1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên Đề Lạm Phát Qua Tín Dụng Ở Việt Nam..DOC

35 586 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lạm Phát Qua Tín Dụng Ở Việt Nam
Thể loại Đề Án Môn Học
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 189 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên Đề Lạm Phát Qua Tín Dụng Ở Việt Nam

Trang 1

lời mở đầu

Từ năm 1921 đến 1923 giá cả hàng hoá ở Đức tăng 1500 tỷ lần so vớinăm 1914 Con số này liệu có gợi cho bạn một sự liên hệ nào đó không Điều

đó có nghĩa là vào năm 1914 người ta cầm tiền đi mua bánh mì và dùng giỏ

để xách bánh mì về Nhưng đến năm 1923 người ta phải mang hàng giỏ tiền

đi để mua chỉ một cái bánh mì Giá cả đã tăng lên đến mức chóng mặt

Hơn nửa thế kỷ sau, vào những năm 80 của thế kỷ này chúng ta lạichứng kiến những hậu quả hết sức nặng nề do lạm phát gây ra trên đất nướcViệt Nam Có năm lạm phát đã lên tới 800% Người ta tháo chạy khỏi đồngtiền như là tránh né một căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, người bán hàngđối xử với khách hàng như kẻ thù; hàng hoá khan hiếm, nạn đầu cơ tích trữhoành hành phá hoại nền kinh tế

Mọi vấn đề liên quan đến tiền đều thu hút được sự quan tâm của nhiềungười không chỉ của các nhà quản lý mà còn cả những người dân lao độngbình thường Bởi vì bất cứ sự bất ổn về tiền nào đều có thể là nguyên nhândẫn đến khủng hoảng, dẫn đến tiêu cực Lạm phát có nhiều biểu hiện khácnhau, có nhiều nguyên nhân khác nhau trong nhiều trường hợp khác nhau.Chính vì vậy có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu về lạm phát từ giai đoạnnày đến giai đoạn khác dường như không bao giờ chấm dứt

Trong khuôn khổ một bài đề án môn học, em không có tham vọng đisâu phân tích toàn bộ tất cả các vấn đề về lạm phát mà chỉ có ý định phân tích

một khía cạnh nhỏ của lạm phát đó là: Lạm phát qua tín dụng ở Việt Nam.

Vấn đề tuy không còn mới mẻ nhưng để lại cho chúng ta những bài học quýbáu do đó có thể có tác dụng nào đó đối với việc phòng và chống lạm pháttrong tương lai

Bài viết được chia làm ba phần:

Trang 2

Phần một: Tổng quan về lạm phát và tín dụng Phần này sẽ trình bày

tóm tắt những vấn đề chung nhất của lạm phát và tín dụng, từ đó cố gắng đưa

ra mối quan hệ giữa lạm phát và tín dụng

Phần hai: Trình bày thực trạng lạm phát ở Việt Nam thập kỷ 80, chính

là lạm phát qua tín dụng Chính phủ Việt Nam đã chống lạm phát thành côngnhư thế nào?

Phần ba: Bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc lạm phát thập kỷ 80 và

một số kiến nghị nhỏ nhằm tạo tiền đề kiểm soát lạm phát trong dài hạn

Trang 3

đó mua xe máy cũng chưa muộn.

Sau 6 tháng ngân hàng trả lại bạn cả vốn và lãi là :

30(1+6%) = 31,8 triệu đồng

Như vậy bạn đã kiếm lãi được 1,8 triệu từ vụ đầu tư này và yên chí cầmtiền đi mua xe máy Nhưng cửa hàng xe máy đột nhiên thông báo cho bạnrằng giá của xe máy đã tăng lên 32 triệu đồng Như vậy bạn vẫn chưa đủ tiềnmua xe Tất nhiên không mua được xe thì không sao nhưng rõ ràng bạn đã bịbất ngờ và tiếc nuối Ở đây chúng ta có thể tạm thời chưa bàn đến vì sao giá

xe lại tăng nhưng qua ví dụ nhỏ trên ta có thể hình dung ra một phần thế nào

là lạm phát

Vấn đề lạm phát đã được đề cập đến rất nhiều lần và cũng có nhiềuquan điểm khác nhau về lạm phát Trong khuôn khổ bài viết không có ý phântích ưu nhược điểm của từng quan điểm mà chỉ muốn giới thiệu một vài quanđiểm về lạm phát của các nhà kinh tế học và qua đó đi sâu vào quan điểm có ýnghĩa quan trọng đối với bài viết

1.1-Quan điểm của C.Mác về lạm phát

Trang 4

Mác cho rằng lạm phát là do ý chí chủ quan của Nhà nước Nhà nướctạo ra lạm phát nhằm hai mục đích đó l bù đắp cho bội chi ngân sách và bảođảm lợi ích của Nhà nước Bởi vì Mác cho rằng lạm phát là bạn đường củachủ nghĩa tư bản Giai cấp tư sản đã bần cùng hóa nhân dân lao động bằng giátrị thặng dư, nay lại chủ động gây ra lạm phát để bóc lột một lần nữa.

1.2-Quan điểm lạm phát giá cả

Theo quan điểm của những nhà kinh tế học thì lạm phát là hiện tượnggiá cả chung của các mặt hàng tăng lên Nếu chỉ có một vài mặt hàng tăng giá

ở thời điểm nhất định thì điều đó chưa đủ để gây ra lạm phát Mà ở đây lạmphát chỉ có thể xẩy ra và chúng ta có thể nhận thấy khi giá cả chung tăng lên

và biểu hiện trong một thời gian dài

1.3-Quan điểm về lạm phát tiền tệ

Tiền là thước đo giá trị của hàng hóa và tiền cũng là một loại hàng hóa

vì nó cũng do sức lao động của con người tạo ra và thỏa mãn nhiều loại nhucầu khác nhau của con người Như vậy thì nó cũng phải có giá cả Giá cả củatiền là số lượng hàng hóa mà đơn vị tiền có thể mua được Như vậy tiền cũngphát có lạm phát Tuy vậy ta không nên lầm lẫn giữa lạm phát theo nghĩa đen

“lạm dụng phát hành” tức là tạo ra quá nhiều tiền hơn mức cần thiết Mà ởđây chúng ta cần hiểu lạm phát tiền tệ theo cách khác Khi giá cả chung củacác loại hàng hóa khác tăng lên thì ta thấy rằng với mỗi đơn vị tiền sẽ muađược ít hàng hóa hơn Như vậy tức là tiền đã bị mất giá Quan điểm lạm pháttiền tệ chính là ở chỗ đó Lạm phát tiền tệ chính là tình trạng mất giá của đồngtiền Đây là quan điểm có ý nghĩa rất quan trọng đối với bài viết mà nguyênnhân của nó sẽ được trình bầy ở phần sau Để làm rõ quan điểm này chúng tacần xem xét một ví dụ cụ thể

Đầu năm 1988 ở Việt Nam, giá của một cái bánh rán là 1 đồng nhưngđến cuối năm giá của nó đã tăng lên 4 đồng Nếu bạn có 4 đồng vào đầu năm

Trang 5

thì bạn có thể ăn được 4 cái và như vậy là đủ no Nhưng với số tiền như vậybạn chỉ có thể ăn được 1 cái ở thời điểm cuối năm Như vậy giá trị của 4 đồngtiền đã giảm hẳn Giá của một đồng được tính thông qua bánh rán là 1/4 cáibánh rán Đó chính là một trong những biểu hiện điển hình nhất của lạmphát : giá cả của hàng hóa tăng lên hay sức mua của đồng tiền giảm sút.

2-/ Nguyên nhân của lạm phát

Lạm phát có rất nhiều biểu hiện và trong bất kỳ thời kỳ nào, thời đạinào đều có lạm phát Chính vì vậy mà nguyên nhân gây ra lạm phát cũngnhiều Tuy vậy hiện nay các nhà kinh tế học cũng đang nghiêng dần về quanđiểm có 3 nguyên nhân chính gây ra lạm phát đó là : cầu kéo, chi phí đẩy vàlạm phát do bội chi ngân sách Sở dĩ có 3 nguyên nhân trên cũng là do người

ta đã chiêm nghiệm trên thực tế đã có những đợt lạm phát do chúng gây ra.Tuy vậy nguyên nhân sâu xa gây ra lạm phát thực sự ít nhiều liên quan đếnvấn đề tiền tệ

Trang 6

2.2-Lạm phát do chi phí đẩy.

Chi phí sản xuất là yếu tố rất quan trọng trong sản xuất kinh doanh.Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, hãng nào có chi phí thấp thì sẽ tồn tại vàphát triển và ngược lại Khi chi phí sản xuất tăng lên các hãng buộc phải giảmbớt sản lượng của mình vì lợi nhuận giảm Khi đó sẽ làm cho đường tổngcung bị suy giảm, hàng hóa bị thiếu hụt, giá cả tăng lên gây ra lạm phát Aicũng biết cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào năm 1972-1973 đã làm rất nhiềuhãng bị phá sản, công nhân bị sa thải hàng loạt, lạm phát tăng lên với tốc độchóng mặt, nền kinh tế thế giới bị khủng hoảng nặng nề Đó là điển hình củalạm phát do chi phí đầy, một cú sốc bất ngờ làm tổng cung suy giảm đột ngột

sẽ gây ra lạm phát Tuy vậy chúng ta hãy bình tĩnh xem xét lại vấn đề Nếunhư tổng cung suy giảm nhanh như vậy thì tổng cầu cũng suy giảm nhanh liệulạm phát có thể tăng nhanh được không Nếu như ngân hàng thay vì cung cấpthêm tiền vào lưu thông làm sức mua tăng lên trong lúc tổng cung suy giảm

mà thực hiện thắt chặt tiền tệ, giảm mức cung tiền thì lạm phát có xẩy rakhông Câu trả lời là chưa chắc đã xẩy ra Như vậy mặc dù đúng là có nhữngnguyên nhân khách quan gây ra lạm phát như cú sốc dầu mỏ, tăng lương

SS

Trang 7

nhưng nếu như chính sach tiền tệ được sử dụng hợp lý thì sẽ kìm hãm đượclạm phát Như vậy chỉ có tiền tệ mới là nguyên nhân sâu xa của lạm phát.

2.3-Bội chi ngân sách và vấn đề lưu thông tiền tệ.

Ngân sách Nhà nước có thu và có chi Khoản thu chính của ngân sáchNhà nước là thuế được áp dụng đối với tất các các ngành kinh tế trong cảnước Nhà nước sẽ sử dụng các khoản thu ngân sách này để thực hiện đầu tư,viện trợ, xây dựng cơ sở hạ tầng gọi là chi ngân sách Nếu như các khoảnchi vượt quá thu thì ngân sách Nhà nước sẽ bị bội chi Như vậy thì Nhà nướclấy đâu ra tiền để bù đắp vào số bội chi đó Có rất nhiều cách để thực hiệnnhư vay nợ nước ngoài, vay trong nước, tăng thuế, hoạt động thị trường mở

và cả in thêm tiền

Vay nợ nước ngoài và vay trong nước rồi cũng phải trả, không thể bùđắp cho thâm hụt mãi được Nếu tăng thuế sẽ dẫn tới tình trạng trốn thuế, lậuthuế, kìm hãm sản xuất, không những không tăng thu mà có thể còn có tácdụng ngược Cách tốt nhất là hoạt động trên thị trường mở, bán trái phiếu chocông chúng, tăng mức cung tiền mà lại không gây ra lạm phát vì trái phiếuluôn được đảm bảo trả nợ bởi Nhà nước Thực chất Nhà nước không phải trả

nợ mà chỉ việc phát hành thêm trái phiếu với số lượng lần sau lớn hơn lầntrước để trả nợ mà thôi Đây là con đường tốt nhất để bù đắp bội chi

Hãy xem xét lại việc in tiền để bù đắp bội chi ngân sách Chúng ta đãbiết nguyên tắc phát hành tiền phải tương ứng với khối lượng hàng hóa đượcsản xuất ra Như vậy giá trị đơn vị tiền tệ sẽ được bảo đảm vì nó được địnhlượng bởi một lượng hàng hóa nhất định Nhưng khi có nhiều đồng tiền đượcphát hành vào lưu thông mà không căn cứ vào khối lượng hàng hóa được sảnxuất ra thì sẽ có vấn đề Nhiều tiền hơn nhưng khối lượnghàng hóa không đổithì giá trị đồng tiền sẽ bị giảm xuống, giá cả sẽ tăng lên gây ra lạm phát Nếutình hình này kéo dài trong nhiều năm thì lạm phát sẽ càng trầm trọng Khi

Trang 8

tài sản nguy hiểm đó đi nhật nhanh và mua hàng hóa trích trữ càng nhiều càngtốt làm cho giá cả càng tăng, tốc độ lưu thông tiền tệ càng cao Quy luật lưuthông tiền tệ đã chỉ ra rằng tốc độ lưu thông tiền tệ tỉ lệ thuận với lạm phát.Tốc độ lưu thông tiền tệ càng cao, mức cung tiền càng lớn và lạm phát cànglớn hơn nữa.

MV = PQMức cung tiền tăng, V tăng, Q không đổi như vậy Delta(P) =Delta(MV): lạm phát tăng tới cấp số nhân, cấp số mũ

Bội chi ngân sách mà được bù đắp bằng máy in sẽ là rất nguy hiểm.Mức cung tiền tăng vọt là con đường ngắn nhất gây ra lạm phát Nguyên nhânsâu xa của lạm phát không phải là do bội chi ngân sách mà là do cách người

ta bù đắp bội chi ngân sách, là do vấn đề tiền tệ, do mức cung tiền gây ra

Như vậy lạm phát qua ba nguyên nhân trên ít nhiều có dính dáng đếnvấn đề tiền tệ, đến mức cung tiền dù trực tiếp hay gián tiếp Vấn đề bội chingân sách và mức cung tiền sẽ được đề cập thường xuyên, xuyên suốt bài viết

vì nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nội dung của bài

3-/ Hậu quả của lạm phát.

Phần trên chúng ta đã nghiên cứu một cách hết sức tổng quát về lạmphát và nguyên nhân gây ra lạm phát Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở đó thì lạmphát thực sự chỉ là vấn đề quá bình thường Người ta nghiên cứu lạm phát ởđây không phải nó chỉ đơn thuần là vấn đề tăng giá mà là ở chỗ trên thực tếtại sao người ta phải nghiên cứu nó Lạm phát đã gây ra những hậu quả hếtsức nghiêm trọng đối với nền kinh tế xã hội như thế nào Không phải ngẫunhiên mà cựu Thủ tướng Anh bà M.Thatcher đã từng tuyên bố lạm phát là kẻthù chung của tất cả các nền kinh tế trên thế giới Nghiên cứu lạm phát đểchúng ta thấy được tác hại mà nó gây ra đối với xã hội là như thế nào để từ đó

có biện pháp phòng chống

Trang 9

3.1-Lạm phát kìm hãm phá hoại nền sản xuất xã hội.

Giá trị sản lượng của một xã hội tạo ra được đo bằng tổng sản lượngcủa nền kinh tế nhân với giá cả chung Như vậy có 2 yếu tố làm tăng tổng giátrị sản lượng là Q và P Sẽ là rất tốt nếu như tổng sản lượng tăng làm tổng giátrị sản lượng của nền kinh tế Điều này cho thấy nền kinh tế đang ở trong giaiđoạn phát triển tốt

Tuy vậy chính lạm phát đã làm cho người ta đôi khi lầm tưởng về một

sự gia tăng tích cực của tổng giá trị hàng hóa Sản lượng không thay đổi màchỉ có sự tăng lên trong giá cả chung

Chúng ta đã biết lạm phát có mối quan hệ trực tiếp với lãi suất theocông thức:

Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỉ lệ lạm phát

Lãi suất danh nghĩa do các Ngân hàng quản lý và điều chỉnh Vấn đề

mà người gửi tiền quan tâm là số tiền thực tế mà họ nhận được khi đêm gửitiền vào Ngân hàng Họ không thể chấp nhận và không thể gửi tiền và nếunhư phần lợi nhuận của họ bị giảm đi Vì vậy khi lạm phát tăng lên, để lãisuất thực không đổi buộc các Ngân hàng phải tăng lãi suất danh nghĩa

Lãi suất danh nghĩa tăng lên sẽ đẩy lãi suất cho vay tăng lên vì nguyêntắc của Ngân hàng là bao giờ lãi suất cho vay cũng cao hơn lãi suất huy độngvốn Lãi suất cho vay có ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu đầu từ làm nhu cầuđầu tư giảm Từ đó làm cho sản lượng của nền kinh tế giảm sút

Mặt khác đối với các doanh nghiệp trong đIều kiện nền kinh tế có lạmphát cao, đầu tư vào nền kinh tế là rất rủi ro bởi vì sau khi bán được sảnphẩm, số tiền họ thu về trừ đi tỉ lệ lạm phát có thể còn ít hơn số vốn họ đã bỏ

ra đầu tư ban đầu Vì vậy các doanh nghiệp sẽ tự cắt giảm sản lượng làm chosản lượng của nền kinh tế bị giảm sút Thay vào đó các doanh nghiệp sẽ đầu

Trang 10

cơ nguyên vật liệu, ít thay đổi giá trị, dễ kiếm lời hơn làm cho hàng hóa ngàycàng trở nên khan hiếm, càng lên giá và đẩy tỉ lệ lạm phát lên cao hơn.

Như vậy lạm phát đã phá hoại nền sản xuất xã hội làm cho đầu tư giảmsút, sản lượng liên tục giảm Đây là điều rất không mong muốn của bất cứchính phủ nào

3.2-Lạm phát và phân phối thu nhập.

Hãy thử xem xét một ví dụ để xem lạm phát ảnh hưởng tới thu nhậpnhư thế nào Giả sử bạn có một khoản thu nhập hàng tháng đều đặn là 1 triệuđồng Với khoản thu nhập đó bạn phải chi tiêu để phục vụ cuộc sống Giá củamột kg gạo là 4000 đồng Nếu chúng ta giả sử tất cả các nhu cầu hàng ngàyđều được “qui ra thóc” thì một tháng bạn có thể mua được :

1.000.000 : 4.000 = 250 kg gạoNhưng đến tháng sau giá trị của 1 kg gạo đột nhiên tăng lên 5000 đồng.Như vậy cũng với thu nhập 1 triệu đồng bạn chỉ có thể mua :

1.000.000 : 5.000 = 200 kg gạoTrong một khoảng thời gian ngắn hạn, thu nhập của bạn khó có thể thayđổi do hợp đồng lao động đã được kí với một mức lương nhất định Như vậymức sống của bạn đã bị giảm sút do lạm phát gây ra Trong điều kiện nền kinh

tế có lạm phát, những người làm công ăn lương sẽ bị thiệt do thu nhật doanhnghĩa là cố định Họ vừa phải chịu thuế thu nhập, vừa phải chịu thêm một thứthuế vô hình nữa đó là lạm phát - một thứ thuế dã man nhất trong các loại thuế

Tình trạng cũng tương tự như đối với người gửi tiền và người vay tiền.Nếu bạn gửi tiền vào ngân hàng với một số tiền là 3 triệu đồng Ngân hàng thỏathuận với bạn sau 1 năm hoàn trả cả vốn lẫn lãi với lãi suất danh nghĩa là 20%

Sau một năm số tiền bạn nhận được là :

3.000.000 (1+20%) = 3.600.000

Trang 11

Bạn dự tính mức lạm phát cuối năm chỉ là 10% thì giá hàng hóa chỉtăng từ 3 triệu lên 3,3 triệu Như vậy bạn để ra được 300.000 đồng

Nhưng lạm phát cuối năm lại là 30% tức là giá của hàng hóa lúc này là3,3 triệu nữa mà là :

3.000.000 (1+30%) = 3.900.000Như vậy bạn thiệt 300.000 đồng

Còn về phía Ngân hàng thì sao Nếu như họ đem 3 triệu đồng của bạnđầu tư vào một lĩnh vực nào đó để cuối năm thu được 3,9 triệu Họ trả lại bạn3,6 triệu và để ra 300.000 Như vậy khoản 300.000 đáng lẽ ra là của bạn thìlại chảy vào túi ngân hàng

Lạm phát tăng gây thiệt hạI cho những người giữ tiền và đem lại thuậnlợi cho những người đi vay tiền Đó là một sự bất công

Có thể nói lạm phát đã phân phối và phân phối lại thu nhập trong nềnkinh tế một cách bất hợp lý giữa các nhóm và các tầng lớp dân cư

3.3-Lạm phát làm phát sinh nhiều tiêu cực xã hội.

Lạm phát làm nảy sinh nhiều tiêu cực của xã hội đặc biệt làm nạn đầu

cơ tích trữ Sự thừa tiền trong lưu thông đã đẩy giá hàng hóa lên cao Lúc nàygiá trị của đồng tiền giảm sút rất nhiều, hàng hóa trở nên khan hiếm hơn baogiờ hết Đây là thời điểm thuận lợi để bọn đầu cơ tích trữ mua vào thật nhiềuhàng hóa để tạo ra sự khan hiếm hơn nữa, đẩy giá lên cao Đến thời điểmthuận lợi chúng tung ra bán với giá chênh lệch để kiếm lời

Mặc dù lượng tiền mặt trong lưu thông là rất lớn nhưng Nhà nước lạiluôn luôn thiếu tiền mặt để bù đắp bội chi ngân sách và tín dụng Mặt khácphải chi trả tiền lương cho cán bộ công nhân viên, do đó lại phải in thêm tiền

Do đó đã làm cho lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên Bên cạnh đó sựmất giá của đồng nội tệ làm tình trạng dùng vàng và đô la làm phương tiện

Trang 12

lưu thông có xu hướng ngày càng mở rộng Ngoài buôn bán hàng hóa chênhlệch giá, người ta còn buôn bán cả séc và tiền ngoại tệ, đẩy tỉ giá trên thịtrường chợ đen lên cao, không có lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Có thể nói lạm phát đã ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến mọi mặt của xãhội Vấn đề này nó liên quan đến tiền, đến kinh tế, đến mức sống nên nó là sựquan tân rất lớn của các chính phủ của các nước Không thể có một nền kinh

tế phát triển ổn định nếu như không kiểm soát được lạm phát

II-/ TÍN DỤNG

1-/ Bản chất và chức năng của tín dụng.

Ngày nay thuật ngữ tín dụng được sử dụng ngày càng nhiều trong kinh

tế và trong cả sinh hoạt hàng ngày như quỹ tín dụng, vốn tín dụng Một câu hỏiđặt ra là tín dụng là gì ? Tín dụng thực chất đó là quan hệ vay mượn, tạm thời

sử dụng vối của lẫn nhau theo nguyên tắc hoàn trả và tin tưởng Tín dụng cóthể nói ra đời từ rất lâu vì quan hệ vay mượn được phát sinh từ rất sớm do nhucầu của cuộc sống Trong cuộc sống đời thường ở xã hội Việt Nam, sự vaymượn là rất thường gặp nhưng có một điều lạ là những người bạn bè quen biếtvay mượn tiền của nhau nhưng không có lãi suất Tự dưng đem tiền của mìnhcho người khác dùng và lại “mua” thêm một nỗi lo sợ không đòi được tiền, đếnkhi đòi được tiền thì rất mừng mặc dù rõ ràng đó là tiền của mình bỏ ra Đó làđiều khó hiểu Cho vay mượn là phải có lãi suất, tất nhiên nó khác với vaynặng lãi là lãi suất thấp và có thể thay đổi tùy thuộc vào mối quan hệ giữa haibên Mặt khác trong quan hệ tín dụng, có vay phải có trả, phải trả đúng hạn Cónhư vậy mới duy trì được quan hệ tín dụng và tình cảm giữa hai bên

Tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp và phục vụ nhucầu về vốn của các doanh nghiệp Vì vậy để hiểu bản chất của tín dụng cầnphải xuất phát từ đặc điểm sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Mỗimột doanh nghiệp đều có một chu kỳ sản xuất kinh doanh của mình Đầu tiên

Trang 13

là mua nguyên vật liệu, chi phí nhân công, tài sản cố định đầu tư để sản xuất

ra hàng hóa, sau đó đem hàng hóa ra bán và thu lãi Các doanh nghiệp sản xuất

ra các loạI hàng hóa khác nhau, thời gian tiêu thụ khác nhau nên quá trình luânchuyến vốn cũng khác nhau Do sự không trùng khớp về thời gian nên khôngphải lúc nào doanh nghiệp cũng đủ vốn để đầu tư sản xuất, trả lương Tất yếu

có những doanh nghiệp do chưa tiêu thụ được hàng hóa nên chưa thu được tiềnnhưng đã đến kỳ trả lương, nộp thuế và các khoản chi phí khác Các khoản chinày lớn hơn số vốn hiện có tại doanh nghiệp và doanh nghiệp phải đi vay vốn

để chi trả các nhu cầu này Như vậy đã có nhu cầu về vốn

Mặt khác cũng có những doanh nghiệp tiêu thụ hàng rất nhanh, thuđược nhiều tiền sớm trước khi kết thúc chu kì sản xuất kinh doanh, chưa phảitrả tiền nhân công, chưa pảhi nộp thuế, họ có một số tiền tạm thời nhàn rỗi Vìvậy có nhu cầu cho vay vốn để kiếm lời Như vậy đã có cung về vốn

Cung và cầu về vốn đã có và khi gặp nhau thì tất yếu sẽ diễn ra hoạtđộng vay và cho vay Chất xúc tác của quan hệ tín dụng là lãi suất Lãi suấtphải đủ cao để thỏa mãn nhu cầu của người cho vay nhưng cũng không quácao để bảo đảm cho người đi vay có khả năng trả nợ và thu được lãi nhờ sửdụng đồng vốn đi vay đó

Từ sự phân tích trên ta thấy thực chất tín dụng là quan hệ kinh tế nhằm

bổ sung vốn thiếu hụt của các doanh nghiệp Đó là quan hệ kinh tế nhằm giảiquyết hai loại nhu cầu của các doanh nghiệp Do đó về bản chất nó là quan hệbình đẳng, cùng có lợi

Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư Nó xuất phát từ nhu cầucủa hoạt động sản xuất kinh doanh nên có tác dụng thúc đẩy sản xuất kinhdoanh, góp phần thúc đẩy quy mô của tái sản xuất, tăng vòng quay của tư bản.Với chất xúc tác là lãi suất, tín dụng kích thích các tổ chức kinh tế và dân cưtrong cơ cấu các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế thực hiện tiết kiệm,

Trang 14

thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi hiện đang phântán ở khắp mọi nơi.

Trong lịch sử phát triển của tín dụng do đặc điểm cũng như nhu cầu vềvốn, về thời gian, cách thức vay vốn đã hình thành rất nhiều loại tín dụngtrong đó có 3 loại chính phổ biến nhất là tín dụng thương mại, tín dụng ngânhàng, tín dụng Nhà nước Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng loại tín dụng trên

2-/ Các loại tín dụng phổ biến-lịch sử hình thành và phát triển.

2.1-Tín dụng thương mại.

Tín dụng thương mại ra đời từ rất sớm, nó được hình thành từ sản xuất

và lưu thông hàng hóa Những doanh nhân trong quan hệ làm ăn với nhaukhông phải lúc nào cũng có sẵn tiền để thanh toán ngay vì vậy họ ký giấy nợ

và hẹn ngày trả Thực chất của tín dụng thương mại chính là hoạt động muabán chịu Tín dụng thương mại xuất hiện làm đẩy nhanh vòng quay của hànghóa và lưu thông tiền tệ, giúp cho sản xuất kinh doanh được thông suốt Tuyvậy trong quan hệ tín dụng thương mại không phải không bộc lộ những hạnchế nhất định Do mỗi doanh nghiệp sản xuất ra những loại hàng hóa khácnhau, chu kì sản xuất kinh doanh là khác nhau nên nhu cầu đi vay và cho vaycũng như thời hạn cho vay và thời hạn trả thường xuyên không trùng khớpvới nhau Không phải lúc nào một doanh nghiệp cần cho vay cũng tìm đượcngười muốn vay đúng thời điểm, số vốn và số lãi như mong muốn và ngượclại đối với người đi vay cũng vậy Vì vậy việc quy định tạm thời hạn nợ đốivới cả hai bên trong quan hệ tín dụng thương mại tương ddối khó khăn,thường xuyên không trùng khớp với nhau dẫn đến nhu cầu thực hiện giá trịcủa kỳ phiếu thương mại trước thời hạn

2.2-Tín dụng Ngân hàng.

Các Ngân hàng thương mại lúc đầu với tư cách là những người giữ hộtiền và chịu trách nhiệm thanh toán hộ thân chủ Như vậy trong tay họ lúc nào

Trang 15

cũng có một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi, họ muốn đem cho vay để kiếm lợinhuận từ khoản vốn nhàn rỗi đó Trong khi đó các doanh nghiệp trong quátrình sản xuất hoạt động kinh doanh có lúc rất cần tiền nhưng trong tay họ lạichỉ có một mớ kì phiếu thương mại chưa đến hạn thanh toán Vì vậy họ cónhu cầu cầm cố, vay tiền từ số kì phiếu đó Sự gặp gỡ giữa hai loại nhu cầugiữa Ngân hàng và các chủ doanh nghiệp dẫn đến một loại hình quan hệ tíndụng mới Đó là quan hệ tín dụng Ngân hàng: Ngân hàng cho các doanhnghiệp vay tiền dưới hình thức chiết khấu các kì phiếu thương mại Tín dụngngân hàng có nguồn gốc từ tín dụng thương mại Trải qua thời gian dài, phạm

vi lưu thông cũng như khối lượng lưu thông ngày càng tăng, kì phiếu thươngmại đã được chuyển thành tiền tín dụng Ngân hàng chủ động phát hành ratiền tung vào lưu thông, số tiền đó được bảo đảm bằng một khối lượng vàngnhất định hoặc một tỉ lệ tăng trưởng nhất định của nền kinh tế

Nếu như trong tín dụng thương mại, các doanh gnhiệp muốn vay tiềnđều phải trực tiếp gặp nhau thoả thuận đôi khi rất khó khăn và rất mất thờigian do sự thiếu ăn khớp về nhu cầu Nhưng trong quan hệ tín dụng ngânhàng đã khắc phục được nhược điểm đó của tín dụng thương mại doanhnghiệp muốn vay bất cứ số tiền nào, bất cứ thời đIểm nào miễn là thoả mãnđược các quy định của Ngân hàng Quy mô tín dụng ngày càng tăng thôngqua hoạt động tạo tiền và hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Ngân hàngcàng cho vay được nhiều tiền thì càng có lãi Tuy vậy đIều này cũng rất nguyhiểm vì quy mô tín dụng quá lớn sẽ gây ra lạm phát, đó chính là điều màchúng ta không mong muốn

2.3-Tín dụng Nhà nước

Bên cạnh hai loại hình tín dụng trên còn có một loạI hình tín dụng nữa

có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nền kinh tế đó là tín dụng Nhà nước Đócũng là tín dụng nhưng là quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các tầng lớp dân

cư, với các tổ chức, đơn vị kinh tế Sở dĩ có tín dụng Nhà nước vì nó có liên

Trang 16

quan đến ngân sách Nhà nước Nhà nước thu thuế từ các đơn vị kinh tế đểthực hiện chi tiêu và phân phối lại thu nhập Tuy vậy nếu như Nhà nước cónhu cầu chi tiêu quá lớn thì sẽ làm cho ngân sách Nhà nước bị bội chi Nhànước lấy đâu ra tiền để thực hiện các khoản chi tăng thêm đó Có rất nhiềucách đặc biệt là tăng thuế.Tuy nhiên tăng thuế chỉ có thể thực hiện đến mộtgiới hạn nào đó nếu không doanh thu thuế sẽ giảm Còn một cách nữa đó là đivay Nhà nước có thể thực hiện rất nhiều cách vay trong đó có phát hành ratrái phiếu bán cho công chúng, vay nước ngoài và vay nợ Ngân hàng bằngcách đem cầm cố trái phiếu tại Ngân hàng Quan hệ vay mượn này đều đượcthực hiện trên nguyên tắc có lãi và hoàn trả sòng phẳng đúng thời hạn Tíndụng Nhà nước phát triển cùng với sự phát triển của Nhà nước hiện đại vàngày càng trở thành nguồn bù đắp cho ngân sách Nhà nước

Tuy vậy cách thức trả nợ của tín dụng Nhà nước mới là điều đáng quantâm, điều này sẽ được trình bầy dưới đây, chúng ta sẽ hiểu được lạm phátđược hình thành qua con đường tín dụng như thế nào

III-/ VẤN ĐỀ LẠM PHÁT QUA TÍN DỤNG.

Lạm phát là sự tăng giá cả, là sự giảm sức mua của đồng tiền Tín dụng

là quan hệ vay mượn trong nền kinh tế Hai vấn đề này thoạt nghe có vẻ nhưkhông hề có mối liên hệ với nhau Nhưng chúng lại có mối liên hệ với nhaurất chặt chẽ vì chúng đều có liên hệ với tiền tệ, với lưu thông tiền tệ và mứccung tiền

Lạm phát qua con đường tín dụng Nhà nước.

Như ở trên chúng ta đã trình bầy, có nhiều con đường để Nhà nước trả

nợ tín dụng Tăng thuế là một biện pháp nhưng chúng ta thử xem xét liệu tăngthuế có đem lại kết quả mong muốn hay không

TR

Trang 17

TR: Doanh thu thuế

Nếu t tăng lên > t* thì TR sẽ giảm

Mặt khác T = f(Y)

Yd = Y - T

Yd = S + C suy ra S + C = Y - T

Mà một phần tiết kiệm sẽ được chuyển thành đàu tư I T tăng lên làm cho

S giảm do vậy I cũng giảm I giảm làm cho Y giảm, từ đó làm cho T giảm

Do vậy đối với một ngân sách bị thâm hụt lớn thì tăng thuế không phải

là biện pháp tốt

Thực ra nuếu như trong đIều kiện nền kinh tế thị trường phát triển, thịtrường chứng khoán phát triển Nhà nước không phảI trả nợ thực sự mà chỉviệc in ra thêm trái phiếu với quy mô lần sau lớn hơn lần trước Đây là conđường tốt nhất nhưng chúng ta không bàn đến ở đây

Bước đường cùng chính là Nhà nước trả nợ bằng cách in thêm tiền vàolưu thông Chúng ta đã biết, việc phát hành tiền được kiểm soát rất chặt chẽ,khối lượng tiền phát hành ra phải căn cứ vào khối lượng hàng hóa được sảnxuất ra trong cung thời kì để đảm bảo sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả.Nhưng Nhà nước không căn cứ vào khối lượng hàng hóa được sản xuất ra mà

cứ in tiền vào lưu thông sẽ đẩy mức cung tiền lên nhanh chóng

Theo quy luật lưu thông tiền tệ, mức cung tiền tăng tỉ lệ thuận với tốc

độ tăng giá và lượng hàng hóa Nếu như khối lượng hàng hóa không tăng

Ngày đăng: 21/09/2012, 09:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG ĐỘNG VIÊN THU NHẬP QUỐC DÂN SẢN XUẤT VÀO NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC - Chuyên Đề Lạm Phát Qua Tín Dụng Ở Việt Nam..DOC
BẢNG ĐỘNG VIÊN THU NHẬP QUỐC DÂN SẢN XUẤT VÀO NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC (Trang 22)
BẢNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH 1986-1989 (%) - Chuyên Đề Lạm Phát Qua Tín Dụng Ở Việt Nam..DOC
1986 1989 (%) (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w