1.2 Nguồn gốc ra đời Ngành công nghệ thẻ Ngân hàng tuy mới phát triển thật sự trong 25 năm gần đây nhưng thẻ có một lịch sử lâu đời bắt nguồn từ việc các đại lý bán lẻ cung cấp tín dụng
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thanh toán, đặc biệt nhu cầu không dùng tiền mặt để thanh toán của người dân ngày càng nhiều hơn Các Ngân hàng đang đẩy mạnh hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua nhiều kênh khác nhau Mỗi hình thức thanh toán đều có công dụng riêng thích hợp cho từng đối tượng và loại hình giao dịch đa dạng phong phú Việc đưa ra một hình thức thanh toán phù hợp vừa là nhiệm vụ, vừa là mục đích kinh doanh và trọng điểm cạnh tranh của các Ngân hàng Cho đến nay Việt Nam đang áp dụng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, đó là hình thức thẻ ATM Có thể nói đại diện cho phương thức thanh toán trong xã hội hiện đại, sử dụng thẻ khách hàng có thể chủ động hơn trong việc rút tiền, nhận tiền, chuyển tiền, trả lương cho nhân viên, thanh toán hàng hóa, Trước đây, việc sử dụng thẻ ATM trong khu vực dân cư ở Việt Nam vẫn còn phát triển khiêm tốn chưa được sử dụng rộng rãi Ngày nay, theo đà phát triển của thế giới, việc sử dụng thẻ ATM đã trở nên phổ biến, gần gũi với người dân hơn và được sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam do những công dụng riêng
mà thẻ đem lại Tốc độ tăng trưởng của thị trường thẻ ATM ngày càng cao, quy
mô, số lượng phát hành và sử dụng ngày càng lớn, sự phát triển hệ thống ATM nhanh chóng đã làm cho thị trường thẻ cực kỳ sôi động Tuy nhiên bên cạnh những tiện ích to lớn do việc sử dụng thẻ vẫn còn tồn tại những vấn đề hạn chế cần được quan tâm và bên cạnh hiện trạng bùng nổ thẻ vẫn còn tồn tại những vấn
đề giới hạn đòi hỏi phải có những giải pháp thích hợp Lý do chọn chuyên đề
”Thực trạng và giải pháp nâng cao tình hình sử dụng thẻ ATM tại Việt Nam” là muốn người đọc hiểu biết nhiều hơn về hiện trạng phát hành thẻ của các
Ngân hàng và nhu cầu sử dụng của người dân Đồng thời qua các giải pháp có thể
sẽ giúp cho việc phát hành và sử dụng khắc phục hạn chế, phát huy thế mạnh và từ
Trang 22.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu sơ lược về thẻ ATM
- Đánh giá thực trạng phát hành thẻ của các Ngân hàng tại Việt Nam thời gian qua
- Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thẻ ATM
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp thông qua sách báo, tạp chí chuyên ngành, internet
3.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Dùng phương pháp thống kê mô tả và so sánh để phân tích các số liệu
Thông tin, số liệu của chuyên đề sử dụng số liệu năm 2010- 2012
4.3 Đối tượng nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu và phân tích tình hình sử dụng thẻ ATM chứ không đi sâu nghiên cứu về những kỹ thuật xung quanh việc hình thành thẻ
Trang 3PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm
Thẻ ATM là thẻ dùng để rút tiền và chuyển tiền trên hệ thống quầy tự động
Hệ thống thanh toán tự động này còn được gọi là hộp ATM, bao gồm hệ thống máy tính nối mạng với toàn bộ hệ thống tiền gửi của Ngân hàng, bên cạnh việc mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng, Ngân hàng còn bán cho khách hàng một tấm thẻ nhựa, còn được gọi là thẻ từ hay thẻ thông minh Bên trong thẻ có một bộ phận
từ ghi lại mật mã của khách hàng và ghi lại những thông tin về tài khoản của khách hàng Sau khi khách hàng mở tài khoản và gửi tiền vào Ngân hàng thì chỉ hai phút sau đó, toàn bộ số tiền cùng mật mã của khách hàng được máy tính điện
tử thông báo đến mạng của toàn thành phố và có thể trên phạm vi cả nước, nếu Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng có chi nhánh và quan hệ khắp nơi trên toàn quốc
1.2 Nguồn gốc ra đời
Ngành công nghệ thẻ Ngân hàng tuy mới phát triển thật sự trong 25 năm gần đây nhưng thẻ có một lịch sử lâu đời bắt nguồn từ việc các đại lý bán lẻ cung cấp tín dụng cho khách hàng thông qua việc mua hàng trước trả tiền sau Nhưng nhiều đại lý nhỏ không đủ khả năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ các Ngân hàng đã tham gia vào việc này
Thẻ Ngân hàng xuất hiện năm 1946 tại Mỹ với tên gọi Charg-It do Ngân hàng John Biggins phát hành Đó là một hệ thống tín dụng cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa tại các đại lý bằng các “phiếu” có giá trị do Ngân hàng phát hành Đây có thể coi như là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của Ngân hàng Franklin National New York vào năm 1951 Trải qua quá trình tồn tại và phát triển, đến năm 1970 chiếc thẻ từ đầu tiên ra đời Đó là một chiếc thẻ bằng nhựa có gắn theo một lõi từ tính để lưu trữ các thông tin Theo sự phát triển của đời sống xã hội, thẻ được trang bị thêm những công nghệ tinh vi khác như các hình không gian ba chiều được in bằng một công nghệ laser chỉ có thể nhận biết
Trang 4được bằng tia cực tím Cùng với xu thế phát triển chung của toàn cầu, công nghệ thẻ được du nhập vào Việt Nam từ năm 1996 chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu sử dụng thẻ của khách nước ngoài đến Việt Nam Xu hướng sử dụng thẻ thanh toán mới bắt đầu trở nên quen thuộc và sôi động ở Việt Nam từ hai năm trở lại đây.
1.3 Ưu điểm của thẻ ATM
1.3.1 Đối với người sử dụng
Có thể nói, trước khi thẻ ATM xuất hiện thì việc người dân có nhu cầu giao dịch với Ngân hàng đều phải đến trực tiếp các Ngân hàng thương mại và phải đối mặt với nhiều loại thủ tục phức tạp Đôi khi còn gặp nhiều khó chịu do thái độ phục vụ và ý thức của nhân viên Ngân hàng Hơn nữa việc giao dịch trực tiếp với Ngân hàng còn bị giới hạn về thời gian và không gian vì các Ngân hàng chỉ làm việc theo thời gian quy định Đây là sự bất tiện trong giao dịch với khách hàng Tuy nhiên từ khi thẻ ATM xuất hiện đã góp phần giải quyết được tình trạng đó và phục vụ tốt hơn nhu cầu giao dịch của Ngân hàng
* Rút tiền mặt: Khả năng đầu tiên và cơ bản nhất của thẻ ATM là giúp cho
người sử dụng có thể rút tiền mặt trong tài khoản của mình một cách dễ dàng và nhanh chóng Khi người chủ thẻ có nhu cầu rút tiền, họ chỉ cần mang thẻ ATM đến bất cứ máy ATM nào gần nhất Khách hàng chỉ việc ấn thẻ ATM vào máy, bấm mã số và yêu cầu số tiền mình cần rút, mọi thao tác chỉ diễn ra trong vòng từ
30 giây đến 1 phút
* Gửi tiền: Đây là dịch vụ mà Ngân hàng Đông Á là Ngân hàng đầu tiên
trong nước cho phép khách hàng của mình gửi tiền qua thẻ ATM mà không phải đến trực tiếp Ngân hàng Đây là một tiện ích nhằm nâng cao giá trị sử dụng của thẻ ATM đồng thời tạo được ưu thế cho thẻ ATM của Ngân hàng trên thị trưòng thẻ hiện nay
* Thanh toán các dịch vụ: Đây là một tiện ích góp phần phục vụ tốt hơn cuộc
sống của con người vì nó tiết kiệm được thời gian, công sức và chi phí cho người
sử dụng Người sử dụng có thể trả các khoản chi phí dịch vụ của gia đình như: điện, nước, điện thoại, phí internet, đóng bảo hiểm, thậm chí cả việc ủng hộ các quỹ từ thiện bằng cách chuyển khoản qua chính thẻ ATM của mình Điều này sẽ giúp người dân thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt Hiện nay các Ngân hàng đang
Trang 5tìm cách để liên kết với các công ty điện lực, cấp nước, điện thoại… để tiến hành đưa dịnh vụ này vào phục vụ khách hàng mà đi đầu là Ngân hàng Đông Á Trên thực tế, các công ty điện thoại, điện, nước hoàn toàn có khả năng uỷ thác cho Ngân hàng thu tiền dịch vụ hàng tháng của khách hàng Giấy báo tiền điện, nước…được gửi trực tiếp đến Ngân hàng, Ngân hàng sẽ thanh toán cho các công
ty, cuối tháng Ngân hàng sẽ gửi bản sao kê các loại tiền dịch vụ đã được khấu trừ cho khách hàng của mình là xong Điều này cũng giúp các công ty tiết kiệm được thời gian công sức và chi phí cho việc thu tiền hàng tháng theo cách thủ công
+ Khi thanh toán hoá đơn: Khách hàng bấm phím “Thanh toán hoá đơn” máy sẽ yêu cầu chọn loại dịch vụ cần thanh toán (điện, nước, điện thoại, …) Bấm phím tương ứng mà hình sẽ xuất hiện chọn nhà cung cấp dịch vụ (ví dụ: MobiFone, Vinaphone, Manulife…) Máy yêu cầu nhập số tham chiếu (hợp đồng,
mã khách hàng, số thuê bao, …) bấm ENTER/NHẬP
Máy yêu cầu xác nhận lại số tham chiếu-bấm ENTER/NHẬP Máy yêu cầu nhập số tiền muốn thanh toán-bấm ENTER/NHẬP Màn hình xuất hiện “xác nhận
số tiền bạn vừa thanh toán số tiền X cho dịch vụ Y với số tham chiếu Z” và hỏi
“Bạn có muốn in hoá đơn giao dịch”, bấm phím “Có” hoặc “Không”, nếu có chờ nhận hoá đơn tại “Khe hoá đơn”…
Danh mục các dịch vụ mà chủ thẻ có thể thanh toán qua ATM được hiển thị ngay trên máy ATM Chủ thẻ đa năng của Ngân hàng Đông Á có thể thanh toán tiền bảo hiểm, nước, điện, điện thoại,…Chủ thẻ VCB có thể thanh toán qua ATM cho các hoá đơn dịch vụ sinh hoạt như: điện thoại cố định, thuê bao di động trả sau, tiền phí bảo hiểm, tiền điện…Trong đó riêng thanh toán tiền MobiFone thì chủ thẻ phải đăng ký qua tin nhắn để được cấp pin và số pin này để nhập vào khi thanh toán
Lưu ý: Khi chuyển khoản, mua thẻ điện thoại, thanh toán dịch vụ… chủ thẻ
phải nhớ và bấm đúng tài khoản sẽ chuyển, công ty cung cấp dịch vụ viễn thông,
số hợp đồng… vì tiền sẽ từ tài khoản của chủ thẻ lập tức chuyển vào tài khoản đến hoặc của nhà cung cấp dịch vụ
+ Thanh toán tự động: ngoài ra, ở một số Ngân hàng chủ thẻ có thể thanh toán tiền dịch vụ mà không cần đến ATM Như ở Ngân hàng Đông Á có dịch vụ
Trang 6thanh toán tự động tiền điện, nước, điện thoại/internet, tiền bảo hiểm qua thẻ Đông
Á Chủ thẻ chỉ cần đăng ký một lần tại Ngân hàng, thủ tục là giấy thông báo hoặc hoá đơn kỳ trước Hiện Ngân hàng Đông Á đã hợp tác được với các đơn vị để triển khai chương trình thanh toán các dịch vụ tự động cho khách hàng…
Đến kỳ thanh toán, căn cứ trên hồ sơ nhờ thu của bên cung cấp dịch vụ gửi qua, Ngân hàng tự động trích tiền từ tài khoản thẻ của khách hàng để thanh toán cho kỳ hoá đơn dịch vụ đó, hoá đơn sẽ được gửi đến khách hàng sau
* Chuyển khoản: Ngoài việc gửi tiền, rút tiền và thanh toán các chi phí dịch
vụ của gia đình, thẻ ATM còn có chức năng chuyển khoản theo yêu cầu của khách hàng trở nên nhanh chóng, an toàn và tiện lợi
* An toàn và có khả năng sinh lời: Thẻ ATM còn có tác dụng như một người
bảo vệ túi tiền cho khách hàng, bởi chỉ duy nhất chủ thẻ mới biết mã số để rút tiền Ngay cả trong trường hợp chủ thẻ đánh mất thẻ của mình thì người khác cũng không thể rút tiền trong tài khoản nếu không biết mã số Hơn nữa, do không giữ quá nhiều tiền mặt trong người nên khách hàng cũng không sợ mất mát do trộm cắp Bên cạnh đó việc có thể thường xuyên kiểm tra các khoản tiền đã được sử dụng qua thẻ ATM sẽ giúp người chủ thẻ quản lý tốt túi tiền của mình và có kế hoạch chi tiêu hợp lý Một điều hết sức có lợi cho người sử dụng thẻ ATM được tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn là 0.02% tháng
1.3.2 Đối với các doanh nghiệp
Thẻ ATM không chỉ đem lại nhiều tiện ích cho cá nhân người sử dụng mà đây còn là một lời giải cho bài toán khó trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bằng cách giảm thiểu chi phí trong việc trả lương của doanh nghiệp
Do đó ngày càng có nhiều doanh nghiệp thực hiện việc trả lương cho nhân viên qua thẻ ATM vì nhiều tiện lợi cho cả người phát lương và người lĩnh lương
* Tiện lợi trong việc sử dụng dịch vụ trả lương qua thẻ: So với hình thức chi
trả lương thủ công như lâu nay thì việc chi trả lương qua tài khoản tiện lợi hơn nhiều Vì các doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mở tài khoản cho nhân viên của mình tại Ngân hàng và chuyển bảng lương của doanh nghiệp vào mỗi kỳ phát lương cho Ngân hàng, Ngân hàng sẽ tự động hoạch toán và chuyển số lương tương ứng vào tài khoản của từng nhân viên
Trang 7* Tiết kiệm được thời gian và chi phí: Việc trả lương qua thẻ ATM sẽ giúp
cho các doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian do không phải trực tiếp phát lương đến từng nhân viên như trước đây và hơn nữa khi thực hiện trả lương qua thẻ doanh nghiệp cũng giảm được chi phí cho bộ máy phát lương, quản lý tốt ngân quỹ trong chi trả và tránh tình trạng tiền giả
* Quản lý tốt tiền lương cho công nhân: Khi các doanh nghiệp sử dụng dịch
vụ trả lương qua thẻ ATM thì ngoài việc các doanh nghiệp có lợi thì công nhân nhận lương từ thẻ ATM cũng có lợi về nhiều mặt Trước hết là các công nhân sẽ được hưởng mọi tiện ích từ chiếc thẻ ATM và họ có thể rút tiền theo nhu cầu chi tiêu của mình Hơn nữa tiền lương còn lại trên tài khoản thẻ ATM của họ sẽ được bảo đảm an toàn và được hưởng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn theo quy định của Ngân hàng Thêm vào đó việc sử dụng thẻ ATM trong việc chi trả lương giúp bảo mật về tiền lương, thưởng và các khoản tiền phụ cấp khác của công nhân, điều này
sẽ tránh được chuyện ganh tỵ lẫn nhau trong nội bộ Đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân khiến các doanh nghiệp quay sang sử dụng dịch vụ
1.3.3 Đối với các Ngân hàng
Thẻ ATM ra đời không chỉ mang lại tiện ích cho người sử dụng mà nó còn góp phần thúc đẩy sự phát triển vững mạnh cho hệ thống tài chính của một quốc gia nói chung và các Ngân hàng nói riêng
* Đối với Ngân hàng trung ương: Tuy Ngân hàng trung ương (NHTW)
không trực tiếp tham gia vào dịch vụ thẻ ATM nhưng việc người dân sử dụng thẻ ATM lại có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của NHTW cũng như hệ thống tài chính của một quốc gia, đặc biệt là đối với một nước đang phát triển và trên 90% người dân có thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán Việc các NHTM huy động được vốn từ việc mở tài khoản thanh toán cho thẻ ATM đã làm tăng mức dự trữ bắt buộc của các NHTM tại NHTW
Hơn nữa, việc người dân mở tài khoản ở Ngân hàng để sử dụng thẻ ATM sẽ làm hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong lưu thông Vì việc thanh toán bằng tiền mặt sẽ làm chậm vòng quay của đồng tiền, làm chậm tốc độ phát triển của nền kinh tế Trong khi thanh toán bằng thẻ ATM thì chỉ bằng vài động tác nhập dữ liệu thì tiền đã được chuyển từ nơi này sang nơi khác Hơn nữa việc thanh toán bằng
Trang 8chuyển khoản thông qua thẻ ATM sẽ làm tăng khả năng tạo vốn cho Ngân hàng Ngoài ra việc thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giúp NHTW giảm được gánh nặng trong việc in tiền, vận chuyển, cất trữ bảo quản tiền mặt cũng như tránh được nạn tiền giả Việc hạn chế sử dụng tiền mặt trong lưu thông chuyển qua sử dụng thẻ ATM sẽ giúp Nhà nước kiểm soát chặt chẽ hơn trong vấn đề thu thuế của các doanh nghiệp cũng như cá nhân, đồng thời dễ dàng phát hiện những vấn đề tiêu cực của xã hội như nạn rửa tiền hoặc tham nhũng Hơn nữa việc sử dụng phương thức TTKDTM sẽ giúp NHTW quản lý tốt lượng tiền lưu thông và qua đó sẽ kịp thời có những chính sách tiền tệ và đưa ra những biện pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và xây dựng một hệ thống tài chính vững mạnh.
* Đối với các Ngân hàng thương mại: Có thể nói việc xuất hiện của thẻ ATM
trong thanh toán đã góp phần làm cho các dịch vụ tài chính tiền tệ trở nên đa dạng, phong phú và hiệu quả hơn Ngân hàng có thể phục vụ tốt hơn các nhu cầu giao dịch ngày càng cao của khách hàng trong nền kinh tế phát triển như hiện nay Việc các Ngân hàng đua nhau phát triển thẻ ATM ở Việt Nam sẽ giúp các Ngân hàng thu hút những khách hàng đang có nhu cầu sử dụng thẻ ATM Bên cạnh đó việc đưa dịch vụ thẻ ATM vào phục vụ nhu cầu giao dịch của người dân đòi hỏi các Ngân hàng phải tự trang bị và nâng cao khả năng tự động hoá trong giao dịch và chất lượng phục vụ khách hàng trong và ngoài nước, nhất là khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với thế giới và ngành du lịch Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ như hiên nay Đây là một bước tiến tất yếu phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế công nghiệp hoá hiện đại hoá Bên cạnh đó việc các Ngân hàng đưa dịch vụ thẻ ATM vào khai thác sẽ mở ra một kênh huy động vốn lớn cho Ngân hàng Có thể số lượng tiền gửi trong tài khoản của mỗi thẻ ATM không lớn, nhưng nếu tính trên tổng số thẻ ATM mà Ngân hàng phát hành thì đây là một số tiền đáng
kể với các Ngân hàng
Trang 91.4 Nhược điểm của thẻ ATM
1.4.1 Thẻ ATM chưa thật sự an toàn
Có thể nói, ngày nay văn minh TTKDTM đang được phổ biến rộng rãi ở khá nhiều nước trên toàn thế giới Một trong những công cụ góp phần làm giảm việc thanh toán tiền mặt chính là những chiếc thẻ nhỏ gọn và xinh xắn, được coi như là những “chiếc ví điện tử” Tuy nhiên, trong thời đại khoa học công nghệ cực thịnh như hiện nay và internet được phổ cập rộng rãi ra toàn cầu thì việc bảo mật cho những chiếc thẻ đang là một vấn đề làm đau đầu các chuyên gia trong ngành Ngân hàng bởi nạn làm thẻ giả và đánh cắp thông tin cá nhân của thẻ qua các máy ATM đang ngày càng được phổ biến nhân rộng với những cách thức tinh vi hơn điều đó đã được tổ chức thẻ quốc tế cảnh báo từ rất lâu
Gần đây, một số vụ việc liên quan tới thẻ ATM giả đã được phát hiện và công bố tại Việt Nam, trong đó tội phạm gồm cả người nước ngoài và người Việt Nam
Thủ đoạn phổ biến của tội phạm làm giả thẻ ATM là dùng các website giả hoặc giả mạo nhân viên Ngân hàng gửi mail yêu cầu chủ thẻ cung cấp thông tin, hoặc gắn các thiết bị đọc băng từ của thẻ trên các máy ATM để lấy thông tin của người dùng, sau đó chuyển sang thẻ trắng rồi thực hiện lấy tiền trong tài khoản Một trong những lý do khiến Việt Nam được xem là "mảnh đất màu mỡ" đối với tội phạm làm giả thẻ ATM là nhiều Ngân hàng vẫn còn dùng thẻ từ, một loại thẻ không đảm bảo an toàn bảo mật thông tin dữ liệu của chủ thẻ, có thể dễ dàng sao chép (copy), ăn trộm mã số thẻ
Như một thành viên của Hiệp hội Thẻ Ngân hàng Việt Nam "bật mí" thì trong năm 2011, số tiền mà tội phạm lấy được từ các thẻ Ngân hàng tại Việt Nam
là khoảng 3 triệu USD (khoảng 62,5 tỉ đồng) - (Theo Diễn đàn kinh tế Việt Nam đăng ngày 26/11/2012).
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là ai sẽ gánh chịu tổn thất do nạn sử dụng ATM giả này gây ra, nhiều vụ khiếu kiện về việc mất tiền trong tài khoản thẻ ATM mà “khổ chủ” - người sử dụng không biết kêu ai đành phải ngậm đắng chịu thiệt thòi Nhưng điều quan trọng hơn mà người dân quan tâm là các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của khách hàng lại chưa có Chính vì thế, khi các Ngân hàng Việt
Trang 10Nam có máy ATM bị rút tiền bằng thẻ tín dụng quốc tế giả thì họ không phải chịu trách nhiệm gì về thiệt hại tài chính do thẻ tín dụng quốc tế giả gây nên bởi đó là giao dịch “hợp pháp” Thực chất, thẻ tín dụng chỉ là một tấm thẻ cung cấp các thông tin cho hệ thống phần mềm máy tính xử lý, nếu các thông tin đó là đúng thì máy tính sẽ tiến hành giao dịch Theo dự báo của các chuyên gia, đây chính là cuộc chiến mới của các Ngân hàng khi chấp nhận vào cuộc chơi với dịch vụ thẻ.
1.4.2 Dịch vụ thẻ ATM còn yếu
Gần đây các Ngân hàng đã lắp đặt thêm nhiều máy ATM trên toàn quốc Tuy nhiên dường như hệ thống giao dịch điện tử qua máy ATM vẫn chưa thực sự sẵn sàng vào cuộc Trong khi chức năng chính của thẻ là thanh toán thì đa số người tiêu dùng hiện nay chỉ dùng thẻ để rút tiền mặt tại các máy ATM, từ đó dẫn đến hiểu sai chức năng của thẻ Các địa điểm có lượng giao dịch đòi hỏi thanh toán nhiều như siêu thị, trung tâm thương mại, nhà hàng hiện nay vẫn chưa có các máy đọc thẻ Ngay tại một số siêu thị lớn có máy đọc thẻ thì cũng không được trang bị tại tất cả các quầy thu ngân, do đó khách hàng vẫn gặp khó khăn khi muốn trả tiền bằng thẻ Một bất cập khác của thẻ ATM là chưa thật sự có nhiều tiện ích, hấp dẫn khách hàng Mảng phát triển mạnh nhất của dịch vụ thẻ này là trả lương qua tài khoản Tuy nhiên, mới chỉ có các công ty lớn, tập đoàn, liên doanh và các tổ chức nước ngoài “sài” dịch vụ này Các tiện ích khác như chuyển khoản, thanh toán bảo hiểm, tiền điện thoại, tiền điện… hiện chỉ có một số Ngân hàng áp dụng
Ngay cả khi đã phát triển dịch vụ thanh toán thì dịch vụ lại không tốt, như tại một số siêu thị lớn chỉ có vài quầy thu ngân có máy cà thẻ, khách hàng muốn thanh toán phải chờ nhân viên thu ngân in phiếu, xong đến điểm cà thẻ (khi đông khách phải chờ đợi lâu), xong quay lại quầy đưa thẻ và hóa đơn để nhân viên nhập
dữ liệu rồi mới nhận hàng Nếu dịch vụ như vậy người tiêu dùng chỉ cần thanh toán bằng tiền mặt sẽ nhanh hơn nhiều
Hoặc muốn thanh toán bằng thẻ phải xuất trình cả giấy chứng minh nhân dân
Ở đây còn photo lại cả chứng minh nhân dân và thẻ của khách hàng, như vậy lấy
gì đảm bảo thông tin của khách hàng không bị rò rỉ để kẻ xấu lợi dụng (Theo báo điện tử vnexpress.net ngày 21/01/2013).
1.4.3 Hệ thống ATM thường xuyên bị quá tải
Trang 11Do nhu cầu cạnh tranh, các Ngân hàng đang nỗ lực chạy đua trong việc phát hành thẻ, số lượng thẻ ATM không ngừng tăng lên và hệ thống máy ATM cũng được các Ngân hàng chú trọng đầu tư để phục vụ nhu cầu sử dụng thẻ ATM của khách hàng Tuy nhiên số lượng máy ATM hiện có và mạng lưới chấp nhận thẻ vẫn còn khá ít đã gây ra tình trạng quá tải trong hệ thống ATM nhất là vào những lúc cao điểm như ngày lễ, tết khi mà nhu cầu rút tiền của người dân tăng cao.
Hiện nay, cả hệ thống có khoảng hơn 50 triệu thẻ và có khoảng 14.500 ATM đang hoạt động; do vậy, chỉ cần khoảng 20% chủ thẻ cùng đi rút tiền nếu rút tiền vào giờ cao điểm (tùy thuộc vào từng vị trí đặt ATM) thì ATM nào cũng có khả
năng gặp sự cố hoặc quá tải (Theo báo điện tử Dân Trí ngày 30/01/2013).
Các Ngân hàng trong thời gian qua liên tục đầu tư để gia tăng số lượng máy ATM nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng của khách hàng Thế nhưng hệ thống máy ATM của các Ngân hàng phân bố chưa đồng đều, hay tại các khu công nghiệp hay các khu tập trung nhiều công nhân làm việc, mỗi khi tới ngày phát lương các công nhân này đồng loạt rút tiền và do quy định về mức tối đa cho mỗi lần rút tiền giới hạn thấp khoảng 2.000.000 đồng/lần rút, đã làm các giao dịch rút tiền thực hiện nhiều lần dẫn đến thường xuyên quá tải tại các các điểm giao dịch này
dễ dàng tiếp cận với nguồn tiền mặt có tại các ATM, nên việc sử dụng các phương tiện TTKDTM còn rất hạn chế
Các PTTT hiện nay chưa được triển khai trên diện rộng để đáp ứng nhu cầu thanh toán trong nền kinh tế Các PTTT này còn mới mẻ và bỡ ngỡ với phần lớn người dân; tâm lý e dè, sợ rủi ro đã ngăn cản việc tiếp cận của người tiêu dùng với các PTTT mới Các thanh toán trong khu vực dân cư phần lớn vẫn sử dụng tiền
Trang 12mặt, ngay cả ở thành thị, nơi có điều kiện thuận lợi cho phát triển các phương tiện TTKDTM, việc sử dụng tiền mặt vẫn còn phổ biến.
Dịch vụ thẻ ngân hàng mới có sự gia tăng về số lượng nhưng chưa có sự chuyển biến thực sự về chất lượng; mục tiêu cuối cùng là sử dụng thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ thay vì dùng tiền mặt nhưng thực tế là 83% giao dịch thực hiện tại hệ thống ATM là để rút tiền mặt, việc chuyển khoản chủ yếu được thực hiện trong nội bộ từng ngân hàng; dịch vụ đi kèm ATM đã có nhưng chưa nhiều
Hệ thống POS chưa phát triển rộng, thanh toán qua POS còn hạn chế; số lượng giao dịch qua POS còn ít (chỉ đạt chưa đến 5% doanh số bán hàng)
* Phí chưa thỏa đáng
Các đơn vị kinh doanh không muốn chấp nhận thẻ một phần do phải trả phí ngân hàng, một phải là phải công khai doanh thu Vì thế, một số đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) dù đã ký hợp đồng chấp nhận thẻ với ngân hàng nhưng vẫn tìm nhiều cách hạn chế các giao dịch bằng thẻ của khách hàng như để máy cà thẻ vào nơi khuất, ưu tiên khách hàng trả tiền mặt,…
Thực tế các ngân hàng chạy đua hạ mức phí chiết khấu cho các ĐVCNT khiến cho việc phát triển mạng lưới POS không có hiệu quả do các ngân hàng không có nguồn thu bù đắp chi phí đầu tư mua sắm thiết bị, chi phí cho nhân sự để phát triển ĐVCNT
* Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ thanh toán còn hạn chế.
Hạ tầng cơ sở kỹ thuật phục vụ cho hoạt động thanh toán phát triển chưa đồng bộ, bởi đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn nên thường chỉ có các NHTM có tiềm lực về tài chính mới có khả năng đầu tư các trang thiết bị phục vụ hoạt động thanh toán, mở rộng các PTTT mới Mặc dù số lượng ATM, POS được lắp đặt tăng đều qua các năm nhưng thực tế là tỷ trọng so với số dân vẫn còn thấp, chưa phân bố đều (chủ yếu tập trung tạo các đô thị lớn, khu công nghiệp) Hoạt động của hệ thống phục vụ thanh toán chưa đảm bảo, còn tiềm ẩn nguy cơ về bảo mật;
sự hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ với các ngân hàng gặp trở ngại do sự khác biệt về hệ thống quản lý, cơ sở dữ liệu…
* Khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện
Trang 13Với sự phát triển của khoa học công nghệ và truyền thông, nhiều dịch vụ thanh toán mới ra đời nhưng hành lang pháp lý chưa được thiết lập Các cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy TTKDTM chưa thật đồng bộ, chưa khuyến khích đầu tư mạnh cho cơ sở hạ tầng; sự phối kết hợp giữa những biện pháp hành chính và biện pháp kích thích kinh tế chưa đủ mạnh đề đưa chủ trương đi vào cuộc sống.
Đối với dịch vụ thẻ, cho đến nay, các cơ quan quản lý vĩ mô như Chính phủ, NHNN, Bộ Tài chính vẫn chưa ban hành chính sách nhằm tạo một bước đột phá đối với dịch vụ thanh toán thẻ như: quy định về các loại hình kinh doanh bắt buộc phải thanh toán qua thẻ, giảm thuế/hoàn thuế cho các giao dịch thanh toán bằng thẻ, miễn/giảm thuế nhập khẩu đối với thiết bị thanh toán thẻ EDC…
Trang 14CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH THẺ ATM CỦA CÁC
NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
2.1 Sơ lược về thị trường thẻ tại Việt Nam trong thời gian qua
Năm 2007 là năm thị trường thẻ Ngân hàng tại Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh mẽ Nhiều Ngân hàng đã phát hành các loại thẻ có độ bảo mật cao và cung cấp nhiều tiện ích đi kèm cho khách hàng sử dụng thẻ Có thể nói, thẻ Ngân hàng
đã trở thành phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt chủ yếu phục vụ cho các giao dịch bán lẻ Đến cuối năm 2011, thanh toán bằng thẻ ngân hàng đã chiếm khoảng 8,57% trong tổng số món giao dịch của các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt Các ngân hàng cũng tiếp tục mở rộng việc trả lương qua tài khoản đối với những đối tượng hưởng lương từ NSNN, phấn đấu đạt chỉ tiêu 65% số đơn
vị thực hiện vào cuối năm 2012 và 80% vào năm 2015 Tốc độ tăng trưởng bình quân của lượng thẻ phát hành ra lưu thông những năm gần đây năm khoảng 150-300%/năm Tính đến cuối tháng 9/2012, lượng thẻ phát hành đạt 60 triệu thẻ, với
47 tổ chức phát hành và khoảng 339 thương hiệu thẻ Song song với việc phát triển
về số lượng thẻ, các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cũng rất quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị phục vụ cho hoạt động thanh toán thẻ Đến cuối tháng 9/2012, tại Việt Nam, hiện có 46 ngân hàng đã trang bị máy ATM/POS với số lượng gần 14.030 ATM và hơn 94.500 POS, tăng lần lượt 550%
và 570% so với cuối năm 2006 Để tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thẻ giao dịch thanh toán, với sự chỉ đạo của NHNN, các công ty chuyển mạch thẻ đã hoàn thành kết nối liên thông hệ thống ATM trên phạm vi toàn quốc (tháng 5/2008), qua đó thẻ của một ngân hàng đã có thể sử dụng để rút tiền và thanh toán tại hầu hết ATM của các ngân hàng khác Để thực sự phát huy tác dụng làm giảm tiền mặt trong việc sử dụng thẻ, NHNN cũng đã chỉ đạo NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố, các ngân hàng thương mại và các công ty chuyển mạch triển khai kết nối liên thông mạng lưới POS trên toàn quốc; đến nay cơ bản hoàn thành kết nối về kỹ thuật trên toàn quốc với sự tham gia của trên 30 NHTM (533 chi nhánh) và hỗ trợ
xử lý hàng triệu giao dịch với giá trị thanh toán hàng nghìn tỷ đồng qua hệ thống
Trang 15POS được kết nối Việc thống nhất mạng lưới ATM/POS trên toàn quốc giúp tạo
ra các tiện ích và giá trị lớn hơn cho người sử dụng thẻ, tiết kiệm chi phí đầu tư
mở rộng mạng lưới POS, giảm tải cho hệ thống ATM Nói chung, kể từ khi hoàn thành kết nối liên thông hệ thống POS trên toàn quốc, nhận thức về thanh toán thẻ qua POS đã có nhiều chuyển biến tích cực; tại các thành phố lớn, xu hướng thanh toán bằng thẻ của dân cư đang tăng lên khá nhanh
Bên cạnh đó, một phương tiện thanh toán mới đã xuất hiện và áp dụng tại Việt Nam từ cuối năm 2008 là Ví điện tử Ví điện tử thực chất là một tài khoản điện tử, có chức năng như “ví tiền trong thế giới số”, cho phép người dùng có thể giao dịch, thanh toán trực tuyến các hàng hóa, dịch vụ tại các Website thương mại điện tử Ngoài ra, người sử dụng có thể thực hiện truy vấn, quản lý các giao dịch phát sinh trên Ví điện tử, theo dõi số dư của Ví, kiểm soát việc chi tiêu, in sao kê
và các giao dịch khác Đến nay, NHNN đã cho phép 09 đơn vị không phải là tổ chức tín dụng được triển khai thí điểm cung ứng dịch vụ thanh toán Ví điện tử Đến nay, đã có gần 1,1 triệu Ví điện tử được mở với số lượng giao dịch (tính từ đầu năm 2012) là khoảng trên 5 triệu giao dịch và tổng số giá trị giao dịch đạt trên 2.550 tỷ đồng
Trong tổng các loại thẻ do các tổ chức phát hành thẻ trong nước phát hành, hầu hết là thẻ ghi nợ nội địa (chiếm 93,87%), tiếp theo là thẻ ghi nợ quốc tế (3,65%), thẻ tín dụng quốc tế (2,22%), thẻ tín dụng nội địa (0,31%) Điều này phản ánh đặc điểm tiêu dùng của người Việt Nam nói chung, đồng thời cho thấy dịch vụ thẻ đã tạo ra một kênh dẫn vốn quan trọng cho các Ngân hàng, vì hầu hết lượng thẻ phát hành đều gắn với tài khoản tiền gửi cá nhân và một số dư tiền gửi nhất định trong đó Hoạt động TTKDTM ở Việt Nam những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, người dân vẫn chưa thực sự mặn mà đối với các dịch vụ TTKDTM Hiện trạng này một phần do những hạn chế trong việc triển khai các sản phẩm dịch vụ TTKDTM, mặt khác do người dân vẫn có thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán bởi sự đơn giản, thuận tiện Để có thể thay đổi được suy nghĩ và nhận thức của người dân đối với TTKDTM thì bên cạnh việc phát triển đa dạng các tiện ích và loại hình dịch vụ thanh toán, cần phải có những chương trình tuyên truyền quảng bá sâu rộng đến người dân Qua đó, người dân hiểu được lợi ích của việc TTKDTM đối với cá nhân và toàn xã hội Hiện tại,
Trang 16người dân mới chỉ sử dụng thẻ ATM để rút tiền mặt và thực tế thời gian qua đã có khá nhiều sản phẩm dịch vụ TTKDTM được đưa ra thị trường nhưng số lượng khách hàng biết tới và sử dụng dịch vụ lại không lớn Các chương trình này cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và có sự vào cuộc mạnh mẽ của nhiều ngành, nhiều cấp; sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan thông tin báo chí
2.2 Số lượng phát hành và tốc độ tăng trưởng
* Bảng 1: Số lượng phát hành thẻ ATM, máy ATM và máy POS từ
năm 2010 đến năm 2012 Năm
2010
Năm 2011
Năm 2012
Chênh lệch 2011/2010
Chênh lệch 2012/
2011
Số tuyệt đối
Số tương đối
Số tuyệt đối
Số tương đối
Số lượng
thẻ phát
hành
28.500( Ngàn
thẻ)
37.000( Ngàn thẻ)
54.200 (Ngàn thẻ)
8.500( Ngàn thẻ)
29,8%
17.200 (Ngàn thẻ)
12.500( Máy )
14.200 (Máy)
1.500( Máy ) 13,6%
1.700 (Máy) 13,6%
Số lượng
máy POS
50.000( Máy )
69.000( Máy )
94.500 (Máy)
19.000( Máy ) 38,0%
25.500 (Máy) 36,96%
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, năm 2010, 2011, 2012)
Nhìn chung, số lượng thẻ ATM và số lượng máy ATM tăng đáng kể qua các năm do các Ngân hàng đã lắp đặt hệ thống máy rãi ra khắp cả nước và hầu như các Ngân hàng đều liên kết lại với nhau nhằm giúp cho hệ thống ATM hoạt động có hiệu quả hơn chứ không còn hoạt động riêng lẻ như thời gian trước Dịch vụ thẻ
của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam có tốc độ phát triển rất nhanh trong thời gian gần đây Nguyên nhân là do các Ngân hàng thương mại cạnh
tranh đưa ra nhiều sản phẩm thẻ khác nhau, hệ thống máy rút tiền tự động (ATM) phát triển mạnh ở nhiều nơi Các Ngân hàng đã ra sức mở thêm nhiều máy mới và
số lượng thẻ phát hành của các Ngân hàng ngày càng tăng Đặc biệt là Ngân hàng Nông Nghiệp đã liên kết các với các khu công nghiệp bằng việc trả lương cho