú ý lắm và rất khó dạy họ đối với một giáo viên trẻ Tobias bằng kiến thức và nhiệt tình của mình đã khơi dậy sự quan tâm của Wieman đối với khoa học Wieman còn nhớ những giải thích của Tobias về các cấu trúc của các nguyên tử trong bảng tuần hoàn và các cấu trúc này xác định nhiều tính chất hóa
Trang 8học và các phản ứng phân tử khác nhau như thế nào Sau khi Wieman học xong lớp
7, cha mẹ Wieman chuyển gia đình đến Corvallis Anh em Wieman tránh phải đi học xa bằng xe ô tô và có điều kiện học ở hệ thống trường tốt hơn trong một
“thành phố lớn” có 25 000 dân Gia đình Wieman chuyển đến một ngôi nhà trong
đó có một hệ thống sưởi nóng trung tâm thay cho lò gỗ ở nhà cũ và có một đường phố lát thực sự ở ngoài mặt trước nhà Mặc dù Wieman không bao giờ là một đứa trẻ dễ hòa nhập lắm Corvallis cung cấp cho Wieman những người bạn đồng hành
dễ chịu hơn một chút Những quan tâm hiểu biết của Wieman và những quan điểm chính trị tự do của cha mẹ Wieman luôn luôn bất hòa một chút với các khuynh hướng của các bạn học nông thôn trước đây của Wieman nhưng Wieman thích nghi tốt hơn với các bạn bè có cha mẹ làm việc tại Đại học Quốc gia Oregon Wieman trở nên một người bạn gần gũi với một đứa trẻ rất nhanh trí là Brook Firey Cha của Firey tên là Bill và ông là một giáo sư toán học Một mùa hè Bill dạy cho Firey và Wieman một khóa học riêng về hình học Khi đó, Wieman không nhận
ra có một điều gì đó bất thường về việc một giáo sư đại học sử dụng một vài giờ mỗi ngày để cung cấp sự hướng dẫn cá nhân cho hai đứa trẻ 14 tuổi
Ở trường trung cao, Wieman là một học sinh tốt nhưng không bao giờ nằm trong số học sinh giỏi nhất của lớp Wieman làm chủ được sách vở của mình nhưng thường hơi quá độc lập để làm chính xác điều mà giáo viên mong muốn Vì thế, Wieman không bao giờ được xem như nằm trong số các học sinh hàng đầu của lớp Thường thì giáo viên càng kém (ít nhất theo đánh giá của Wieman), thứ bậc của Wieman trong lớp càng thấp Mặc dù luôn luôn quan tâm đến khoa học, các giờ học đáng nhớ nhất của Wieman là các giờ học văn học và viết Từ lớp 7 đến lớp 10, Wieman say mê chơi cờ vua và hàng ngày đều dành thời gian nhiều giờ để tập luyện Wieman đã đi thi đấu ở khắp Oregon và thỉnh thoảng đến các bang lân cận
để tham gia các các cuộc thi đấu nhiều vòng Wieman đạt hạng cao ở vùng tây bắc
Mỹ trong nhóm tuổi của mình nhưng ở tuổi 16 Wieman quyết định “nghỉ hưu” để
sử dụng thời gian của mình vào các hoạt động bổ ích hơn Các hoạt động này là học tập và chơi quần vợt
Các lớp học ở trường trung cao đủ tốt để cho phép Wieman được nhận vào MIT Wieman nghi ngờ việc mình được nhận vào trường đại học là nhờ giúp đỡ
Trang 9của những người nào đó Có thể họ muốn lôi kéo sự chú ý bằng cách nhận vào học một học sinh từ một vùng xa xôi hẻo lánh như vùng rừng núi Oregon Tài năng của Wieman về chơi cờ vua và quần vợt cũng có thể đóng một vai trò nào đó Mặc dù nhiều người có thể ngạc nhiên về việc một đứa trẻ ở vùng rừng núi Oregon khao khát vào học MIT nhưng việc Wieman vào học MIT có thể được giải thích bởi nhiều
lý do Chẳng hạn như gia đình Wieman luôn luôn quan tâm đến việc giáo dục con cái và tạo mọi điều kiện để con cái tự do phát triển khả năng của chúng Cha mẹ của Wieman đều tốt nghiệp đại học và xuất phát từ các gia đình được giáo dục tốt Ông nội của Wieman là Henry Wieman - một giáo sư thần học khá nổi tiếng ở Đại học Chicago Trong số bốn anh em ruột của Wieman có hai người là tiến sĩ, một nhà vật lý hạt nhân thành đạt và một kỹ sư phần mềm cao cấp
Cá tính của Wieman là theo đuổi mạnh mẽ một hoạt động riêng nào đó và bỏ hết mọi thứ khác Wieman nói rằng nó đã và đang là một trong những điểm mạnh
và điểm yếu đáng chú ý nhất của mình Sau khi "nghỉ hưu" chơi cờ vua, sự tập trung của Wieman chuyển sang chơi quần vợt Wieman chơi quần vợt suốt năm học đầu tiên ở MIT và đã tham gia các cuộc thi đấu liên trường đại học Wieman còn học chơi môn bóng quần và nhanh chóng trở thành người chơi giỏi nhất trong đội bóng quần liên trường đại học của sinh viên viên năm thứ nhất Sự nghiệp chơi bóng quần của Wieman nổi bật đến mức Wieman có thể tự cho không cần để ý đến một số vận động viên bóng quần giỏi nhất trong nước trong đó có cả một nhà vô địch quốc gia tương lai Không may là cố gắng thi đấu khá quyết liệt của Wieman vượt quá các khả năng thể chất hạn chế của ông và sau một số lần bị thương nhẹ, cuối năm học thứ nhất Wieman bị thương nặng ở khuỷu tay phải của mình do tập luyện thái quá Sau một số lần điều trị không thành công, Wieman chuyển sang chơi tay trái và đầu năm học thứ hai Wieman bắt đầu thi đấu trở lại cả quần vợt và bóng quần ở cấp liên trường đại học Wieman lại bị chấn thương nặng ở khuỷu tay trái và ở tuổi 19 Wieman miễn cưỡng "nghỉ hưu" lần thứ hai để tập trung hoàn toàn cho vật lý
Wieman học không tốt lắm ở năm thứ nhất nhưng ông rất thích một buổi thảo luận vật lý không chính thức của giáo sư Al Hill Hill là một giảng viên già có
vẻ ngoài cộc cằn nhưng tốt bụng Mặc dù Wieman quan tâm đến vật lý từ khi học
Trang 10lớp 7 nhất là về dáng điệu của ánh sáng và các nguyên tử, ông hoàn toàn không bị thuyết phục rằng ông muốn đi sâu vào vật lý khi vào học MIT Hill đã động viên khuyến khích Wieman sớm đi vào nghiên cứu vật lý Wieman đã trao đổi điều này với một giảng viên năm thứ nhất của mình là Daniel Kleppner Kleppner đã cho phép Wieman vào làm việc tại phòng thí nghiệm của ông ấy vào mùa hè đầu tiên của Wieman ở MIT Wieman nhanh chóng gắn bó với công việc nghiên cứu và tiếp tục làm việc trong nhóm của Kleppner cho đến khi Wieman rời khỏi MIT Wieman
có điều kiện tiếp xúc với các nghiên cứu sinh và thực tập sinh (đáng chú ý là Dave Pritchard) trong nhóm nghiên cứu của Kleppner Việc đào tạo Wieman trở thành một nhà vật lý chủ yếu nhờ vào nghiên cứu của ông ở phòng thí nghiệm của Kleppner và các tương tác giữa ông và các thành viên trong nhóm của Kleppner Wieman còn sử dụng nhiều thời gian tham gia thảo luận với một nhóm xemina không chính thức gọi là "gia đình vật lý" do Rai Weiss và Al Hill điều khiển
Do sự giáo dục không chính thống này, Wieman tốt nghiệp đại học ngành vật lý với nhiều hứng thú hơn so với phần lớn các bạn học của ông cũng như sự hiểu biết tốt hơn nhiều về nhiều khái niệm cơ bản như các khái niệm của cơ học lượng tử Dĩ nhiên, Wieman yếu hơn đáng kể trong việc giải quyết vấn đề theo kiểu chính thống và ông còn không học được nhiều từ tài liệu chuẩn của chương trình đào tạo chính qui Tuy nhiên khi Wieman cần biết một tài liệu nào đó, ông có thể tự học nó theo một cách khác với các bạn học của ông Kinh nghiệm học đại học của ông làm cho ông nghi ngờ quan điểm cho rằng một sinh viên không thể trở thành một nhà vật lý nếu như người đó không học tất cả các môn học trong chương trình đào tạo Wieman có một sự nghiệp thành công về quang học và vật lý nguyên tử
mà không học một trong hai môn học này Một số người có thể tranh cãi rằng điều
đó chỉ có thể xảy ra vì Wieman là một sinh viên đặc biệt và một sinh viên thông thường cần phải tham gia một chương trình đào tạo chính qui với một số lớn các môn học và kỳ thi Tuy nhiên, có thể lưu ý rằng trước khi nhận được "giáo dục" khác thường này một ít người cho Wieman là một loại người đặc biệt như một sinh viên vật lý
Ngay trong khi học đại học, Wieman đã một thực nghiệm riêng của mình về việc chế tạo và sử dụng một laze màu điều hưởng được Khi đó, nó một thiết bị rất