1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận về bệnh Tiêu Khát

44 490 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận về bệnh Tiêu Khát
Người hướng dẫn BS. Nguyễn Xuân Hướng - Chủ tịch Trung ương Hội Đông y Việt Nam, BS. Trần Văn Bản - Phó Chủ tịch kiêm Tổn...
Trường học Trung ương Hội Đông y Việt Nam
Chuyên ngành Y học cổ truyền
Thể loại Bài luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 163,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con người sinh ra luôn tìm kiếm sự bất tử, trường sinh, trường thọ. Song vẫn chưa thoát khỏi cái vòng “Sinh Lão Bệnh Tử”. Bệnh tật luôn tồn tại quanh ta và đe dọa tới sức khỏe, tính mạng của chúng ta bất kỳ lúc nào. Để nâng cao kiến thức về sức khỏe, cách phòng tránh và điều trị bệnh tật. Trước hết là để giúp mình, giúp cho gia đình và sau đó là giúp cho xã hội. Em đã biết đến và tham gia học tập tại lớp Đông y chuyên sâu của Trung ương hội Đông Y.Dưới sự dìu dắt dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, tới giờ em đã học được nhiều: Học làm người, học làm thầy. Với những kiến thức thầy, cô truyền đạt em sẽ quyết tâm trao dồi và tiếp tục học tập nghiên cứu để hoàn thiện bản thân. Thực hiện tốt phương châm “Sáng về Y đức, sâu về y lý, giỏi về y thuật” tiếp bước thầy, cô trên con đường chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ “ Lương y như Từ Mẫu”, luôn lấy lời dạy bảo của danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác làm kim chỉ Nam trong suốt quá trình học tập và hành nghề sau này “Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người. Phải lo cái lo của người và vui cái vui của người. Chỉ lấy việc cứu sống sinh mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công...”

Trang 1

Lời cảm ơn 1

Lời mở đầu 3

Phần I: Tổng quan tài liệu 7

Phần II: Những đặc điểm, đại cơng về bệnh Tiêu Khát 12

Phần III: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh 13

Phần IV: I Các chứng trạng lâm sàng 15

II Chẩn đoán 15

III Biện chứng về chứng trạng 16

IV Biện chứng về phép điều trị 18

Phần V Trị liệu 21

I Nếu thiên về thợng tiêu 21

II Nếu thiên về trung tiêu 22

III Nếu thiên về hạ tiêu 23

IV Thận âm và thận dơng lỡng h 24

V Phòng bệnh 26

Các phơng thuốc tham khảo 27

Các phơng thuốc kinh nghiệm điều trị chữa Tiêu Khát 34

Một số bài thuốc nam chữa bệnh Tiêu Khát 37

Phần VI: Bàn luận 48

Phần VII: Kết luận 49

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Con người sinh ra luôn tìm kiếm sự bất tử, trường sinh, trường thọ Songvẫn chưa thoát khỏi cái vòng “Sinh - Lão - Bệnh - Tử” Bệnh tật luôn tồn tạiquanh ta và đe dọa tới sức khỏe, tính mạng của chúng ta bất kỳ lúc nào Để nângcao kiến thức về sức khỏe, cách phòng tránh và điều trị bệnh tật Trước hết là đểgiúp mình, giúp cho gia đình và sau đó là giúp cho xã hội Em đã biết đến vàtham gia học tập tại lớp Đông y chuyên sâu của Trung ương hội Đông Y

Dưới sự dìu dắt dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, tới giờ em đã họcđược nhiều: Học làm người, học làm thầy Với những kiến thức thầy, cô truyềnđạt em sẽ quyết tâm trao dồi và tiếp tục học tập nghiên cứu để hoàn thiện bảnthân Thực hiện tốt phương châm “Sáng về Y đức, sâu về y lý, giỏi về y thuật”tiếp bước thầy, cô trên con đường chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân,xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ “ Lương y như Từ Mẫu”, luôn lấy lời dạy bảocủa danh y Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác làm kim chỉ Nam trong suốtquá trình học tập và hành nghề sau này “Đạo làm thuốc là một nhân thuậtchuyên bảo vệ sinh mạng con người Phải lo cái lo của người và vui cái vui củangười Chỉ lấy việc cứu sống sinh mạng người làm nhiệm vụ của mình khôngnên cầu lợi kể công ”

Giờ đây, khi sắp phải rời xa nghế nhà trường bằng những dòng chữ tâmhuyết nhất, em thổ lộ tấm lòng mình để nghi nhớ và cảm ơn sâu sắc nhất đến cácthầy cô - những người đã thắp sáng tâm hồn và ước mơ cao cả của đời em

Kính chúc quý thầy luôn mạnh khỏe hạnh phúc và trẻ mãi không già

Trang 3

- TTƯT, Lơng y Vũ Xuân Quang - Giảng viên môn Y dịch.

- TTƯT, Lơng y Trần Văn Quảng - Giảng viên môn Han học

- TTƯT, Lơng y Nguyễn Thiên Quyến - Giảng viên môn Ôn bệnh

- Cô giáo, Thạc sĩ Trần Thị Mai - Giảng viên môn ngoại khoa

- Cô giáo, Bác sĩ Hoàng Bội Hơng - Giảng viên môn Nội khoa

- Cô giáo, Thạc sĩ Trần Thị Tới - Giảng viên môn Nội khoa

- Thầy giáo, Dợc sĩ Phạm Hinh - Giảng viên môn Dợc

- Thầy giáo, tiến sĩ Trần Xuân Nguyên - Giảng viên bộ môn nội khoa

- Thầy giáo Thạc sĩ Trần Văn Khanh - Giảng viên môn Vật lí trị liệu - xoa bóp

- Bệnh viên Châm cứu Trung ơng

- Bệnh viện Y học cổ truyền Quân đội

Đã tận tình giúp đỡ em trong công tác học tập và quá trình hoàn thành tiểuluận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hng Yên ngày 12 tháng 12 năm 2010

Học viên

Trần Thị Thảo

Trang 4

Nền Đông y Việt Nam đã được văn bản hoá từ năm 1010 (thời nhà Lý).Thế kỷ thứ 13, nhà bác học Chu Văn An đã nêu đường lối chữa bệnh khôngdùng mê tín dị đoan Thế kỷ 14, đại danh y Tuệ Tĩnh nghiên cứu cây con thuốcViệt Nam để chữa bệnh (580 vị thuốc trong 3873 đơn thuốc cho 10 loại chuyênkhoa trị bệnh) Thế kỷ 18 đại danh y Lê Hữu Trác với tên hiệu là Hải ThượngLãn Ông đã biên soạn tập sách thuốc "Y TÔNG TÂM LĨNH" gồm 28 bộ có 66tập sách về y đức, vệ sinh phòng bệnh, y lý cơ bản, dược lý, bệnh lý, các đơnthuốc có công hiệu, bệnh án, một số trường hợp bệnh

Trong nền Văn Minh Ðại Việt đã có 155 vị danh y với 497 tập tuyển sách

y học cổ truyền dân tộc được viết bằng tiếng Hán và tiếng Nôm Trong thế kỷ 20các vị danh y Việt Nam cũng đã biên soạn trên 200 tập sách có giá trị về Đông ybằng tiếng Quốc ngữ Nền y học dân gian của 54 dân tộc trong cộng đồng ViệtNam gắn liền với sự sinh sống từng vùng địa dư sinh thái và xã hội Từng dântộc trong quá trình tồn sinh và phát triển đều tích luỹ được những kinh nghiệm

về sử dụng cây con thuốc có ở từng địa phương

Ðông y Việt Nam với hệ thống lý luận chặt chẽ, với các phương phápphòng và chữa bệnh có hiệu quả, đã phục vụ đắc lực cho việc giữ gìn và bảo vệsức khoẻ cho nhân dân từ xưa tới nay

Kể từ năm 1957 nhiều cơ sở Đông y đã được thành lập và đã có tác dụnglớn.Trong công tác đào tạo các cán bộ Đông y, thừa kế các vị lương y nổi tiếng,

Trang 5

học, nuôi trồng bào chế dược liệu Trên 40 năm qua (1957 - 2000) hệ thốngĐông y được phát triển, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ trong sự nghiệp

dự phòng và chữa bệnh nói chung và trong việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu tạicộng đồng nói riêng Hệ thống cán bộ Đông y hiện nay bao gồm các bác sỹ, cácdược sỹ, kết hợp Đông Tây y , các lương y và các y sỹ Đông y

Đông y Việt Nam có lý luận cơ bản của y học phương Ðông và biệnchứng luận trị mang tính khái quát, tính biện chứng và tính thực tiễn Các biệnpháp bảo vệ sức khoẻ gồm:

1 Quan niệm về bảo vệ sức khoẻ: là công việc phải tự con người có ý thức tự

giữ gìn sức khoẻ của bản thân mình, lấy phòng bệnh từ gốc, nâng cao sức chống

đỡ bệnh tật của cơ thể

2 Những nhận thức cơ bản về dự phòng bệnh tật bảo vệ sức khoẻ:

•Tạo trạng thái cân đối hài hoà giữa "tự nhiên và con người";

•Giữ cân bằng trong quy luật "đối lập, hổ căn, bình hành và thống nhất của

Âm, Dương";

•Giữ cân bằng trong quy luật "Sinh, Khắc, Chế, Hóa của Ngũ Hành";

•Phòng bệnh một cách tích cực triệt để từ "cá nhân đến xã hội"

Các quan niệm và nhận thức này cơ bản phù hợp với các hoc thuyết Thiên - Ðịa

- Nhân hợp nhất và nhân thể là một chỉnh thể trong y học

3 Các biện pháp ứng dụng thực tế:

• Ðiều hoà cơ thể giữ cân bằng trong cuộc sống con người với thiên nhiên

cả hai mặt vật chất và tinh thần, giữ gìn bảo vệ sức khoẻ cân đối trong lao động,nghỉ ngơi, ăn, mặc, ở của mọi người

• Bảo vệ sức khoẻ gắn với giáo dục tư tưởng tâm đức nhằm cải thiện tínhngười, cải lương xã hội, nâng cao dân trí

• Hàng ngày thực hiện dưỡng sinh, đạo dẫn: luyện thần, luyện lực, luyệnkhí, thực hiện tu tâm dưỡng tính để thể chất luôn luôn khang kiện, tinh thần vui

vẻ, tư tưởng ổn định, yên tĩnh mới chống đỡ có hiệu quả với tà khí bệnh tật

Trang 6

• Thực hiện vệ sinh yếu quyết, vệ sinh môi trường kết hợp chặt chẽ với đềphòng bênh tật

• Thực hiện phòng tai nạn để bảo đảm an toàn cuộc sống trong gia đình,trên đường phố, trong lao động và cộng đồng

Nội dung cơ bản trị bệnh:

• Lý luận cơ bản gồm những hiểu biết và vận dụng trong biện chứng luậntrị các phần biện luận cơ bản về lục phủ, ngũ tạng, kinh lạc, dinh vệ, khí huyết,tinh, thần, tân, dịch

• Biện luận về bát cương: Âm dương, biểu lý, hư thực, hàn nhiệt

• Biện luận về tam nhân: nội nhân, ngoại nhân, bất nội ngoại nhân

Pháp

• Thể hiện được biện chứng luận trị, phân loại theo bệnh nguyên, bệnhchứng, bệnh danh, và những ý chỉ của phép chữa bệnh gia giảm phươngthang

• Tứ chẩn trong khám bệnh: Vọng, Vãn, Vấn, Thiết (trong vọng chẩn cóthiệt chẩn, trong thiết chẩn có mạch chẩn)

• Bát pháp: Hãn, Thổ, Hạ, Tiêu, Hoà, Thanh, Ôn, Bổ

Trang 7

• éiều tra nghiờn cứu hàng nghỡn đơn thuốc y học cổ truyền, thay thể thuốcuống dạng lỏng chiếm 42%; dạng viờn bột chiếm 38%; dựng đắp, búp, xoachiếm 15%; dạng xụng 5%.Một số cõy con thực phẩm cũng được dựng trong yhọc cổ truyền

• Trỏnh dựng thuốc thỏi quỏ, hạn chế vị độc, biết điều chỉnh gia giảm cỏc vịthuốc phự hợp với diễn biến bệnh và cơ thể người bệnh

• éược sự chỉ bảo tận tỡnh của cỏc thầy cụ giỏo, cũng nhằm mục đớch giớithiệu kiến thức về éụng y đến đụng đảo quần chỳng gần xa; những cõy thuốchay , bài thuốc quớ , dễ tỡm, dễ thực hành Qua một thời gian tỡm hiểu và tổnghợp cỏc phương thuốc kinh nghiệm trong dõn gian em mạnh dạn dựng “TIêukhát” làm đề tài tiểu luận tốt nghiệp

Tuy nhiên do thời gian và trình độ còn hạn chế nên quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về chứng bệnh tiêu khát không tránh khỏi những sai sót về lý luận cũng nh kiến thức Em rất mong đợc sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo và bạn

bè để đề tài của em đợc hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 8

Phần I Tổng quan tài liệu

Tiêu Khát là một chứng bệnh do bệnh rối loạn chuyển hoá nội tiết Đây làmột loại bệnh âm ỉ không có biểu hiện phát sốt, phát nóng hay một triệu chứngnào ra bên ngoài Những bệnh này không kém phần nguy hiểm, gây nhiều biếnchứng nan y nh bệnh về đờng huyết, tai biến mạch máu não, bệnh về thận, hung

tý, quáng gà, tai điếc, phế lao và chân tay tê dại Sau đây là các ghi chép trongkinh văn cách đây hàng ngàn năm:

Trong sách “Kim Quỹ Yếu Lợc” của Trơng Trọng Cảnh có ghi: “Tiêukhát là bệnh ăn nhiều, uống nhìeu mà ngời gầy rộc đi”

Sách “Ngoại Đài Bí Yếu” ghi: “Khát mà uống nhiều nớc, tiểu nhiều đều

là bệnh Tiêu Khát”

Chân Lập Ngôn - Đời Đờng (618 - 907 trớc Công Nguyên) trong sách

“Cổ kim lục kiêm phơng” có ghi “khát mà uống tiểu tiện sác, không có mỡ - tựa

là chứng trạng rất nguy, bệnh này gọi là bệnh tiêu khát”

Trình Chung Linh trong “Y học Tâm Ngộ” chia tiêu khát làm 3 thể “Khát

mà uống nhiều là thợng tiêu, tiêu cơm hay đói là trung tiêu, khát nớc ra nh mỡ làhạ tiêu”

Trang 9

Từ các triệu chứng của bệnh nh trên các Kinh văn đều có giải thíchnguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh nh sau:

Trong sách “Linh Khu - Thiên ngũ biến” có ghi: “Ngũ tạng đều nhu nhợc

dễ sinh bệnh tiêu đơn”

Sách “Y Quán Tiêu Khát Luận” giải thích: “Thủy hỏa điều hòa, khí huyết

đợc nuôi dỡng thì làm gì có tiêu” Nh vậy suy ngợc lại bệnh tiêu là do “Thuỷ hỏakhông điều hòa, khí huyết không đợc nuôi dỡng”

Sách “Đan Khê Tâm Pháp” của Chu Đan Khê ghi: “Tửu lợng không tiết

độ, luôn kèm theo các món nớng béo cho nên viêm hỏa bốc lên, tạng phủ nóng

ra, táo nhiệt rất thịnh, tân dịch tiêu khát, uống nhiều mà không biết tự hạn chế”

Tiêu khát cũng thờng gặp ở ngời béo phì Nên trong “Nội Kinh Ký BệnhLuận” đã nêu “Ngời ăn nhiều của ngọt nên béo phì, béo làm cho ngời nóng bêntrong Ngọt làm cho dầy ứ bên trong nên khí thờng dữ dội bốc lên thành chứngKhát”

Hoặc trong sách “Tố Vấn Phục Trung Luận” cũng ghi “Phàm nóng bêntrong tức là tiêu hao bên trong, đều là những ngời giàu có phong lu”

Thiên Kỳ Bệnh Luận trong “Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn” có giải thích

“Bệnh nhân tất là ngời chuông ăn các thức ngọt và béo Chất béo gây nên “nộinhiệt” Chất ngọt gây nên “Trung mãn” cho nên khí ấy ràn nên biến thành tiêukhát”

Ngời xa cho tinh thần bị kích thích lâu dài đều có quan hệ mật thiết với sựphát sinh và tái phát của bệnh tiêu khát Nh trong “Tam Tiêu Luận” Lu Hà Giannói: “Bệnh tiêu khát là bệnh tiêu lọan tinh thần thoái quá, do táo nhiệt uất thịnh”

Trong các cổ văn nh sách “Linh Khu - Thiên Ngũ Biến” cũng ghi: “Giậnthì khí thịnh lên Trong bụng nóng nhiệt, huyết khí nghịch lu, huyết khí lu thông,chuyển thành nóng Nóng tới tiêu da nên sinh bệnh tiêu đơn Bên ngoài tâm tríuất kết Uất hóa hỏa Tâm hỏa sung thịnh nên tâm tỳ tinh huyết đều tiêu hao Tỳ

âm hao mòn Thủy hỏa điều hòa cũng phát sinh bệnh tiêu khát”

Sách “Ngoại Đài Bí Yếu” nói: “Ngời bênh tiêu khát do bi ai tiều tụy làmtổn thơng”

Trang 10

Sách “Nho Môn Sự Thân” của Trơng Tử Hòa viết: “Cho nên ngời bị bệnhtiêu khát và không di chứng về ăn uống, không tiết chế mừng giận thì bệnh khỏirồi lại phát sinh”.

Cùng quan điểm sách “Y Tôn Dĩ Nhiệm Tiêu Chứng” ghi: “Tiêu sinh rabệnh tâm hỏa cực viêm đó là một nguyên nhân Bởi không tiết độ trong sự thèmmuốn ăn uống, không thận trọng trong sự vui buồn giận dữ”

Nguyên nhân do tình dục quá độ gây bệnh cũng đợc nhắc trong “ThiênKim Phơng Tiêu Khát”: “Đơng thời trai tráng không tiếc những cuộc khoái lạc,túng dục làm hại đến tuổi trởng thành, làm thận h khí kiệt do phong thất khônggiữ gìn, thận tinh hao tổn phát sinh bệnh tiêu khát”

Trần Vô Trạch nói : “Bênh tiêu thận thuộc về thận Nguyên nhân do thời

kỳ tuổi trẻ chơi bời quá độ, đến khi đứng tuổi dùng nhiều các thứ thuốc có chấtkim thạch, khiến cho chân khí bị suy tán Gây nên chứng niệm khát, tinh dịch tựtiết ra, không uống nớc mà tiểu tiện nhiều ”

Cùng cách nhìn nhận về nguyên nhân trên Nghiêm Dụng Hòa có ghi:

“Bệnh tiêu khát đều gây nên khi thận khỏe mạnh không tự gìn giữ, phóng túngtình dục hoặc uống những thuốc Đan Thạch làm cho thận thuỷ vô kiệt Đó

mà sinh ra khát mà đi tiểu tiện nhiều”

Sách “Thiên Kim Yếu Phơng” có nói: “Nhiệt ở thợng tiêu thì tâm phếphiền toái, lỡi đỏ, môi đỏ, ăn ít, đòi uống và tiểu tiện luôn”

Tụ Chân Phơng cho rằng: “Chứng nội tiêu do nhiệt quá ở bên trong màgây nên Tiểu tiện nhiều hơn lợng nớc uống vào, uống vào một phần tiểu ra haiphần - mà lại không khát Vì h quá nên hơi thở ngắn”

Trong “Y Trung Quan Kiện” , Hải Thợng Lãn Ông cho rằng: “Bệnh tiêukhát phần nhiều là do tiêu đốt chân âm, năm chất dịch bị khô kiệt mà sinh ra”

Nhng trong sự nghiệp thần chơng Lãn Ông lại nói :“Ăn đồ ngọt nhiềukhiến trung tiêu bị đầy Nhiệt ở trong nhiều thì khí bị đốt cháy chuyển thànhchứng tiêu khát”

Sách “Thiên Khí Quyết Luận” nói: “Tâm để lại lạnh ở phế làm ra phế tiêu,uống một đói hai chết không chữa đợc Chứng này vì nguyên khí suy mà kimlạnh nớc đóng băng, cho nên Thủy không hóa khí mà khí tốt thủy hóa thủy, háchẳng phải chứng âm trong dơng h sao”

Đờng Tôn Hải, đời nhà Thanh ghi trong sách “Thuyết Chứng Luận” chơngphát nhiệt: “ứ huyết phát sinh chứng mát - lấy tân dịch mà bàn gốc vẫn là thận -

Trang 11

có ứ huyết tức là khí ngăn trở huyết không thăng lên đợc Tân dịch nhân đókhông có khả năng theo khí mà phân bổ đợc”

Sách “Đan Khê Tâm Pháp” nói “Thủy không giúp hỏa thì hỏa chẳng vềnguồn, cho nên có hỏa ở phổi mà gọi là thợng tiêu Thợng tiêu là bệnh tiêu mát ởphần trên cơ thể Có hỏa ở vị mà gọi là trung tiêu Trung tiêu là tiêu mát ở phầngiữa cơ thể tức tỳ vị vậy Có hao âm tinh mà gọi là hạ tiêu, hạ tiêu là chứng tiêumát ở phần dới cơ thể Đó đều là chân âm không đủ thủy thiếu ở dới”

Trong quá trình phát triển của ngời xa cho là bệnh này hay có chuyển biếncần biết kiên kỵ cẩn thận Nhất là trong ca bệnh nớc tiểu có vị ngọt càng dễ phátsinh thêm các chứng khác cấp tính và mãn tính

Trơng Trọng Cảnh nói “Bệnh này có thể chuyển thành Phế nuy”

Sách “Ch Bệnh Nguyên Hậu luận” cũng nói: “Bệnh tiêu khát biến chứnghạ phát ra chứng “Ung th, hoặc lở ngoài da hoặc phụ thũng”

Sách “Thánh Đế Tổng Lục” lại nói: “Nếu chữa chuyển thành chứng năngthực (ăn ngon và nhiều), tất phát ra chứng não th (mụn ở đầu tóc), bối thơng(Mụn ở lng), nếu không chuyền chứng năng thực thì sẽ chuyển thành chứngtrung mãn, cổ trớng ”

Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu kinh điển của Đông y nói trên, ta cóthể thấy biểu hiện chủ yếu của Đái tháo đờng mà ngời xa gọi là “Tam đa nhấtthiểu” là: ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều và sút cân nhanh

Trang 12

Phần II Những đặc điểm, đại cơng về bệnh Tiêu khát

“Tiêu Khát” là sự đốt chảy tân dịch ở bên trong cơ thể “Tiêu” từ đó mà cơthể đòi hỏi phải ăn, uống nhiều để bu đắp tân dịch Tiêu khát có nhiều hình thức

đốt cháy tiêu hao tân dịch có thể chủ yếu bằng đờng niệu, bằng đờng sốt ra mồhôi hoặc nung đốt phần âm làm cơ thể luôn luôn nóng hơn so với bình thờng.Cuối cùng gây ra 3 chứng trạng thái chủ yếu là ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiềugây khô nhanh trong nớc tiểu có nhiều đờng nên thấy ruồi kiến bâu

Cách đây 2000 năm trớc CN (Hoàng đế Nội Kinh), ngời xa có ghi lạinhững biểu hiện của đờng niệu bệnh trong nhiều căn cứ và biểu hiện khác nhau,trong các chứng “Tiêu đơn, phế tiêu, cách tiêu, trung tiêu” Về sau, các y gia hậuthế thờng quy Đái tháo đờng trong phạm trù “Tiêu khát” Nguyên nhân, cơ chế,bản chất bệnh là phụ thuộc vào bản chất bẩm thụ bất túc, tình chí thất điều, ẩmthực bất tiết, lục dâm xâm lăng, lao dục thất độ dẫn đến ngũ tạng nhu nhợc, uấtlâu ngày hóa hỏa tích nhiệt thơng tân, hỏa trớc tổn âm, hao tinh thơng thận Cơchế bệnh có liên quan đến âm tinh hao tổn tích nhiệt nội thịnh mà dẫn đến âm h

là chủ yếu Âm h là bản, táo nhiệt là tiêu Hai yếu tố này là nhân - quả tơng hỗquán xuyến suốt quá trình bệnh tiêu khát Bản chất bệnh ảnh hởng nhiều cơ quantạng phủ (Nhng chủ yếu là tạng phế, vị, thận) tức là thợng tiêu, trung tiêu, hạtiêu Giữa phế, vị và thận, thờng cho là thận quan trong nhng đều hỗ tơng ảnh h-ởng Vì vậy ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều cũng là tơng hỗ với nhau Tiêu khátlâu ngày thờng dẫn đến ứ huyết nội đình, ứ huyết lại là nguyên nhân bệnh lý, tắctrở cơ quan tạng phủ mà dẫn đến khí trệ huyết ứ

Theo Y học hiện đại bệnh này gồm có đái đờng, đái tháo, cờng tuyến giáptrạng… khái quát là thuộc phạm trù bệnh Tiêu Khát

Trang 13

Phần III Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

hỗ, hỗ để thúc tiến, thổ không chế đợc thuỷ, tỳ h tổn ảnh hởng đến thận nguyên,dẫn đến hạ tiêu thận thiếu chức năng cố nhiếp khí hoá của thận thất thờng hoặcthấp nhiệt hạ chú bàng quang, ảnh hởng đến công năng hoá khí dần dần thànhthận tiêu

Thiên Kỳ Bệnh Luận Sách Tố Vấn nói : “Ngời bệnh vì ăn nhiều đồ ngọt,nhiều chất béo Chất béo cho ngời ta nóng bên trong, chất ngọt làm cho sinh đầy,cho nên khí tràn lên chuyển thành bệnh Tiêu Khát”

Dụ Gia Ngôn nói: “Chất béo, rợu ngon, thức ăn ngon ai mà hạn chế đợc,nhng ăn nhiều quá đồ ăn uống thành nóng ở trong, làm cho tân dịch khô ráo,phải cần nớc giúp vào nhng nớc vào cũng tiêu đi, càng tiêu càng khát chất cao l-

ơng càng không tiêu đợc mà gây thành bệnh trung tiêu khi đã thành bệnh Đảngtức là bệnh tiêu trung lúc đó hoặc trên hoặc dới cứ theo thứ tự mà truyền vào Vìthế có thể biết ăn uống không điều độ là nguyên nhân trọng yếu gây nên bệnhTiêu Khát

*Do tình chí không điều hoà, tinh thần bị kích thích kéo dài can khí uấtkết, khí uất hoá hoả, hun đốt tổn thơng tân dịch của phế, vị đến nỗi phế táo vịnhiệt Phế táo làm mất chức năng điều tiết khí ,điều hành khí trong cơ thể cũngkém, tinh hoa của chất ăn uống không dẫn đi nuôi cơ thể đợc mà dồn vào bàngquang cho nên khát nhiều, đói nhiều trong nớc tiểu có đờng

Sách “Y Học Cơng Mục” nói: “Phế bị bệnh thì tân dịch không có khí đểdẫn dắt, các chất tinh vi cũng theo đờng tiểu tiện mà ra, cho nên ăn uống một mà

đái gấp đôi nớc tiểu sánh nh dâu nh cao Bởi vì phế táo, phế âm bất túc thận bịmất hỗ trợ thì thận sẽ sút kém, tân dịch không dân lên phế vị, chất tinh vi chuyểnxuống bàng quang cũng làm cho khát nớc, đói nhiều trong nớc tiểu phần nhiềuvẩn đục, phát sinh bệnh Tiêu Khát

* Do tiên thiên bất túc “Sách Linh Khu - Thiên Ngữ Biến” nói: “Ngờingũ tạng đều nhu nhợc dễ bị tiêu khát” tức tiên thiên bẩm tố không đủ, năm tạng

h yếu nhất là thận h có quan hệ nhất định về phát sinh bệnh Tiêu Khát Bởi vì

Trang 14

Thận là cái gốc của tiên thiên, Thận chủ chứa tinh, thận h thì tinh không có nơicất chứa đến nỗi tinh khuy dịch cạn mà phát sinh bệnh Tiêu Khát.

* Do phòng lao quá độ: Phòng lao chỉ phòng sự không điều tiết và lao

th-ơng quá độ Phòng lao thái quá, chân nguyên h tổn, mệnh môn hoả suy khôngchế âm hàn, dẫn đến dơng h thuỷ tràn, sản sinh thuỷ thũng… là thể đặc trng trênlâm sàng; hoặc thận tinh khuy khiếu, h hoả nội sinh, càng thơng âm tân, tân th-

ơng bao lâu ngày làm cho khí dơng cũng h, cuối cùng dẫn đến tạng phủ toànthân suy bại; lao thơng quá độ, nguyên khí tỳ thận bị tổn hoặc trung khí tổn th-

ơng, thổ không chế thuỷ dẫn đến tỳ thận lỡng h thấy niệu học hoặc yêu thống

Sách “Ngoại Đài bí Yếu” ghi: “Phòng sự quá độ dẫn đến thận khí h hao,làm hạ tiêu sinh nhiệt, nhiệt tắc thận táo, thận táo tắc khát”

Tóm lại: Tiêu Khát có quan hệ với phế táo, vị nhiệt, thận h mà dẫn đến âm

h Hỏa làm phế âm h gây nên khát, vị âm h làm đói nhiều mà ngời gầy Thận lànguồn gốc của âm dịch, thận âm h không tàng trữ đợc tinh hoa của ngũ cốckhông chủ đợc thủy, thủy dịch bị bài tiết ra ngoài nhiều gây ra đái nhiều và nớctiểu có đờng Vì âm h mà hoả vợng càng làm cho âm h, hai cái ấy là nguyênnhân và kết quả, ban đầu thì khác nhau nhng cuối cùng là một Cho nên sách

“Lâm Chứng Chỉ Nam” nói rằng: “Tam tiêu là một loại bệnh, tuy chia ra thợngtiêu, trung tiêu và hạ tiêu, thực ra không ngoài âm h dơng thịnh tân dịch khô kiệtgây nên” Mà chân âm thiếu chủ yếu là thận, nếu thận âm thiếu lại càng làm chotân dịch thiếu lại làm cho thận âm h tổn Nếu bệnh lâu ngày từ âm h dẫn đến d-

ơng h làm cho âm dơng đều h

Trang 15

Phần IV

I Các chứng trạng lâm sàng

Triệu chứng chủ yếu: ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, nớc tiểu ruồi kiến

bậu (có đờng) ngời gầy nhanh

1 Nếu thiên về thợng tiêu: Do phế nhiệt, tân dịch bị hao tổn nhiều nên

kèm theo các triệu chứng: khát, uống nhiều, miệng khô, lỡi ráo, tiểu tiện đi nhiềulần, lợng nhiều, ven lỡi và đầu lỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch sác hoặc hồng sác

2 Nếu thiên về trung tiêu: Do trong trờng vị hoả uất táo thực có các triệu

chứng nổi bật: ăn nhiều, chóng đói, cồn ruột, gầy sút nhanh, táo bón, lỡi vàngkhô, mạch hoạt thực có lực

3 Nếu thiên về hạ tiêu: Do thận âm bất túc hoặc quá h suy nên có các

triệu chứng chính: Đái nhiều cả số lợng nớc tiểu và số lần, nớc tiểu vàng đỏ dục,hoặc sánh đặc nh cao, nh mỡ, mặt đen, tái sém, miệng khô, lỡi ráo hoặc khát màuống nhiều, lòng bàn tay bàn chân phiền nhiệt, ngời mệt mỏi, đau lng, mói khớp,mạch trầm tế mà sác

4 Nếu thận âm và thận dơng lỡng h: Do bệnh quá lâu ngày cả thận âm

và thận dơng đều h giai đoạn cuối thiên về thận dơng h có đủ các triệu chứng củatiêu khát kèm theo đau lng, chân tay lạnh, ỉa lỏng hoặc ngũ canh tả, sôi bụng dasạm đen, mắt thâm quầng, mạch h nhợc

Trang 16

Nguyên nhân: Do bệnh quá lâu ngày cả thận âm và thận dơng đều h.

là cửa ngõ của phế và mũi, nếu phế có bệnh thì phần nhiều biểu hiện ở mũi vàhọng Về quan hệ của tạng phủ, nếu con hoả quá mạnh cũng có thể thấy hiện t-ợng tổn hao phế âm, gọi là “Mộc hoả hình kim” Đồng thời bệnh biến của tỳ vị

và thận, cũng ảnh hởng đến phế vì tỳ vị thuộc thổ, thổ là mẹ của kim, thổ khôngsinh đợc kim, nghĩa là “Mẹ yếu thì ảnh hởng đến con” Nếu thận không nạp đợckhí, cũng thấy ảnh hởng đến công năng bình thờng của phế mà sinh ra chứngtạng khí suyễn, vì thận thuộc thuỷ, thuỷ là con của kim, cho nên gọi là “Con cớpmất khí của mẹ”

Chứng phế nhiệt: Do ngoại cảm phải táo khí, táo nhiệt làm hại phế mà gâynên các chứng trạng là phát nóng, mắt đỏ, hai gò má đỏ,khát, uống nớc nhiều,họng đỏ và đau, đại tiện táo kết, tiểu tiện vàng sẻn, rêu lỡi vàng khô, đầu mũi hơi

đỏ, chảy máu cam, ho đờm đặc và có khi khái khuyết hoặc trong đờm có lẫnhuyết, hoặc khi ho thì đau ran ra, ngực và lng cũng có khí yết hầu bế tắc sng đau,trong họng có mụn trắng

*Biện chứng luận trị về chứng trạng: Phế vị nhiệt thịnh, tân dịch bị tổn

thơng cho nên miệng khô lỡi ráo, phiền khát muốn uống nớc Phế táo nên khímất chức năng phân bố, thuỷ dịch không tản ra toàn thân dồn thẳng xuống bàngquang cho nên tiểu nhiều lần, lợng nhiều Do nội nhiệt quá thình nên rìa lỡi và

đầu lỡi đỏ, rêu lỡi vàng mỏng, mạch hồng sác

2 Thể vị: Vị là cái bể chứa của thuỷ cốc, nếu ăn uống không giữ gìn điều

độ, no đói thất thờng, hoặc nóng lạnh quá đều có thể ảnh hởng tới công năngchính thờng của vị Vị là tạng phủ táo thổ, bản tính a ẩm ớt, ghét khô ráo, chonên các chứng miệng khát, đại tiện bí táo nhiệt đều thuộc vị Vị chủ việc thu nạpthuỷ cốc lấy giáng làm thuận, trên lâm sàng nếu bị nôn mửa là chứng trạng chủyếu của vị

Trang 17

- Chứng vị nhiệt: Do vị hoả quá mạnh làm cho tân dịch ở vị dễ bị tiêu hao,biểu hiện ra chứng bệnh khát, uống nớc rất nhiều, thờng có cảm giác đói bụnghoặc cồn cào, đó là chủ chứng của vị nhiệt Nếu biểu hiện chứng hôi miệng,chân răng chảy máu, hoặc lợi sng đau, răng lung lay, ăn vào là nôn mửa, nếunhiệt ở vị chuyển xuống phủ đại trờng tạo ra chứng dơng minh phủ thực chứng

có các triệu chứng: Đại tiện khó đi, thậm chí táo kết, phúc thống, rêu lỡi vàngdày khô, chất lỡi đỏ, mạch sác

* Biện chứng luận trị về chứng trạng: Do vị nhiệt quá thịnh, tiêu hao

thuỷ cốc nên mới ăn nhiều, mau đói Chất tinh vi hao tổn thái quá, cơ bắp không

đợc nuôi dỡng bù đắp nên hình thể gầy còm Vị hoả quá mạnh hun đốt tân dịch,

Đại trờng không đợc nhu nhuận cho nên táo bón Rêu lỡi vàng khô, mạch hoạtthực có lực là đặc trng của thực nhiệt

3 Thể thận: Thận tàng chứa tinh mà chủ về xơng tuỷ, khai khiếu ra tai,

có nhiệm vụ nạp khí, chủ nhị tiện,bàng quang là phủ của thận , thận lại là tạngchứa cả thuỷ hoả, chân âm dơng đều ở đó, là gốc của tiêu thiện cho nên bệnh củathận quan hệ tới nhiều mặt Nói tổng quá có thể chia làm hai loại chính là thận

* Biện chứng luận trị về chứng trạng: Tiểu tiện nhiều lần là do thận bất

túc, thận khí không vững gây nên Thận âm suy tổn mất chức năng cố nhiếp, chấttinh vi dồn xuống nên nớc tiểu bài tiết sánh nh cao và vị ngọt Vì âm suy nên hoảvợng, cho nên ngũ tâm phiền nhiệt, mạch tế sác H hoả đa lên phế vị thì miệngkhô lỡi đỏ, khát mà uống nhiều Do thận h nên choáng váng mệt mỏi, lng gốiyếu mỏi

IV Biện chứng về phép điều trị

* Phế chủ khí, phế không bệnh thì khí bình thờng, có thể biết điều tiếtquản lý tân dịch, cái tinh hoa trong tân dịch phế điều tiết đợc Ngợc lại nếu khítrái thờng thì không thể điều tiết quản lý tân dịch, cái tinh hoa trong tân dịch cóthể do mất sự quản lý mà theo tiểu tiện bài tiết ra ngoài cơ thể Vì thế mà trênlâm sàng phát sinh bệnh tiêu khát

Trong biện chứng phép điều trị bệnh tiêu khát lý giải nguyên nhân phếsinh ra bệnh tiêu khát, sách “Y học cơng mục” nói: “Phế chứa khí, phế khôngbệnh thì khí có thể quản nhiếp tân dịch mà cái tinh vi của tân dịch mới nuôi nấng

đợc gân xơng huyết mạch còn thừa hoặc quá ngỡng thì đói đi Phế có bệnh thì

Trang 18

tân dịch không có khí quản chế mà chất tinh vi cũng theo tiểu tiện mà ra Vì vậyuống một mà đái ra hai là lẽ cố nhiên vậy” Do đó phép điều trị là Dỡng âmnhuận phế, tân sinh chỉ khát.

* Tỳ chủ vận chuyển, tỳ có bệnh thì không có thể bình thờng vận chuyển

đợc thủ cốc chất ăn uống, vận chuyển chất tân dịch đi, cái kết quả không thểbình thờng vận chuyển tiêu hoá cơm nớc do đó các tinh hoa do ăn uống sẽ theotiểu tiện mà ra ngoài

Cái kết quả không thể bình thờng vận hoá tân dịch là phát sinh chứng tiênkhát, cũng nh sách Thiên Kim nói: “Cái bệnh nội tiêu ấy thì vật ăn uống đều tiên

ra tiểu tiện vậy”

Hay nh sách “Y Quán” nói: “Tỳ thổ cùng vị thông hành tân dịch, tỳ vị đã

h thì không thể phân bố đợc tân dịch cho nên khát, sở dĩ đòi ăn luôn cũng là do

vị h đòi ăn tự cứ mình vậy” Do đó phép điều trị là Thanh vị tả hoả, dỡng âm sinhtân

* Thận chủ về nguyên dơng và nguyên âm trong cơ thể con ngời Thận bịbệnh nguyên âm không đủ thì thuỷ không giúp hoả, h hoả phạm lên mà sinh ratiêu khát

Cũng nh sách “Y Quán” nói: “Hạ tiêu mệnh môn hoả chẳng về nguồn du đãng

ở phế thì thành ra chứng thợng tiêu, du đãng ở vị thì thành ra chứng trung tiêu”

Hay sách “Đan Khê Tâm Pháp” nói: “Nhiệt phục ở dới thận h phải chịu,nên đùi, gối, chân khô khẳng, xơng khớp nhức đau, tinh chạy mất tuỷ rỗngkhông, đòi uống nớc tự cứu mình vậy”

Thận bị bệnh, nguyên dơng không đủ thi khí âm không lên, tinh khí không

có thể vì cơ thể nh bình thờng mà hoá làm tiểu tiện bài tiết ra ngoài

Cũng nh “Ngoại Đài Bí Yếu" nói: “Eo, lng, thận đã h, lạnh thì không thểtrng bốc lên trên, tinh khí không có thể vì cơ thể bình thờng mà hoá làm tiểu tiệnbài tiết ra ngoài”

Hay nh Hải Thợng Lãn Ông nói trong “Y Trung Quan Kiện” rằng: “Bệnhtiêu khát phần nhiều do hoả làm tiêu hao chân âm, năm chất dịch bị khô kiệt màsinh ra” Nghĩa la thuỷ suy hoả bốc, tức đồng nghĩa với nguyên âm không đủ thìthuỷ không giúp hoả, h hoả, phạm lên mà sinh ra tiêu khát, nên phải dùng Lục vị

để bồi dỡng nguyên âm không đủ Thận hoả suy không đủ dùng Bát vị thêm sữangời, cao ban long, cao Sinh địa, cao ngũ vị, câu này đồng nghĩa với thận nguyêndơng không đủ mà sinh tiêu khát ta phải dùng bát vị gia vị vậy Do đó phép điềutrị la T âm bổ thận, sinh tân thanh nhiệt

Ba tạng Tỳ, Phế, Thận trong đó tạng thận là chỷ yếu, dù cho chứng trạng

Trang 19

Học Cơng Mục” nói “Phế bị bệnh gốc thận h, thận h thì tâm ít sợ thuỷ khắc nên

đi bừa bãi càng khắc phế nhiều hơn mà đi dẫn nhiệt đến phế sau đó phế bị bệnhtiêu khát”

Trang 20

Phần V Trị liệu

I Nếu thiên về thợng tiêu (phế)

1 Phơng pháp điều trị: Dỡng âm ,nhuận phế, sinh tân chỉ khát.

- Cách bào chế: Mạch môn bỏ lõi Các vị trên (trừ Đạo mễ) + nớc

1500ml, sắc còn 600ml, cho Đạo mễ vào đun vừa chín, lọc bỏ bã

- Cách dùng: Sắc uống ngày 1 tháng Uống chia đều 7 lần, ngày uống 5

Nếu phế nhiệt quá mạnh Thiếu thơng châm xuất huyết

Điện châm 30 phút mỗi ngày một lần

- ý nghĩa huyệt vị:

Thiếu thơng: Trị hầu tắc họng sng, mũi ra máu, tiết nhiệt nội tạng, trungphong hôn mê

Phong môn: Trị khí tích nớc dới sờn, đại tiện trơn tiết tả

Trung phủ (huyệt Mộ của Phế): Tăng tác dụng cho hai huyệt Phong môn

và Thiếu thơng

Cách du: Tăng cờng tiêu hoá, trị sng nách, viêm tuyến tuỵ, làm mát nóng

Trang 21

Trung cực (huyệt Mộ của Bàng quang): Nghiệm huyệt trị bệnh tiêu khát,

điều chỉnh quan hệ tơng thông phế bàng quang

Can du: Nghiệm huyệt chữa tiêu khát

II Nếu thiên về trung tiêu (vị)

1 Phơng pháp điều trị: Thanh vị tả hoả, dỡng âm sinh tân.

- Phơng giải: Thạch cao phối hợp với Tri mẫu thanh thực nhiệt ở phế vị;

Sinh địa, Mạch đông ích âm ở phế vị; Hoàng cầm, Chi tử thanh can hoả; Ngu tất

để dẫn hoả đi xuống Hợp dợc bài thuốc có tác dụng thanh vị tả hoả, dỡng âmsinh tân

3 Châm cứu:

- Châm các huyệt: Vị du, Trung quản, Cách du, ẩn bạch, Thơng khâu.

- Liệu trình điều trị: Hai huyệt Vị du, Trung quản châm bổ, các huyệt

khác châm bình bổ bình tả

Táo bón nhiều châm Thiên khu, đi tiểu nhiều châm thêm Trung cực

- ý nghĩa huyệt vị:

Vị du: có tác dụng điều chỉnh công năng của phủ vị

Trung quản (huyệt Mộ của Vị), nơi hội họp của các phủ, tăng cờng tácdụng của Vị du

Cách du: Có tác dụng tăng cờng tiêu hoá trị lng nách, viêm tuyến tuỵ, làmmát nóng ở tỳ vị

ẩn bạch (huyệt Tỉnh của kinh Tỳ): Nghiệm huyệt trị bệnh tiêu khát do vị nhiệt.Thơng khâu (huyệt Kinh của kinh Tỳ), huyệt kinh nghiệm trị tiêu khát dodạ dày nóng

III Nếu thiên về hạ tiêu (thận)

Trang 22

1 Phơng pháp điều trị: T âm bổ thận, thanh nhiệt sinh tân

- Cách bào chế: Các vị trên + nớc 1800ml, sắc lọc bỏ bã lấy 400ml.

- Cách dùng: Uống chia đều 7 lần, ngày uống 5 lần, tối uống 2 lần.

- Phơng giải: Sinh địa để t thận ích tinh tuỷ; Sơn thù để t thận ích can; San

dợc để t thận bổ tỳ Vơng Băng cho là có tác dụng “Tráng thuỷ để chế ngự dơngquang” tam bổ; Trạch tả để tả thận giáng trọc; Đan bì để tả can hoả; Phục linh đểthẩm thấp trợ tỳ, thuộc tam tả có tả: Thận, Can, Tỳ để giáng trọc khu tà Lợngthuốc bổ nhiều hơn lợng thuốc tả, nh vậy tác dụng bổ là chủ yếu, song tác dụngtả để vừa giải quyết tà vừa hạn chế nê trệ khi dùng thuốc bổ, Thiên hoa phấn đểthanh nhiệt sinh tân; Thạch hộc để chữa cam thận âm h Hợp dợc bài thuốc cótác dụng T âm bổ thận, thanh nhiệt sinh tân

Nếu hôn mê do đái đờng nên phối hợp Tây y để cấp cứu

Khát nhiều châm hải tuyền, đỡ khát thì thôi

ý nghĩa huyệt vị:

Thận du (bối du của thận, thuộc kinh Bàng quang) có tác dụng bổ thận

Ngày đăng: 21/07/2014, 15:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w