Mựa thu năm 1859, Hoàng giỏp tiến sỹ Phạm Văn Nghị, Đốc học N Định đó gửi Trà Sơn khỏng sớ đến vua Tự Đức để bày tỏ nguyện vọng qtõm khchiến của dõn N Định và đề nghị cho phộp ụng lập mộ
Trang 1Tiết 43 Soạn: 20-2-2009
Kiểm tra:
Sử Địa phơng
Mục tiêu:
- Giúp HS có sự hiểu biết về tỉnh Nam Định trong thời kì thực dân Pháp xâm lợc nớc ta
- Giáo dục lòng tự hoà về địa phơng mình, có ý thức tu dỡng, rèn luyện để xứng đáng với quê hơng
Chuẩn bị: GV và HS cùng tìm t liệu về địa phơng : tỉnh Nam Định trong thời kì Pháp xâm lợc
Việt Nam ( chia các tổ cùng tìm t liệu)
Lên lớp:
Kiểm tra bài cũ:
1 So sánh phong trào Cần vơng với các phong troào tự vệ vũ trang chống Pháp của nhân dân ta
2 So sánh cuộc khởi nghĩa Yên Thế với các cuộc khởi nghĩa cùng thời
Bài mới:
A Học sinh trình bày những hiểu biết của mình về tỉnh Nam Định trong thời kì Pháp xâm l ợc Việt Nam
( Đại diện tổ trình bày)
B Giáo viên giới thiệu về sử địa ph ơng:
I PHONG TRÀO CHỐNG PHÁP Ở NAM ĐỊNH NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX.
Sau một thời gian dài chuẩn bị, ngày 1-9-1958, liờn quõn Phỏp - Tõy Ban Nha nổ sỳng tiến cụng Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh chinh phục vương quốc Đại Nam Hành động xõm lược này của chỳng đó đặt vận mệnh của toàn dõn tộc ta trước thử thỏch sống cũn Hoà cựng với cuộc khỏng chiến anh dũng của cả nước, nhõn dõn Nam Định đó đúng gúp một phần xứng đỏng
Phong trào Nam tiến do Phạm Văn Nghị khởi xướng (1860)
Mựa thu năm 1859, Hoàng giỏp tiến sỹ Phạm Văn Nghị, Đốc học N Định đó gửi Trà Sơn khỏng
sớ đến vua Tự Đức để bày tỏ nguyện vọng qtõm khchiến của dõn N Định và đề nghị cho phộp ụng lập một đội nghĩa binh vào chiến trường đỏnh giặc Mặc dự Trà Sơn khỏng sớ của ụng khụng được
Tự Đức chớnh thức phờ chuẩn, nhưng với tinh thần yờu nước và ý thức trỏch nhiệm của một kẻ sỹ trước vận mệnh dõn tộc, PVăn Nghị vẫn giương cao cờ nghĩa, chiờu binh vào Nam đỏnh Phỏp Ngày 22-2-1860, đoàn nghĩa binh làm lễ xuất quõn tại nhà Học chớnh Nam Định Sau một thỏng hành quõn, ngày 21-3-1860, đoàn nghĩa binh tới Huế Lỳc đú tỡnh hỡnh chiến sự đó thay đổi Quõn Phỏp rỳt khỏi Đà Nẵng, chuyển hướng vào phớa nam tiến cụng thành Gia Định Phạm Văn Nghị cựng đoàn nghĩa binh vẫn xin triều đỡnh cho vào Nam đỏnh giặc Tuy nhiờn, nguyện vọng chớnh đỏng ấy của đoàn nghĩa binh đó khụng được vua Tự Đức chấp thuận Sự kiện này đó bước đầu bộc lộ mõu thuẫn giữa tinh thần kiờn quyết k.chiến của n.dõn với thỏi độ bạc nhược, cầu hũa của triều Nguyễn, đứng đầu là vua Tự Đức
Hành động và ý chớ kiờn quyết chống giặc của Phạm Văn Nghị và sỹ dõn thành Nam đó đi vào lịch sử dõn tộc như một biểu tượng sỏng ngời của chủ nghĩa yờu nước Việt Nam
Phong trào khỏng chiến của nhõn dõn Nam Định khi thực dõn Phỏp đỏnh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873)
Đứng trước cuộc tiến cụng xõm lược của giặc Phỏp, triều đỡnh Huế tỏ ra hết sức lỳng tỳng, khụng biết và khụng dỏm dựa vào dõn, lại bị phõn húa thành năm bố bảy cỏnh Triều đỡnh đó quyết
định ký Hiệp ước Nhõm Tuất (1862), cắt ba tỉnh miền Đụng Nam Bộ (Gia Định, Định Tường, Biờn
Hũa) cựng với quần đảo Cụn Lụn cho Phỏp
Thỏng 11-1864, sĩ tử trường thi N.Đ khụng hẹn mà gặp đó cựng với sĩ tử trường thi Hà Nội và
Thừa Thiờn phản đối triều đỡnh ký Hiệp ước Nhõm Tuất Lần đú,~ người khởi xướng đó bị bắt giam
Ở Nam Định, hai sĩ tử Đỗ Văn Vịnh và Ng Huy Đạt đó bị phạt đũn vỡ~ hành động yờu nước núi trờn Sau khi chiếm được Hà Nội (20-11-1873), quõn Phỏp mở rộng vựng chiếm đúng bằng cỏch tiến đỏnh cỏc tỉnh phớa đụng và nam Hà Nội Chỳng chiếm Hưng Yờn (23-11), Phủ Lý (26-11), Ninh Bỡnh (5-12) Ngày 11-12-1873, Gỏcniờ hội quõn đỏnh chiếm thành Nam Định theo hai hướng tõy và
Trang 2nam với một lực lượng hỗn hợp gồm 111 tên
Tại trận chiến kịch liệt này đã ghi nhận nhiều tấm gương hy sinh anh dũng của những người con ưu tú của thành Nam, như Nguyễn Văn Hộ, Trần Vĩnh Cát, Ngô Lý Diện, Đặng Huy Trinh cùng hơn 100 binh sĩ khác Họ đã tô hồng lên trang sử chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc Việt Nam nói chung, của mảnh đất Nam Định nói riêng
Thành mất, nhưng ý chí chiến đấu của người Nam Định không mất Tiếng súng kháng Pháp vẫn vang lên khắp nơi Nhiều căn cứ kháng chiến được hình thành, tiêu biểu là căn cứ Bảo Long và
An Hòa Trong khi phong trào chiến đấu của nhân dân Bắc Kỳ nói chung, nhân dân Nam Định nói riêng đang diễn ra quyết liệt, gây cho quân Pháp nhiều khó khăn thì triều Nguyễn lại ký với Pháp
Hiệp ước ngày 15-3-1874, rồi Hiệp ước thương mại vào tháng 8 - 1874 Như vậy, một lần nữa, triều
đình nhà Nguyễn đã tự tách ra khỏi phong trào đấu tranh của dân tộc, đi ngược lại với nguyện vọng
và ý chí quyết chiến của nhân dân Nguy hại hơn, triều đình còn ra lệnh giải giáp các đội nghĩa binh ở Nam Kỳ và cấm việc thành lập các đội dân binh ở Bắc và Trung Kỳ
Phong trào kháng chiến của nhân dân từ khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai
(1882) đến phong trào Cần Vương
Sau khi tình hình chiến sự ở Nam Kỳ tạm ổn định, thdân Pháp mong muốn chiếm luôn cả vùng Bắc Kỳ Rút kinh nghiệm từ cuộc khchiến lần trước, qdân N Định đã tích cực ch bị chiến đấu Ngày 23-8-1883, đại tá Pháp Rivie đích thân chỉ huy quân đi đánh Nam Định với một lực lượng khá mạnh gồm 10 tàu chiến và bốn thuyền vận tải Sáu giò sáng ngày 26-3-1883, Rivie ra lệnh cho quân lính nổ súng phá thành
Mặc dù có thinh thần chiến đấu cao, sẵn sàng xả thân vì sự tồn vong của thành, song quân
ta vẫn không thể cản nổi quân địch Với ưu thế về vũ khí và hỏa lực mạnh, sau nhiều giờ giao chiến
ác liệt khoảng 13h ngày 27-3-1883 quân Pháp đã chiếm được thành Nam Định
Sau khi quân Pháp chiếm được thành Nam, lực lượng kháng chiến gồm quân và dân binh ở Nam Định đã rút về các vùng Mỹ Trọng, Cầu Gia, Tiểu Cốc, xây dựng tuyến phòng thủ bao vây quân địch Sau mấy tháng bị uy hiếp, quân Pháp quyết định tập trung lực lượng để phá vỡ tuyến bao vây của quân ta Ngày 19-7-1883, địch đã huy động một binh lực lớn gồm 450 tên, với sự yểm trợ của tàu chiến nống ra càn quét ở Tiểu Cốc
Trong khi quân dân Bắc Kỳ nói chung, quân dân Nam Định nói riêng đang sục sôi khí thế
đánh Pháp, vua tôi triều Nguyễn lại do dự và cuối cùng đi tới quyết định ký Hòa ước Hácmăng (Harmand) ngày 25-8-1883 và Điều ước Patơnốt (Patenôtre) ngày 6-6-1884 Theo đó, về căn bản
nước ta mất quyền độc lập, tự chủ trên phạm vi cả nước, triều đình Huế chính thức thừa nhận sự bảo hộ của Pháp, mọi việc chính trị, ngoại giao, kinh tế đều do người Pháp khống chế và nắm giữ Tháng 7-1885, vua Hàm Nghi, một ông vua yêu nước, khởi nghĩa ở Kinh thành Huế và sau đó ban hành chiếu Cần Vương Sĩ dân Nam Định đã lập tức đứng lên đáp lời kêu gọi của vị vua yêu nước Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Phạm Nhân Lý, Tạ Hiện, Phạm Trung Thứ
Nhìn chung lại, ngay từ buổi đầu thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nhân dân Nam Định đã cùng với nhân dân cả nước tích cực tham gia kháng chiến chống quân xâm lược Nam Định thực sự thành một trung tâm kháng chiến chống Pháp trên đất Bắc
NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX
Từ cuối thế kỷ XIX, các phong trào đấu tranh yêu nước chống Pháp của nhân dân Nam Định
đã dần tạm lắng xuống Thực dân Pháp đã về căn bản đã hoàn thành công cuộc bình định và bắt đầu thực hiện các chính sách cai trị và khai thác thuộc địa của chúng
Ngay sau khi bình định xong Nam Định, thực dân Pháp đã nhanh chóng tiến hành việc phân chia lại địa giới hành chính Đến đầu thế kỷ XX ở Nam Định có một thành phố và chín huyện Đó là thành phố Nam Định và các huyện: Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên, Trực Ninh, Nam Trực, Xuân Trường, Giao Thủy, Nghĩa Hưng và Hải Hậu
Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cấu trúc kinh tế - xã hội và bộ mặt của Nam Định đã có những biến đổi sâu sắc và toàn diện Chỉ trong vòng hơn chục năm, bộ mặt thành phố đã hoàn toàn đổi khác Tòa thành cũ đã bị người Pháp phá dỡ từng phần Thay vào đó là những công sở, dinh thự mới mọc lên Những đường phố mới được rải nhựa, đèn điện thắp sáng đêm đêm Kho tàng, bến bãi, nhà ga xe lửa được xây dựng, tạo cơ sở cho việc xuất hiện Nhà máy dệt, Nhà máy tơ, Nhà máy chai Dân cư thành Nam cung tăng nhanh với một kết cấu mới, đủ mặt mọi thành phần của cư dân đô thị cận đại: công nhân, tư sản, tiểu tư sản, học sinh, trí
Trang 3thức tự do, quan chức thực dân và bản xứ cùng một số không nhỏ nông dân ven thị Nam Định dần trở thành một trong ba đô thị lớn nhất Bắc Kỳ thời Pháp thuộc
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ngành công nghiệp ở Nam Định đã hình thành và phát triển khá nhanh chóng Cùng với Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định đã trở thành một trong những trung tâm công nghiệp lớn nhất Đông Dương Tuy nhiên, ngành công nghiệp ở Nam Định thời
kỳ này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định Giá trị sản lượng công nghiệp cao, nhưng thành quả lao động ấy chủ yếu rơi vào tay giới chủ, còn công nhân lao động chẳng được hưởng là bao
Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống mạng lưới chợ từ thành phố đến nông thôn, đặc biệt là chợ Rồng được xếp vị trí thứ hai ở Bắc Kỳ sau chợ Đồng Xuân (Hà Nội) về cả quy mô lẫn hoạt động kinh doanh đã chứng tỏ sự phát triển nhanh và mạnh của ngành thương nghiệp Nam Định Thương nghiệp đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng ở Nam Định thời Pháp thuộc
Hoạt động thủ công nghiệp ở Nam Định nổi tiếng là đẹp và tinh xảo, tuy nhiên, các hoạt động còn gắn chặt với nông nghiệp, phụ thuộc vào nông nghiệp Chỉ trừ một số phố nghề ở thành phố có tính chuyên nghiệp cao, còn ở nông thôn số các làng chuyên, thợ chuyên không nhiều Đây chính là hạn chế của thủ công nghiệp ở Nam Định
Về nông nghiệp, bên cạnh cây lúa là cây trồng chính chiếm nhiều diện tích trồng trọt nhất và cũng là cây trồng chủ đạo để nuôi sống hàng chục vạn người dân, thì bông trở thành loại cây trồng đứng ở vị trí thứ hai
Trong quá trình khai thác và bóc lột các nguồn lợi kinh tế ở Nam Định, bên cạnh việc du nhập
về Nam Định một phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thực dân Pháp vẫn duy trì phương thức sản xuất phong kiến, lỗi thời, lạc hậu Dưới tác động của quá trình nói trên, xã hội Việt Nam nói chung và Nam Định nói riêng đã có những biến chuyển sâu sắc với sự hình thành và phát triển của nhiều giai cấp khác nhau: địa chủ, nông dân, công nhân, tư sản, tiểu tư sản
Cơ cấu xã hội truyền thống ở Nam Định đã bị biến đổi và xáo trộn mạnh, nhưng chưa bị phá vỡ và thay đổi căn bản
Những biến đổi về kinh tế - xã hội và quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông - Tây ở Nam Định đã dẫn đến những chuyển biến mới trong sinh hoạt văn hóa Sự chuyển biến đó được biểu hiện
rõ nét nhất trong sự hình thành nếp sống đô thị ở thành phố Nam Định Nhưng mặt khác, quá trình đô thị hóa và việc du nhập lối sống phương Tây vào Thành Nam cũng làm nảy ra nhũng thói hư tật xấu mới như trộm cướp, đĩ điếm, nghiện hút
Về giáo dục, năm 1915 đã diễn ra kỳ thi Hương cuối cùng ở trường thi Nam Định Đây chính là điểm mốc đánh dấu sự chấm dứt của nền khoa cử nho giáo ở N Định Thay vào đó chphủ thực dân cho lập ra các trường Pháp - Việt, từng bước chuyển dần nền giáo dục theo mô hình phương Tây Trước sự lớn mạnh và phát triển của thành phố, ngày 17-10-1921, Toàn quyền Đông Dương đã ra quyết định công nhận Nam Định được hưởng quy chế của một thành phố cấp II
Th phố Nam Định không chỉ là một thành phố công thương nghiệp nổi tiếng đầu thế kỷ XX, mà còn trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa - tư tưởng lớn, một điểm tiếp xúc của luồng giao lưu văn hóa Đông - Tây Các cụ Phan Bội Châu, Lương Văn Can đều đã tìm đến Nam Định, tuyên truyền
và vận động sự ủng hộ của nhân dân N Định tham gia phong trào Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục
Phạm Văn Nghị, một nhân cách lớn
Phạm Văn Nghị (1805-1884) (1) hiệu Nghĩa Trai, là một nhà giáo, nhà thơ và là một vị quan nhà Nguyễn theo đường lối kháng Pháp tại Việt Nam
I.Tiểu sử: Phạm Văn Nghị, quê xã Tam Đăng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Là con của một ông đồ nghèo, nhưng nhờ
chăm chỉ học nên năm 1826, ông đỗ tú tài, năm 1837 đỗ cử nhân và năm sau (1838, lúc 33 tuổi) đỗ Hoàng Giáp, nên còn được người đời gọi là ông Hoàng Tam Đăng
1.1 Trước khi Pháp đến:
Sau khi đỗ đạt cao, ông được sung chức Tu soạn viện Hàn lâm rồi Tri phủ Lý Nhân Ở đấy, hễ dân có việc tranh tụng, thì ông thường lấy điều nhân nghĩa để khuyên bảo; vậy mà, có lúc ông bị giáng đến ba cấp (2) sau lại được trở về Biên tu ở Quốc sử quán
Năm 1845, ông cáo bệnh từ quan về nhà mở trường dạy học Nơi ông ở gần cửa biển Đại An, thấy đất gần cửa biển bỏ hoang, ông bèn chiêu tập người cùng làng đến khai khẩn, lập ấp, đặt tên mới là trại sĩ Lâm (Trại Sĩ Lâm sau thành Tổng Sĩ Lâm, nay
là ba xã: Nghĩa Lâm, Nghĩa Hùng, Nghĩa Hải, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định)
Năm 1857, ông lại được mời ra giữ chức đốc học Nam Định (nay la TBình, N Đ)
1.2 Khi Pháp đến: Năm Tự Đức thứ 11 năm Mậu Ngọ (ngày 1 tháng 9 năm 1858), Pháp đánh chiếm Sơn Trà (Đà Nẵng), dù
đang có bệnh, Phạm Văn Nghị vẫn quyết định tạm giao công việc cho bạn đồng khoa là tiến sĩ Doãn Khuê, gửi “Trà Sơn kháng sớ” (Sớ kháng nghị việc Sơn Trà) lên vua, rồi cùng học trò và một số sĩ phu yêu nước ở Nam Định, lập ngay một đội quân nghĩa dũng gồm 365 người để xin vua cho vào Đà Nẵng đánh Pháp
Nhưng khi đội quân nghĩa dũng tới Huế, thì quân Pháp đã rút khỏi Đà Nẵng để vào đánh Gia Định Vua Tự Đức không chuẩn y sớ của ông xin tiếp tục được vào Nam đánh đuổi ngoại xâm, mà chỉ ban lời khen ngợi, nên ông đành phải quay về.Trên đường về, ông có sáng tác bài ''Thoát lỗi ca'' (Bài ca lui giặc) trong đó có nhiều câu thơ đầy tự hào và khí phách Tuy
Trang 4vậy, nghĩa cử này đã làm ''rúng động cả sĩ phu Nam Bắc''
Về tới đất Bắc, Phạm Văn Nghị tiếp tục làm chức việc cũ Khi ấy, có nhóm thổ phỉ người Trung Quốc tràn sang quấy nhiễu ở vùng Đông Bắc, ông đem ngay số nghĩa dũng vừa chiêu mộ được, đến đóng giữ ở đồn Thượng nguyên vài tháng, khi yên mới thôi Triều đình thăng ông làm Hàn Lâm viện Thị giảng Học sĩ, nhưng ông vì bệnh nên lại xin nghỉ
Năm 1866, ông được sung chức Thương Biện, đóng quân ở Hà Cát để trông coi vùng biển Năm 1873, ông lại thăng Thị độc Học sĩ, được ban thẻ bài bằng vàng Mùa đông năm ấy, Pháp đem quân đánh chiếm Hà Nội (lần thứ nhất), rồi đánh luôn Nam Định
Bấy giờ tuy đã 68 tuổi, Phạm Văn Nghị vẫn tổ chức dân binh chặn đánh đối phương ở ngã ba Độc Bộ Do quân ít, chống không nổi, ông cho rút nghĩa quân về lập căn cứ ở Yên Hàn (Ý Yên)
1.3 Về ở ẩn:
Khi hiệp ước Giáp Tuất được ký vào ngày 15 tháng 3 năm 1874, trong đó có điều khoản triều đình Huế phải giao đứt toàn bộ [[Nam Kỳ]] cho Pháp Biết được tin này, ông bực tức, buồn bã viện cớ tuổi cao, xin về dưỡng lão, mặc dù ông vừa được sung làm Thương Biện Nam Định
Sau triều đình truy xét lại việc để thành Nam Định bị thất thủ, Phạm Văn Nghị bị tước đoạt hết mọi chức tước, bổng lộc Ông về ở ẩn, sống đạm bạc, nơi động [[Hoa Lư]], [[Ninh Bình]], lấy hiệu là ''Liên Hoa Động Chủ''
1884, ông mất vì già yếu Hay tin, vua cho phục lại nguyên chức hàm cũ là là Thị độc Học sĩ
II.Ghi nhận:
2.1 Nhân cách: Sử nhà Nguyễn chép: “Phạm văn Nghị cùng với Doãn Khuê (đỗ tiến sĩ cùng khoa với Nghị), được kẻ sĩ đương
thời mến phục Có lần Doãn vào bái yết vua, vua thong thả hỏi chuyện bệnh tình của Nghị rồi cho vàng và tiền để mua thuốc men, lại dụ rằng: “K0 phải ta khen Nghị về sự tiến thoái nhanh nhẹn, mà là khen về sự khí tiết hơn người, gặp việc là hăng háilàm…”
Tuy ở ẩn, nhưng ông Nghị luôn tự trách mình chưa làm hết chức trách với nước, với dân Có người biết được tấm lòng ông, tâu chuyện lên vua Vua ban cho ông 100 lạng bạc và dụ rằng
:“An cư, dưỡng lão, dạy bảo hiền tài, thế cũng đã là lo báo đáp, không nên tự cho như thế là chưa đủ “(Đại Nam chính biên liệt truyện'', nhị tập, quyển 33)
Năm ông 70 tuổi, nhiều người có liễn đối, thơ mừng thọ, trong số đó có câu của Tống Duy Tân: Phong lãng kỉ hồi, đại nghĩa ná tri đầu phát bạch,
Giang sơn vô dạng, cố viên nhưng hữu cúc hoa hoàng
Dịch: Sóng gió nhiều phen, nghĩa lớn sá chi đầu tóc bạc;
Giang sơn yên ổn, vườn xưa còn đấy luống hoa vàng
2.2Văn chương:
Phạm Văn Nghị viết nhiều và chủ yếu đều bằng chữ Hán
Tác phẩm gồm có: Tự ký, Tùng Viên văn tập, Nghĩa Trai thi văn tập, Trừ văn hịch (hịch trừ muỗi) Về chữ Nôm, ông có bài Tứ thành thất thủ ca (phú kể lại việc Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất) và một số bài thơ khác ông làm khi về ở ẩn
Thơ văn yêu nước của ông biểu lộ thái độ căm thù kẻ xâm lược sâu sắc, đả kích không thương tiếc những quan lại yếu hèn Nhưng qua đó, người đọc cũng dễ dàng thấy ở ông một tấm lòng yêu dân thiết tha, lòng kính trọng những anh hủng liệt sĩ đã dám xả thân vì nghĩa lớn
Về cuối đời, “thơ ông nặng về tư tưởng nhàn, song tấm lòng son sắt với dân, với nước thì không hề phai nhạt…” (Triêu Dương, ''Từ điển văn học'' (bộ mới), NXB Thế giới, 2004, tr 1377)
2.3 Giáo dục:
Nhờ công ông dạy dỗ, nhiều học trò của ông sau này hiển đạt cao, nhiều người trở thành lãnh tụ của phong trào Cần Vương, như: Nguyễn Khuyến, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Nguyễn Cao, Lã Xuân Oai, Vũ Hữu Lợi, Phạm Nhân Lý…
Và con trưởng ông là Phạm Văn Giảng, thi Hội đỗ phó bảng, làm quan đến chức Bố chánh Thanh Hóa, các con thứ là Phạm Văn Hân, Phạm Văn Hàm, Phạm Văn Phả đều thi đậu Cử nhân