Các bước cơ bản trong tiến trình truyền tải trang web đến màn hình của bạn được thể hiện theo mô hình sau: Theo mô hình trên, trình duyệt web thực hiện một kết nối tới máy chủ web, yêu c
Trang 1Mục Lục
Mục Lục 1
Internet 4
Máy chủ và máy khách 5
Địa chỉ IP (IPaddress) 6
Các máy chủ tên miền (Name servers) 7
Cổng (Ports) 8
Giaothức (Protocols) 9
II Các phương pháp tấn công webiste 11
Chương 2: Modsecurity 20
I Các khả năng của mod_security 21
II Cài đặt 23
III Cấu hình cơ bản .24
IV Rules 25
V Logging 31
VI Xây dựng chính sách trên Modsecurity chống lại một số tấn công 33
VII Tài liệu tham khảo 36
Chương 1: Hoạt động của ứng dụng web và cá kiểu tấn công web
I HTTP và Web Server
1 HTTP là gì ?
HTTP là chữ viết tắt từ HyperText Transfer Protocol (giao thức truyền tải siêu văn bản) Nó là giao thức cơ bản mà World Wide Web sử dụng HTTP xác định cách các thông điệp (các file văn bản, hình ảnh đồ hoạ, âm thanh, video,
Trang 2và các file multimedia khác) được định dạng và truyền tải ra sao, và những hành động nào mà các Web server (máy chủ Web) và các trình duyệt Web (browser) phải làm để đáp ứng các lệnh rất đa dạng Chẳng hạn, khi bạn gõ một địa chỉ Web URL vào trình duyệt Web, một lệnh HTTP sẽ được gửi tới Web server để ra lệnh và hướng dẫn nó tìm đúng trang Web được yêu cầu và kéo về
mở trên trình duyệt Web Nói nôm na hơn, HTTP là giao thức truyền tải các file
từ một Web server vào một trình duyệt Web để người dùng có thể xem một trang Web đang hiện diện trên Internet.HTTP là một giao thức ứng dụng của
bộ giao thức TCP/IP (các giao thức nền tảng cho Internet)
Có một tiêu chuẩn chính khác cũng điều khiển cách thức World Wide Web làm việc là HTML (HyperText Markup Language, ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản), có chức năng quản lý cách thức mà các trang Web được định dạng và hiển thị
người ta gọi HTTP là một giao thức “phi trạng thái” (stateless) bởi vì mỗi lệnh đều được thực thi một cách độc lập, lệnh sau không biết bất cứ điều gì về các lệnh đã đến trước mình Đây chính là một hạn chế, khiếm khuyết của HTTP
Nó là nguyên nhân chính của tình trạng rất khó thực thi các trang Web có khả năng phản ứng thông minh đối với lệnh mà người dùng nạp vào Và sự hạn chế này đang được các nhà phát triển khắc phục trong các công nghệ mới như ActiveX, Java, JavaScript và cookies
Phiên bản mới nhất của HTTP là 1.1 So với phiên bản nguyên thủy (HTTP 1.0), phiên bản mới này truyền tải các trang Web nhanh hơn và giảm tình trạng tắc nghẽn giao thông Web
2 Web Server
Các tiến trình cơ bản
Khi bạn ngồi trước máy tính và đang duyệt web trên Internet Có một người bạn của bạn gọi điện thoại cho bạn và nói “Tôi vừa đọc một bài viết rất
Trang 3hay! Bạn hãy đánh vào địa chỉ sau và xem thử nhé, địa chỉ trang web đó là http://computer.howstuffworks.com/web-server.htm “ Khi bạn gõ vào địa chỉ trang web đó trên trình duyệt web và ấn Enter, và thật là kỳ diệu, trang web đó
đã hiển thị trên màn hình của bạn
Vậy, làm thế nào mà trang web có thể hiện thị được trên màn hình của bạn, cơ chế hoạt động của máy chủ Web như thế nào? Chúng tôi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn bằng bài viết dưới đây
Các bước cơ bản trong tiến trình truyền tải trang web đến màn hình của bạn được thể hiện theo mô hình sau:
Theo mô hình trên, trình duyệt web thực hiện một kết nối tới máy chủ web, yêu cầu một trang web và nhận lại nó Sau đây, là thứ tự từng bước cơ bản xảy đến đằng sau màn hình của bạn:
• Trình duyệt web tách địa chỉ website làm 3 phần:
1 Phần giao thức: (“http”)
2 Máy chủ tên miền: (www.howstuffworks.com)
3 Tên tệp: (“web-server.htm”)
• Trình duyệt liên hệ với máy chủ tên miền để chuyển đổi tên miền
"www.howstuffworks.com" ra địa chỉ IP (Internet Protcol)
• Sau đó, trình duyệt sẽ gửi tiếp một kết nối tới máy chủ có địa chỉ IP tương ứng qua cổng 80
Trang 4• Dựa trên giao thức HTTP, trình duyệt gửi yêu cầu GET đến máy chủ, yêu cầu tệp "http://computer.howstuffworks.com/web-server.htm." (Bạn chú ý, cookies cũng sẽ được gửi kèm theo từ trình duyệt web đến máy chủ)
• Tiếp đến, máy chủ sẽ gửi đoạn text dạng HTML đến trình duyệt web của bạn (cookies cũng được gửi kèm theo từ máy chủ tới trình duyệt web, cookies được ghi trên đầu trang của mỗi trang web)
• Trình duyệt web đọc các thẻ HTML, định dạng trang web và kết xuất ra màn hình của bạn
Nếu bạn chưa từng bao giờ khám phá tiến trình trên, bạn sẽ gặp phải rất nhiều thuật ngữ mới Để hiểu hiểu một cách chi tiết, bạn cần biết thêm về các khái niệm như địa chỉ internet (địa chỉ IP), các cổng (ports), các giao thức (protocol)… Đoạn viết sau sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn
Trang 5quang Hệ thống đường cáp chính trên toàn thế giới được kết nối bằng các loại đường sợi cáp quang, cáp đi ngầm dưới biển hoặc bằng hệ thống vệ tinh (satellite) Bằng cách như vậy, thì mỗi một máy tính trên Internet đều được kết nối với nhau trên Internet
Máy chủ và máy khách
Nhìn chung, máy tính trên Internet có thể được chia làm loại: Máy chủ
và máy khách Máy chủ là loại máy tính cung cấp dịch vụ (máy chủ dịch vụ web, máy chủ dịch vụ thư điện tử) đến các máy khác Máy khách là những máy tính được sử dụng để kết nối tới các dịch vụ trên các máy chủ Khi bạn kết nối tới Yahoo! tại địa chỉ www.yahoo.com để xem trang web, trong trường hợp này, Yahoo! đang sử dụng một máy tính, được gọi là máy chủ (cũng có thể là một nhóm các máy chủ có cấu hình lớn) được kết nối trên Internet, nhằm cung cấp dịch vụ cho bạn Ngược lại, máy tính của bạn có thể không cung cấp dịch vụ nào trên Internet để người khác truy cập, do đó nó chỉ được coi là máy tính sử
Trang 6Một máy chủ có thể cung cấp một hay nhiều dịch vụ trên Internet Ví dụ, một máy chủ thì có thể có nhiều phần mềm chạy trên nó, cho phép nó hoạt động như là máy chủ web, máy chủ email hoặc máy chủ FTP Các máy trạm kết nối tới máy chủ thường với “mục đĩch” cụ thể, nó hướng yêu cầu của mình tới một máy chủ có ứng dụng phù hợp với “mục đích” đó, ví dụ nếu bạn đang chạy chương trình duyệt web trên máy tính của bạn, có nghĩa máy tính của bạn đã kết nối tới máy chủ dịch vụ web Tương tự, chạy ứng dụng Telnet trên máy tính của bạn sẽ kết nối tới máy chủ dịch vụ Telnet, chạy ứng dụng email sẽ kết nối tới máy chủ dịch vụ email…
Địa chỉ IP (IPaddress)
Để tất cả máy tính trên Internet có thể liên hệ với nhau, mỗi máy tính được cung cấp một địa chỉ duy nhất trên Internet, gọi là IP Địa chỉ IP là viết tắt của từ Internet Protocol IP là một số 32 bít và được thể hiện dưới dạng con số thập phân gồm có 4 “octet”, ví dụ 216.27.61.137 4 con số trong một địa chỉ
IP được gọi là các “octet”, vì mỗi số có thể có giá trị từ 0 đến 255, có nghĩa mỗi
“octet” có đến 28 giá trị khác nhau
Địa chỉ IP là duy nhất đối với mỗi máy tính khi tham gia Internet Đối với máy chủ, địa chỉ IP là cố định Một máy tính, khi được kết nối Internet bằng đường line điện thoại thông qua modem, thì được cung cấp địa chỉ IP bởi nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) Địa chỉ IP này là duy nhất cho mỗi lần kết nối, cũng đồng nghĩa nó sẽ thay đổi địa chỉ IP khác khi kết nối lần tiếp theo Theo cách này, thay vi phải cung cấp địa chỉ IP cho từng khách hàng truy cập, nhà cung cấp dịch vụ Internet ISP chỉ cần một địa chỉ IP cho một modem
Nếu bạn làm việc trên hệ điều hành windows, bạn có thể xem rất nhiều thông tin liên quan Internet được ghi vào cấu hình máy tính của bạn, bao gồm địa chỉ IP hiện tại, tên máy bằng cách sử dụng lệnh WINIPCFG.EXE
Trang 7tên của máy tính, bạn chỉ gõ dòng lệnh nslookup tại dấu nhắc.Khi máy tính được kết nối Internet, thông số địa chỉ IP là quan trọng nhất giúp bạn kết nối tới máy chủ Ví dụ, trên trình duyệt web, bạn có thể gõ địa chỉ kết nối http://209.116.69.66, lúc này, bạn đang kết nối kết máy chủ có địa chỉ IP
là 209.116.69.66 và máy chủ đó có dịch vụ Web server cho website HowStuffWorks
Các máy chủ tên miền (Name servers)
Thông thường, người dùng Internet không thể nhớ hết các con số trên địa chỉ IP, và một lý do nào đó địa chỉ IP cũng có thể thay đổi Vì vậy, tất cả các máy chủ trên Internet đều phải có một tên sao cho dễ đọc, thường được gọi là
“tên miền” – Domain names Ví dụ, tên miền www.howstuffworks.com là tên
cố định, dễ đọc hơn so với việc phải nhớ địa chỉ IP 209.116.69.66.Tên miền www.howstuffworks.com gồm có 3 phần:
1 Tên máy ("www")
2 Tên miền ("howstuffworks")
3 Tên miền cấp một ("com")
Tên miền được quản lý bởi một công ty, tên là VeriSign VeriSign tạo ra các tên miền “cấp một” và đảm bảo tất cả tên miền khác trong tên miền cấp một là duy nhất VeriSign cũng duy trì các thông tin liên quan đến mỗi địa chỉ tên miền trên cơ sở dữ liệu “whois”
Tên máy được tạo bởi công ty cung cấp dịch vụ lưu trữ tên miền “www” là tên máy phổ biến, nhưng nhiều nơi nó có thể được thay thế bởi tên khác, ví dụ tên máy thể hiện một khu vực địa lý, ví dụ như “encarta.msn.com”, tên miền của Microsoft's Encarta encyclopedia, tên máy "encarta" được thay thế cho www
Tập hợp các máy chủ tên miền (domain name servers - DNS) ánh xạ các tên
Trang 8liệu tên miền ánh xạ đến địa chỉ IP, và chúng được bố trí nhiều nơi trên mạng Internet Các công ty, các nhà cung cấp dịch vụ Internet hoặc các trường đại học đều duy trì máy chủ tên miền cỡ nhỏ để ánh xạ các tên máy tới các địa chỉ
IP tương ứng Tại VeriSign, cũng có các máy chủ tên miền trung tâm sử dụng
dữ liệu được cung cấp bởi VeriSign để ánh xạ các tên miền đến địa chỉ IP
Nếu bạn gõ địa chỉ http://computer.howstuffworks.com/web-server.htm vào trình duyệt web, trình duyệt sẽ tách tên miền www.howstuffworks.com và gửi nó tới máy chủ tên miền, sau đó máy chủ tên miền sẽ gửi ngược lại địa chỉ
IP đúng với tên miền www.howstuffworks.com
Trên máy chủ UNIX, bạn có thể biết các thông tin tương tự bằng cách sử dụng lệnh nslookup và đơn giản chỉ cần gõ vào một cái tên
www.howstuffworks.com trên dòng lệnh, câu lệnh sẽ tìm kiếm tên máy chủ và chuyển địa chỉ IP tương ứng cho bạn
Như vậy, Internet được tạo thành bởi hàng triệu máy tính, mỗi máy sẽ có địa chỉ IP duy nhất Trong số đó, rất nhiều các máy tính là các máy chủ cung cấp dịch vụ cho các máy khác trên Internet, ví dụ như máy chủ e-mail, máy chủ web, máy chủ FTP, máy chủ Gopher, máy chủ Telnet…
Cổng (Ports)
Bất kỳ máy chủ khi cung cấp các dịch vụ trên Internet, đều sử dụng cổng được đánh số Ví dụ, máy chủ chạy dịch vụ web và dịch vụ FTP, dịch vụ WEB thường dùng cổng 80, dịch vụ FTP dùng cổng 21 Các máy khách khi kết nối tới một dịch vụ, thường chỉ rõ địa chỉ IP và kết nối qua một cổng cụ thể Trên Internet, mỗi dịch vụ đều có sẵn cổng tương ứng dưới đây là danh sách các dịch cụ và các cổng tương ứng:
• Echo : 7
• daytime : 13
Trang 9Sau đó, nếu máy chủ của bạn được đặt tên là xxx.yyy.com, một người duyệt web nào đó trên Internet sẽ kết nối tới máy chủ của bạn với địa chỉ là http://xxx.yyy.com:918 “:918” thể hiện số cổng, và luôn đi kèm với địa chỉ kết nối tới máy chủ của bạn Nếu không có số cổng, trình duyệt web sẽ hiểu máy chủ cung cấp dịch vụ web qua cổng 80.
Giaothức (Protocols)
Khi máy khách kết nối tới một dịch vụ trên một cổng nào đó, nó thường truy cập dịch vụ thông qua một giao thức cụ thể Giao thức là sự định nghĩa sẵn cách thức mà đối tượng như phần mềm máy tính, trình duyệt web dùng để
“giao tiếp” với các dịch vụ mà chúng muốn sử dụng Giao thức thường là các
Trang 10đoạn text và đơn giản là mô tả cách thức máy khách và máy chủ “đàm thoại với nhau”
Giao thức đơn giản nhất là daytime protocol Nếu bạn kết nối tới cổng 13 trên máy chủ có dịch vụ daytime, máy chủ sẽ gửi tới máy tính của bạn thông tin ngày tháng và sau đó tự động ngắt kết nối
Trên hệ thống UNIX hỗ trợ dịch vụ trên, nếu bạn muốn thử, bạn có thể kết nối bằng ứng dụng Telnet Ví dụ
Connection closed by foreign host
Trên hệ thống máy chủ Windows, bạn có thể truy cập dịch vụ trên bằng cách gõ "telnet web67.ntx.net 13" tại dấu nhắc của MSDOS
Trong ví dụ này, “web67.ntx.net” là tên máy chủ UNIX, và số 13 là số cổng cho dịch vụ daytime Ứng dụng Telnet kết nối tới cổng 13, sau đó máy chủ gửi trả lại thông tin ngày tháng và ngắt kết nối
Hầu hết các giao thức khác đều phức tạp hơn so với giao thức Daytime Danh mục các giao thức được nêu trong tài liệu Request for Comment (RFC) tại website http://sunsite.auc.dk/RFC/
Mỗi máy chủ Web trên Internet đều phải hỗ trợ giao thức HTTP Hình thức
cơ bản nhất của giao thức này được biểu diễn qua câu lệnh: GET Nếu bạn kết nối tới máy chủ hỗ trợ giao thức HTTP và yêu cầu “GET tên tệp”, máy chủ sẽ trả lời bạn bằng việc gửi nội dung của tệp và sau đó ngắt kết nối Ví dụ như sau:
%telnet www.howstuffworks.com 80
Trying 216.27.61.137
Trang 11Connection closed by foreign host.
Trong giao thức HTTP nguyên bản, bạn sẽ cung cấp đầy đủ đường dẫn của tên tệp, ví dụ như “/” hoặc “/tên tệp.htm” Sau đó, giao thức sẽ tự điều chỉnh
để có thể đưa ra một địa chỉ URL đầy đủ Điều này cho phép các công ty kinh doanh dịch vụ lưu trữ có thể lưu trữ nhiều virtual domains (tên miền ảo), có nghĩa nhiều tên miền cùng tồn tại trên một máy chủ và sử dụng cùng một địa chỉ IP duy nhất Ví dụ, trên máy chủ của HowStuffWorks, địa chỉ IP là 209.116.69.66, nhưng nó có hàng trăm tên miền khác nhau cùng tồn tại
II Các phương pháp tấn công webiste.
1 Tấn công từ chối dịch vụ
Tấn công từ chối dịch vụ là gì? : Tấn công bằng từ chối dịch vụ DoS (Denial
of Service) có thể mô tả như hành động ngăn cản những người dùng hợp pháp
khả năng truy cập và sử dụng vào một dịch vụ nào đó Nó bao gồm làm tràn ngập mạng, mất kết nối với dịch vụ… mà mục đích cuối cùng là máy chủ
(Server) không thể đáp ứng được các yêu cầu sử dụng dịch vụ từ các máy trạm (Client).
Trang 12DoS có thể làm ngưng hoạt động của một máy tính, một mạng nội bộ, thậm chí cả một hệ thống mạng rất lớn Về bản chất thực sự của DoS, kẻ tấn công sẽ chiếm dụng một lượng lớn tài nguyên mạng như băng thông, bộ nhớ… và làm mất khả năng xử lý các yêu cầu dịch vụ từ các client khác.
Tùy theo phương thức thực hiện mà nó được biết dưới nhiều tên gọi khác nhau Khởi thủy là lợi dụng sự yếu kém của giao thức TCP (Transmision Control Protocol) để thực hiện tấn công từ chối dịch vụ cổ điển DoS (Denial of Service), sau đó là tấn công từ chối dịch vụ phân tán DdoS (Distributed Denial of Service)
và mới nhất là tấn công từ chối dịch vụ theo phương pháp phản xạ DRDoS (Distributed Reflection Denial of Service) Theo thời gian, xuất hiện nhiều biến thể tấn công DoS như: Broadcast Storms, SYN, Finger, Ping, Flooding,… với mục tiêu nhằm chiếm dụng các tài nguyên của hệ thống (máy chủ) như: Bandwidth, Kernel Table, Swap Space, Cache, Hardisk, RAM, CPU,… làm hoạt động của hệ thống bị quá tải dẫn đến không thể đáp ứng được các yêu cầu (request) hợp lệ nữa Tấn công DoS nói chung không nguy hiểm như các kiểu tấn công khác ở chỗ nó không cho phép kẻ tấn công chiếm quyền truy cập hệ thống hay có quyền thay đổi hệ thống Tuy nhiên, nếu một máy chủ tồn tại mà không thể cung cấp thông tin, dịch vụ cho người sử dụng, sự tồn tại là không có ý nghĩa nên thiệt hại do các cuộc tấn công DoS do máy chủ bị đinh trệ hoạt động là vô cùng lớn, đặc biệt là các hệ thống phụ vụ các giao dịch điện tử Đối với các hệ thống máy chủ được bảo mật tốt, rất khó để thâm nhập vào thì tấn công từ chối dịch vụ được các hacker sử dụng như là “cú chót” để triệt hạ hệ thốngđó
a Các cách thức tấn công từ chối dịch vụ:
• Tấn công từ chối dịch vụ cổ điển DoS (Denial of Service):
Là phương thức xuất hiện đầu tiên, giản đơn nhất trong kiểu tấn công từ chối dịch vụ
Trang 13• Tấn công từ chối dịch vụ kiểu phân tán – DdoS:
Xuất hiện vào mùa thu 1999, so với tấn công DoS cổ điển, sức mạnh của DDoS
cao hơn gấp nhiều lần Hầu hết các cuộc tấn công DDoS nhằm vào việc chiếm dụng băng thông (bandwidth) gây nghẽn mạch hệ thống dẫn đến hệ thống ngưng hoạt động Để thực hiện thì kẻ tấn công tìm cách chiếm dụng và điều khiển nhiều máy tính/mạng máy tính trung gian (đóng vai trò zombie) từ nhiều nơi để đồng loạt gửi ào ạt các gói tin (packet) với số lượng rất lớn nhằm chiếm dụng tài nguyên và làm tràn ngập đường truyền của một mục tiêu xác định nào đó
Trang 14• Tấn công từ chối dịch vụ phản xạ nhiều vùng RDDoS:
Về cơ bản, DRDoS là sự phối hợp giữa hai kiểu DoS và DDoS Nó có kiểu tấn công SYN với một máy tính đơn, vừa có sự kết hợp giữa nhiều máy tính để chiếm dụng băng thông như kiểu DDoS Kẻ tấn công thực hiện bằng cách giả mạo địa chỉ của server mục tiêu rồi gửi yêu cầu SYN đến các server lớn như Yahoo, Micorosoft,… chẳng hạn để các server này gửi các gói tin SYN/ACK đến server mục tiêu Các server lớn, đường truyền mạnh đó đa vô tình đóng vai trò zoombies cho kẻ tấn công như trong DdoS
Trang 15Hacker thường đánh cắp thông tin người dùng bằng cách giả danh để giao tiếp với họ Ví dụ như email giả danh một mạng xã hội ảo ,giả danh yêu cầu thanh toán trực tuyến hay như trong trường hợp xảy ra trong tuần rồi: giả danh nhà cung cấp dịch vụ mail.
Các email này thường chuyển nạn nhân đến một trang web giả mạo giống hệt với trang web thật,làm cho họ nhầm lẫn và điền các thông tin nhạy cảm vào, kết quả là các thông tin đó rơi vào tay các hacker
Do cách tấn công đơn giản nhưng lại hiệu quả cao nên phising nhanh
chóng trở thành một trong những kiểu tấn công phổ biến nhất trên mạng.Các cuộc lừa đảo được tạo ra hàng ngày bởi với mục đích chung là đánh cắp thông tin nhạy cảm của người dùng Internet
Trang 16Tấn công XSS là gì?
Cross-Site Scripting hay còn được gọi tắt là XSS (thay vì gọi tắt là CSS để tránh nhầm lẫn với CSS-Cascading Style Sheet của HTML) là một kĩ thuật tấn công bằng cách chèn vào các website động (ASP, PHP, CGI, JSP ) những thẻ HTML hay những đoạn mã script nguy hiểm có thể gây nguy hại cho những người sử dụng khác Trong đó, những đoạn mã nguy hiểm đựơc chèn vào hầu hết được viết bằng các Client-Site Script như JavaScript, JScript, DHTML và cũng có thể là cả các thẻ HTML Kĩ thuật tấn công XSS đã nhanh chóng trở thành một trong những lỗi phổ biến nhất của Web Applications và mối đe doạ của chúng đối với người sử dụng ngày càng lớn Người chiến thắng trong cuộc thi eWeek OpenHack 2002 là người đã tìm ra 2 XSS mới Phải chăng mối nguy hiểm từ XSS đã ngày càng được mọi người chú ý hơn
Tấn công XSS như nào?
Về cơ bản XSS cũng như SQL Injection hay Source Injection, nó cũng là các yêu cầu (request) được gửi từ các máy client tới server nhằm chèn vào đó các thông tin vượt quá tầm kiểm soát của server Nó có thể là một request được gửi từ các form dữ liệu hoặc cũng có thể đó chỉ là các URL như là
Code:
http://www.example.com/search.cgi?query=<script>alert('XSS was found !');</script>
Và rất có thể trình duyệt của bạn sẽ hiện lên một thông báo "XSS was found !" Các đoạn mã trong thẻ <script> không hề bị giới hạn bởi chúng hoàn toàn có thể thay thế bằng một file nguồn trên một server khác thông qua thuộc tính src của thẻ <script> Cũng chính vì lẽ đó mà chúng ta chưa thể lường hết được độ nguy hiểm của các lỗi XSS Nhưng nếu như các kĩ thuật tấn công khác có thể làm thay đổi được dữ liệu nguồn của web server (mã nguồn, cấu trúc, cơ sở dữ liệu) thì XSS chỉ gây tổn hại đối với website ở phía client mà nạn
Trang 17nhân trực tiếp là những người khách duyệt site đó Tất nhiên đôi khi các hacker cũng sử dụng kĩ thuật này đề deface các website nhưng đó vẫn chỉ tấn công vào bề mặt của website Thật vậy, XSS là những Client-Side Script, những đoạn
mã này sẽ chỉ chạy bởi trình duyệt phía client do đó XSS không làm ảnh hưởng đến hệ thống website nằm trên server Mục tiêu tấn công của XSS không ai khác chính là những người sử dụng khác của website, khi họ vô tình vào các trang có chứa các đoạn mã nguy hiểm do các hacker để lại họ có thể bị chuyển tới các website khác, đặt lại homepage, hay nặng hơn là mất mật khẩu, mất cookie thậm chí máy tính bạn có thể sẽ bị cài các loại virus, backdoor, worm
Trang 18và password, remote execution, dump data và lấy root của SQL server Công cụ dùng để tấn công là một trình duyệt web bất kì, chẳng hạn như Internet Explorer, Netscape, Lynx,
Tấn công SQL-injection như nào?
1. Dựa trên lỗi của cơ dở dữ liệu, qua đó Attacker tiến hành khai thác lỗi trên website Thông thường, các cơ sở dữ liệu bị truy vấn qua đó, attacker có thể lấy được tài khoản của người dung
2. Thi hành lệnh bằng SQL injection Đây là một ví dụ:
‘; exec master xp_cmdshell ‘ping 10.10.1.2′–
5 Tấn công Session Hijacking
Tấn công Session Hijacking là gì?
Session Hijacking là quá trình chiếm lấy một session đang hoạt động, nhằm mục đích vượt quaquá trình chứng thực truy cập bất hợp lệ vào thông tin hoặc dịch vụ của một hệ thống máy tính Khi một user thực hiện kết nối tới server qua quá trình xác thực, bằng cách cung cấp ID người dùng và mật khẩu của