Bên cạnh khoa học kĩ thuật nền nghệ thuật của Trung Quốc cũng phát triển rất rực rỡ ,và đa dạng ở đủ các loại hình nh âm nhạc ,vũ đạo ,múa ơng ca, hí khúc ,tạp kĩ ,hội hoạ ,bích hoạ ,điê
Trang 1Bµi tËp : M«n LÞch Sö Mü ThuËt ThÕ Giíi
Chñ §Ò : Héi Ho¹ Trung Quèc
Ngùa trong tranh Trung Quèc
Sinh Viªn : Hµ Diªn Trung
Líp : 08 – C§CQ – MT - B
Trang 2Hội Hoạ Trung Quốc
mét sè t¸c gi¶ t¸c phÈm nghÖ
thuËt héi ho¹ trung quèc
III , Ng a trong tranh Trung ự
Quèc
Trang 3I Ho n c nh l ch s à ả ị ử
Trung qu c l m t n c l n n m phía đông châu á và có lịch ố à ộ ướ ớ ằ ở
sử phát triển cách đây khoảng 5000 năm ,với bề dày lịch sử và
phát triển nền văn minh của Trung Quốc đã đạt đ ợc rất nhiều
thành tựu về khoa học kĩ thuật ,là n ơc phát minh ra đ ợc rất nhiều sản phẩm đuợc coi là đầu tiên trên thế giới nh giấy ,kĩ thuật in ch ,
la bàn ,thuốc súng … .
Bên cạnh khoa học kĩ thuật nền nghệ thuật của Trung Quốc cũng phát triển rất rực rỡ ,và đa dạng ở đủ các loại hình nh âm nhạc ,vũ đạo ,múa ơng ca, hí khúc ,tạp kĩ ,hội hoạ ,bích hoạ ,điêu khắc kiến trúc Trong số đó vẫn còn có những tác phẩm nổi tiếng vẫ tồn tại cho đến tận ngày nay.
Tất cả những yếu tố đó là cơ sở hình thành nền văn minh Trung Quốc cổ đại, một trong những nền văn minh lớn nhất của châu á cũng nh của thế giới
Trang 4Nghệ thuật Trung Quốc cổ nói chung và hội hoạ Trung Quốc thời kỳ này nói riêng đã bị ảnh h ởng rất nhiều từ các quan
niệm, học thuyết và các đạo giáo nh phật giáo ,nho giáo và đạo giáo
Khi nói đến nghệ thuật cổ đại ở bất cứ Quốc gia nào ng ời ta sẽ nhắc đến 3 loại hình nghệ thuật tiêu biểu
II , Đặc điểm chung , vài nét về một
số tác giả tác phẩm nghệ thuật hội
hoạ Trung Quốc
Trang 5Trong nghÖ thuËt Trung Quèc héi ho¹ lµ lo¹i h×nh
ph¸t triÓn nhÊt ,tiªu biÓu cho tµi n¨ng s¸ng t¹o nghÖ thuËt cña ng êi Trung Quèc Héi ho¹ cßn lµ sù tæng
hîp cao nhÊt cña nh÷ng quan niÖm vÒ vò trubj,nh©n sinh cña ng êi Trung Quèc Ng êi Trung Quèc coi héi ho¹ lµ h×nh thøc nghÖ thuËt ch©n chÝnhduy nhÊt vµ do nh÷ng ng êi cã häc, cã v¨n b»ng s¸ng t¹o ra
,héi ho¹ Trung Quèc
Trang 6Trong môn họa truyền thống của Trung Quốc (thường được gọi là Quốc Họa) ta thường bắt gặp những chủ đề ước lệ quen thuộc được thể hiện với màu sắc đậm nhạt thích mắt, thậm chí những màu tươi vui sặc sỡ Các chủ đề này lặp đi lặp lại đây đó đến mức sáo mòn, đại loại như hoa (đào, mai, lan, cúc, sen, thủy tiên, mẫu đơn, tử đằng, quỳnh), điểu cầm (phụng, ưng, hạc két, quạ, chim cút, vịt trời, gà vịt, ngan ngỗng), muông thú (hổ, ngựa, lừa, trâu bò, dê, nai), con vật truyền thuyết (long, lân), tôm cá cua, côn trùng (bướm, chuồn chuồn, dế, bọ ngựa, sâu, kiến), cây cối (tùng bách, tre trúc, ngô đồng, dương liễu, phong), phong cảnh (mây nước sông biển, núi non, thác ghềnh, khe suối), trái cây, nhân vật (thật và truyền thuyết)
…
Trang 7Hay chỉ đơn giản nh thế này !
Vòng tròn viên mãn
Trang 8Loại tranh đ ợc phát triển rộng rãi cũng nh rất nổi
tiếng cho tới tận bây giờ là dong tranh sơn thuỷ
Tranh sơn thuỷ TQ chia làm 2 loại
* Tranh thuỷ mạc sơn thuỷ
* Tranh thanh lục sơn thuỷ
bằng mực nho và n ớc với các độ đậm nhạt của mựcmà diễn đạt đ ợc
vạn vật
Hoạ sĩ nổi tiếng khởi x ớng thể loại tranh này :V ơng
Duy (699 – 750 )
Với hàng nghìn năm phát triển nghệ thuật của mình
d ới rất nhiều triều đại phong kiến khác nhau vậy
nên đã có rất nhiều hoạ sĩ nổi tiếng với những thể loại tranh khác nhau
Trang 10Ph c Sinh th kinh - ụ ụ đồ Vương Duy
Trang 11Chïa trªn nh nói - V ng Duy đỉ ươ
Trang 13Tranh thanh lục sơn thuỷ
Là loại tranh sơn thuỷ vẽ màu đen ,điểm màu xanh lục do hoạ sĩ Tr ơng Tử Kiên khởi x ớng
Ngoài 2 dòng tranh vừa kể trên 1 dòng tranh cũng rất phổ biến tuy ra đời muộn hơn một chút đó là tranh cuốn trục : Là loại tranh vẽ trên giấy hoặc lụa có gắn trục ở 2 đầu ,có thể treo theo chiều dọc và cuốn theo chiều
ngang
Hoạ sĩ đ ợc coi là ông tổ của dòng tranh này là ; Cố Khải Chi (344 – 405 )
Ngoài Cố KhảI Định còn có Lục Thám Vi và Tr ơng Tăng Dao 3 ông đ
ợc coi là tam đại của thời Lục Triều ,tranh của các ông mỗi ng ời một
vẻ Song kết hợp cả ba tài năng sẽ có đ ợc một cách tạo hình hoàn chỉnh cho hội hoạ Điều này đã đ ợc tổng kết qua 3 câu : “ Tr ơng họa nhục – Lục dựng cốt – Cố hoạ thần “
Trang 14C u Nguy t ử ệ
C u Nh t ử ậ
- Cè Kh¶i Chi
Trang 16Ngoài những hoạ sĩ nổi tiếng vừa kể trên ở thời kì hội hoạ TQ cổ còn có các tên tuổi khác nh Diêm Lập Bản , Ngô Đạo Tử , Tr ơng nguyên , Chu Phỏng , Hàn Hoảng , Hàn Lán , Lí T Huấn …(đời Đ ờng ) Tr ơng Trạch Đoan , Cố Hoành Trung …(đời Tống )
Sang thời Nguyên , Minh , Thanh
ngoài tranh sơn thuỷ còn có tranh
hoa điểu phát triển mạnh với các
hoạ sĩ nh Triệu Mạnh Phủ , Trần
Hồng Thụ…Trong đó có Ngô Đạo
Tử đuợc phong làm hoạ thánh
Sang hội họa TQ cận đại còn
Trang 17Tranh
Khổng Tử
do Ngô Đạo
Tử vẽ
Trang 18Tranh của Đường Dần (đời Minh)
Trang 19Hang Mạc Cao Đôn Hoàng là một kho báu nghệ thuật quy mô , với quy mô lớn nhất và nội dung phong phú nhất trong 4 hang đá lớn của TQ , là sự co đọng nghệ thuật khắc đá của mười mấy
triều đại trong gần 1000 năm của TQ , là di chỉ phật giáo quy mô nhất và được bảo tồn hoàn chỉnh nhất trên thế giới
Hang Mạc Cao Đôn Hoàng
Hang Mạc Cao là cung điện nghệ thuật kết hợp kiến trúc cổ , bích họa và tượng nặn Trong quá trình đào hang động , nhân dân các triều đại đã nặn rất nhiều tượng phật trong hang và vẽ lên một
loạt bích họa Tuy trải qua sự đổi thay của lịch sử và bị phá hoại của con người , nhưng đến nay hang Mạc Cao vẫn giữ lại được gần 500 hang động , bảo tồn khoảng 50 nghìn ki-lô-mét vuông bích họa và hơn 2000 pho tượng phật Các pho tượng phật trong hang muôn hình muôn kiểu , phục sức và biện pháp biểu hiện
mỗi tượng một khác , phản ánh mầu sắc của các thời đài khác
nhau Bích họa của Hang Mạc Cao lỗng lẫy nhất , nếu nối những bích họa lại với nhau có thể tạo thành một dãy tranh gần 30 ki-lô- mét
Trang 20Hang Mạc Cao
Trang 21( Bích h a o hang th 148 ư )
Trang 22Bích h ao hang th ư 39 Một bức bích họa
trong hang Mạc Cao
Trang 23Bích họa hang thứ 172 Một trong nhiều bích họa trong hang Mạc Cao
Trang 24Một họa gia tài danh của thời Bắc Tống là Trương Trạch Đoan đã
hoàn thành tác phẩm “Thanh minh thượng hà đồ”
Ngày nay, bức tranh “Thanh minh thượng hà đồ” được trưng bày
trong Viện Bảo tàng Cố cung Bắc Kinh Tổng chiều dài của tranh là
527,8 cm, rộng 25 cm Kết cấu toàn cảnh bức tranh là những bút pháp
vô cùng tinh tế và nghiêm ngặt, miêu tả chi tiết cuộc sống tấp nập và
phồn thịnh trong tiết thanh minh của bá tánh ven bờ sông Biện và khu
vực cửa thành Đông, thuộc triều đại Bắc Tống
Trang 25Thanh minh thượng hà đồ
Trang 26Phần ngoài cùng bên phải minh họa cảnh thôn dã với nhiều cây cối
Phần tranh mô tả bến cảng với nhiều thuyền buồm dọc sông
Trang 27Phần tranh bên trái của bến cảng mô tả cảnh cây cầu kiểu cổ với rất nhiều hàng quán ngay trên cầu, phía dưới là một chiếc thuyền chưa cất hết buồm
đang tìm cách cập bến
Trang 28Phần tranh bên phải mô tả đại môn Biện Kinh với phố xá tấp nập và
rất nhiều loại cửa hiệu, người buôn bán
Trang 29Triệu Mạnh Phủ danh ho¹ thêi Nguyªn
(1254-1322)
Chủ trương trong hội họa của Triệu Mạnh Phủ bao gồm phong cách mộc mạc và phong cách “thư họa đồng pháp”, tức là tranh vẽ như viết Ông không đồng tình với phong cách hội họa “màu sắc đậm, nét bút mảnh và tỉ mỉ” thời Tống Ông ưa chuộng những nét vẽ mạnh mẽ, đơn giản, trang nhã, cao thượng Theo ông, như thế mới thật sự là những tác phẩm đẹp
Trang 30Một số tác phẩm hội họa nổi tiếng của Triệu Mạnh Phủ
Trang 33Tranh của thiền sư Mục Khê
(1180-1250), đời Tống
Thiền sư nhập định (tranh
Thạch Khác, thế kỷ X)
Thiền họa
Trang 35«Vương mai, Hạ trúc.» (mai vẽ, trúc của Vương Miện của Hạ Xưởng vẽ)
(đời Minh)
Trang 36Tranh của Đường Dần
(đời Minh)
Tranh của Văn Trưng Minh
đời Minh
Trang 37Tróc mai : Tróc l qu©n à
t , mai l giai nh©n ử à – tranh c a Th ch ủ ạ Đà o
i Thanh đờ
Tróc – tranh của Ngô Trấn đời Nguyªn
Trang 38Tranh của Từ Vị (đời Minh)
Trang 39Tề Bạch Thạch
Tề Bạch Thạch (1863-1957)
Sinh tại Tinh Đẩu, Tương Đàm, Hồ Nam,
năm 14 tuổi, Tề Bạch Thạch trở thành thợ
chạm gỗ và bắt đầu tự học vẽ
Ông còn có biệt hiệu là Tề Hoàng ( 齊
璜 ) và Tề Vị Thanh ( 齐渭清 ) Đối
tượng trong tranh vẽ của ông rất phong
phú, từ thú vật, cảnh vật, đồ vật, đồ chơi,
rau quả, vân vân Quan điểm hội họa của
Tề Bạch Thạch là "hội họa nằm giữa thực
và ảo" Những năm cuối đời, đa số các
tác phẩm của ông là về chuột, tôm, và
chim
Ông cũng rất giỏi khắc triện và tự gọi
mình là "phú ông của ba trăm triện đá"
(tam bách thạch ấn phú ông).
Trang 41Vô Lượng Thọ Phật(tranh Tề Bạch Thạch)
Trang 43Từ Bi Hồng - một đại Danh họa kiệt xuất của nhân loại
(1895-1953)
Sinh ra ở tỉnh Giang Tô năm 1895, Từ
Bi Hồng trưởng thành trong một gia
đình nghệ thuật và bộc lộ tài năng ngay
từ lúc còn nhỏ Khi mới 6 tuổi, ông đã
được cha mình truyền dạy về thư pháp
và cả kỹ thuật vẽ thủy mặc Năm 1915,
Từ Bi Hồng tới Thượng Hải học và gặp
gỡ học giả kiêm nhà cải cách Khang
Hữu Vi (1858-1927), người đã trở thành
“sư phụ” của ông Khang Hữu Vi tạo
ảnh hưởng sâu đậm tới Từ Bi Hồng về
việc phải dung hòa các ý niệm và sự
thực tế của phương Tây vào nghệ thuật
Trung Hoa
Từ Bi Hồng
Trang 48Từ Bi Hồng- Hãy bỏ roi xuống - sơn dầu 144x90
Lµ BỨC TRANH SƠN DẦU ĐẮT NHẤT LỊCH SỬ TRUNG QUỐC
Trang 49Ngựa trong tranh Trung Quốc
Víi bÒ dµy hµng ngh×n n¨m ph¸t triÓn nghÖ thuËt héi ho¹ vµ v«
sè nh÷ng t¸c gi¶ t¸c ,phÈm tªn tuæi nh vËy em xin chän ®i s©u vµo t×m hiÓu h×nh t îng ngùa trong tranh Trung Quèc.
Trang 50Ngựa là chủ đề quen thuộc trong tranh Trung Quốc Ðể hiểu lý do tại sao tranh Trung Quốc thường có một chủ đề như vậy, chúng ta cần xét hai điểm: một là ý nghĩa và giá trị đích thực của ngựa trong lịch sử Trung Quốc và hai là ý nghĩa biểu tượng của ngựa trong quan niệm dân gian
Ngựa đóng vai trò rất quan trọng trong lịch sử Trung Quốc Nguồn gốc ngựa của Trung Quốc là từ Trung Á nhưng các chủng loại ngựa phổ biến hiện nay có gốc Mông Cổ Ngựa đã xuất hiện ở Trung Quốc tự bao giờ? Giống động vật lớn này được thuần dưỡng tại Trung Quốc có lẽ khoảng 2500 năm tcn, nghĩa là cách nay khoảng trên 4000 năm Ðó là loài gia súc quý báu, sang trọng, cần chăm sóc đặc biệt Những mảnh giáp cốt khai quật cho thấy ngựa đã được sử dụng vào đời
Thương Cuối đời Thương, việc nuôi ngựa và sử dụng xe ngựa càng thấy rõ Sử
Ký Tư Mã Thiên từng ghi chép rằng dân đời Thương rất giỏi buôn bán, họ đã đánh
xe đến những nơi xa xôi buôn bán rồi quay về Từ ngữ Thương nhân ban đầu ám
chỉ cụ thể là «dân đời Thương» về sau được dùng để chỉ tất cả những người hoạt động kinh doanh (cũng giỏi giang như dân đời Thương); và đây chính là từ
nguyên của từ tố «thương» trong các từ ngữ thương nghiệp, thương mại , thương
nhân , v.v
Trang 51Cảnh chăn ngựa trong thực tế
Trang 52Trong chiến tranh ở Trung Quốc cổ đại, ngựa giữ vai trò rất quan trọng có thể gọi là nền tảng của sức mạnh quân sự Các kỵ binh du mục trên lưng các chiến mã thần tốc và dũng mãnh luôn là mối kinh hoàng cho binh quân của Trung Quốc
Theo từ điển Từ Hải ghi chép, quan điểm của Mã Viện TQ cæ về chí khí
nam nhi phải là xông pha trận mạc, da ngựa bọc thây, chứ không phải nằm chết trên giường trong vòng tay của thê tử
«Ngựa là cơ sở của sức mạnh quân sự, là tài nguyên lớn của quốc gia.»
Ngoài giá trị quan trọng của ngựa trong vận tải và quân sự, người ta còn tìm
thấy giá trị y học của ngựa, được mô tả trong Bản Thảo Cương Mục (xuất bản
1596) Theo sách này, chữ mã (ngựa) trong Hán văn là chữ tượng hình , phác họa hình dáng của ngựa Rồi sách liệt kê tên các chủng loại ngựa và loại nào có tác dụng về mặt y học kèm theo sự mô tả giản lược, chẳng hạn giống ngựa
thuần bạch là có tác dụng y học rất tốt Loài ngựa phương nam và phương đông thì nhỏ thó và yếu đuối
Trang 53Tranh Hàn Cán (đời Đường)
Trang 54Vì những giá trị thực tế và quan trọng (thậm chí rất quý giá) của ngựa trong lịch sử Trung Quốc như vậy, nên không có gì ngạc nhiên khi ngựa trở thành một đề tài quen thuộc trong hội họa Trung Quốc Tuy nhiên, còn một lý do
khác nữa để giải thích điều này, xuất phát từ quan niệm dân gian
Dân gian cho rằng ngựa có đức tính trinh tiết, ý thức rõ quan hệ truyền
chủng, không vi phạm cái mà luân lý loài người gọi là loạn luân Như Dịch
Kinh từ đời Chu đã ca ngợi là «Tẫn mã chi trinh» (đức trinh tiết của ngựa cái)
Ngựa còn có đức tính trung thành, một đức tính mà Nho gia rất coi trọng trong các mối quan hệ xã hội Câu chuyện ngựa xích thố của Quan Vân Trường (tức
Quan Công) thời Tam Quốc là một giai thoại tiêu biểu
Ngựa – loài vật quý giá với đức tính trinh tiết và trung thành, đứng hàng thứ 7
trong 12 địa chi – xuất hiện trong tranh Trung Quốc như là biểu tượng của sự mau chóng và thành đạt Thí dụ bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là «mã đáo thành công» thể hiện qua một bầy ngựa phi nước đại gió bụi mịt mù Nguyên ý câu này
là “Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công” (Cờ phất [làm hiệu thì] chiến thắng,
ngựa quay về [báo tin] thành công)
Trang 55Ngày xưa khi xuất binh phải phất cờ hiệu, mà cờ đã phất rồi thì phải chiến thắng; tướng soái khi lấy đầu tướng giặc, chiến mã quay về tất báo tin thành công Ý nghĩa câu «mã đáo thành công» ngày nay còn tượng trưng là tốc chiến tốc thắng Và một bức tranh «mã đáo thành công» làm quà khai trương cho một cửa hiệu chỉ đơn giản tương tự như là «khai trương hồng phát» (mở cửa tiệm thì phát đạt lớn) chứ không có ý là mau chóng thành công nhờ cứa cổ khách hàng
Tranh vẽ một chú khỉ (hầu) cưỡi
trên lưng ngựa (mã thượng) lại là
một lời cầu chúc tốt đẹp Hầu
(khỉ) đồng âm hầu (chức tước
hầu); mã thượng còn có nghĩa là
ngay tức khắc Do đó tranh chúc
này có nghĩa rộng là «Chúc cho
mau chóng thăng quan tiến chức»
Trang 56Tranh Hàn Cán (đời Đường)
Trang 57Bát Tuấn (tám con ngựa hay) của Chu Mục Vương (1001-746) đời Chu cũng là một chủ đề nổi tiếng trong tranh cổ Mục Vương có 8 tuấn mã, đặt tên khác nhau (Xích Ký, Ðạo Ly, Bạch Nghĩa, Du Luân, Sơn Tử, Cừ Hoàng, Hoa Lưu, Duyên Nhĩ), và có một xa phu tên Tạo Phụ, đánh xe đưa vua ngao du khắp nơi Trong những miếu thờ dọc đường, người ta thấy tranh vẽ Mã Vương vốn là thần nhân xấu xí có 3 mắt, 4 tay, mang vũ khí Ðó là thần mà dân nuôi ngựa phải thờ cúng
Tương tự như thế, dân
nuôi trâu bò thờ Ngưu
Vương, cũng có tranh thờ
trong miếu Mã Vương
được vẽ cùng với một con
ngựa, Ngưu Vương được
vẽ cùng với con trâu Theo
tin tưởng của dân chăn nuôi
trâu và ngựạ, hai vị thần
này có thể bảo vệ ngựa và
trâu bò khoẻ mạnh, không
bị tà ma quấy nhiễu