1. Trang chủ
  2. » Tất cả

VSA dự thảo vs hiện hành

57 1,2K 70
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vsa Dự Thảo Vs Hiện Hành
Tác giả Biện Thị Hải Anh, Nguyễn Thị Vi, Phạm Ngọc Yến
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Thị Giang Tân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Kế Toán Kiểm Toán
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 154,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, ISA sẽ được đánh số cho mỗi chủ đềtheo trình tự hợp lý của việc thực hiện một cuộc kiểm toán báo cá tài chính chuẩn mực 200 vềtrách nhiệm của kiểm toán viên, cho đến chuẩn mực 7

Trang 1

KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN

TI U LU N MÔN ỂU LUẬN MÔN ẬN MÔN

Ch đ 3: ủ đề 3: ề 3:

TÌM HI U V CHU N M C ỂU LUẬN MÔN Ề CHUẨN MỰC ẨN MỰC ỰC

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Từ những năm 30 của thế kỷ XX, khi mà nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, quá trìnhchọn lọc các thông tin tài chính trở nên khó khăn Nhằm đáp ứng tình hình đó, hoạt động kiểmtoán xuất hiện, các chuẩn mực kiểm toán (ISA) ra đời và dần dần được áp dụng rộng rãi trongnền tài chính quốc tế với mục đích làm sáng tỏ các mối gian lận tài chính, tạo niềm tin cho nhàđầu tư

Ở Việt Nam, sau khi chuyển đổi nền kinh tế, nhằm đáp ứng quá trình phát triển và hội nhậpQuốc tế, Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt cũng đã ra đời dựa trên cơ sở các chuẩn mựckiểm toán quốc tế (có sự chỉnh sửa để phù hợp với điều kiện Việt Nam)

Trải qua sự phát triển của nền kinh tế, các chuẩn mực kiểm toán Quốc tế dần dần được sửa đổi

và hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển tài chính Năm 2009, IAASB đã cho ban hành hệthống Chuẩn mực kiểm toán mới áp dụng trên toàn thế giới Không nằm ngoài xu thế đó, Bộ tàichính Việt Nam đã tiến hành soạn thảo các dự thảo chuẩn mực kiểm toán (chia làm 3 đợt) Trongcác bản dự thảo đó, có 3 chuẩn mực quan trọng, được xem là “tiền đề cho một cuộc kiểm toán”

Đó là 3 chuẩn mực: Chuẩn mực 210: Hợp đồng kiểm toán; Chuẩn mực 220: Kiểm soát chấtlượng hoạt động kiểm toán và Chuẩn mực 230: Hồ sơ kiểm toán

Sau đây chúng ta sẽ cùng phân tích những công trình nghiên cứu dẫn đến sự thay đổi 3 chuẩnmực kiểm toán trên cũng như những biệt giữa chuẩn mực hiện hành và dự thảo chuẩn mực kiểmtoán

Trang 4

Mục lục

A Lịch sử hình thành và phát triển chuẩn mực kiểm toán quốc tế 4

I Trước 1991 4

II 1991 – 1994 4

III 1994 – 2004 4

IV 2004 – 2009 5

V 2009 – nay 6

B Phần chuẩn mực 8

I Hợp đồng kiểm toán 8

1 Các nghiên cứu có liên quan 8

2 So sánh chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành và dự thảo 16

II Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính 22

1 Lịch sử phát triển chuẩn mực ISA 220 22

2 Các nghiên cứu có liên quan 24

3 So sánh chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành và dự thảo 24

III Tài liệu hồ sơ kiểm toán 30

1 Các nghiên cứu có liên quan 30

2 So sánh chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành và dự thảo 37

TỔNG KẾT 49

TÀI LIÊU THAM KHẢO 50

Trang 5

A Lịch sử hình thành và phát triển chuẩn mực kiểm toán quốc tế

Quyết định để tạo ra Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC) được thực hiện bởi Hội đồngquản trị của IFAC vào ngày 08/10/1977 Là một trong những ủy ban quan trọng nhất của IFAC,IAPC phát triển Hướng dẫn Kiểm toán Quốc tế (IAGs), trong thực tế, là tiền thân của các chuẩnmực kiểm toán (ISA).Các IAGs đại diện cho "thực hành tốt nhất" trong các công ty kiểm toánvào thời điểm đó trong lĩnh vực kiểm toán và xem xét lịch sử các thông tin tài chính IAPC banhành Hướng dẫn kiểm toán quốc tế giữa năm 1980 và 1991 IAG đầu tiên xử lý mục đích vàphạm vi của một cuộc kiểm toán và đã được phê duyệt trong tháng 10/1979

II 1991 – 1994

Sau một thời gian tăng lên sự quốc tế hóa của các hoạt động kinh doanh và thị trường vốn trongnhững năm 1980, IFAC đã có 106 tổ chức thành viên trên 78 quốc gia vào cuối năm 1991, so với

72 tổ chức thành viên trên 55 quốc gia vào cuối năm 1978 Trong bối cảnh của sự phát triển này

và sự mong đợi rằng IAGs sẽ sớm được công nhận bởi tổ chức chứng khoán chính thức, IAPCcải cách khuôn khổ các chuẩn mực, theo hiến pháp của IFAC tháng 11/1991 Từ thời điểm đó,

"Hướng dẫn Kiểm toán Quốc tế" (IAGs) sẽ được đổi tên thành "chuẩn mực kiểm toán quốc tế"(ISA) Như vậy, IAPC đã thừa nhận rằng chuẩn mực của nó đã đạt được một trạng thái chuẩncho kiểm toán và xem xét các cam kết liên quan đến lịch sử thông tintài chính Vì vậy, IAPC, làmột trong những Ủy ban của IFAC, đã trở thành tổ chức ban hành chuẩn mực kiểm toán trên thịtrường quốc tế

Trong tháng 10/1992, Ủy ban các tổ chức chứng khoán quốc tế (IOSCO) công bố một nghịquyết, theo đó ISA sẽ được công nhận trên thị trường vốn như là một chấp nhận thay thế cho cácchuẩn mực kiểm toán quốc gia, trong bối cảnh các dịch vụ xuyên quốc gia liên tục được báo cáobởi các tổ chức phát hành nước ngoài

Trang 6

III 1994 – 2004

Trong tháng 7/1994, IAPC đặt nền móng cho cấu trúc của một ISA, bao gồm các nguyên tắc cơbản và thủ tục cần thiết sẽ được trình bày bởi các đoạn chữ đậm, giải thích và thông tin hướngdẫn sẽ được trình bày bởi các đoạn chữ màu xám Hơn nữa, ISA sẽ được đánh số cho mỗi chủ đềtheo trình tự hợp lý của việc thực hiện một cuộc kiểm toán báo cá tài chính (chuẩn mực 200 vềtrách nhiệm của kiểm toán viên, cho đến chuẩn mực 700 và 800 về báo cáo)

IV 2004 – 2009

Trong thời gian 2004-2008, IAASB quan tâm “Dự án Clarity”

Cái được gọi là "Dự án Clarity" của Hội đồng chuẩn mực kiểm toán và đảm bảo quốc tế/////////(IAASB) được tạo ra theo các ý kiến năm 2003 về Dự thảo tiếp xúc (ED), "Chính sáchhoạt động số 1 –Dự thảo tiếp xúc các đoạn in đậm" ED này, sự cần thiết phải sử dụng đoạn màuđen và màu xám trong ISA gây tranh cải tranh cãi.Ý kiến quan trọng đã được đưa ra bởi Ủy bancác Tổ chức chứng khoán quốc tế (IOSCO) Dự án này được thiết lập để xứ lý các ý kiến trongviệc thiết lập chuẩn mực kiểm toán đó, trở lại năm 1994, liên quan những của IAPC về ý kiếnnày, đã không được tiếp theo sau bởi một sự sửa đổi tương ứng của ISA

Trong tháng 9/2004, IAASB đã ban hành một Báo cáo Chính sách "Làm rõ các yêu cầu chuyênmôn trong các chuẩn mực quốc tế ban hành bởi IAASB", tiếp theo là một Hồ sơ tư vấn "Nângcao Sự rõ ràng và cấu trúc của chuẩn mực IAASB và sự liên hệ tới sự xem xétcác Báo cáo thựchành"

Vào tháng 10/2005, 4 ED đã được ban hành, cụ thể là ED ISA 300 về lập kế hoạch một kiểmtoán báo cáo tài chính”, ED ISA 315 về đánh giá rủi ro của kiểm toán viên, ED ISA 330 về cácgiảm các rủi ro kiểm toán xuống một mức độ chấp nhận được bằng cách thực hiện các thủ tụckiểm toán hơn nữa là để đánh giá rủi ro của kiểm toán viên, và ISA 240 về trách nhiệm của kiểmtoán viên xem xét các gian lận trong suốt cuộc kiếm toán báo cáo tài chính Medio2006,hết thờigian góp ý và trong tháng 12/2006 IAASB đã ban hành ISA 240,300, 315 và 330 chính thức,trong đó, lần đầu tiên trong lịch sử, được đặt tên là "Clarified ISA" Trong tháng 7/2007, IAASBphê duyệt ISA 600 "Kiểm toán báo cáo tài chính của tập đoàn"

Trang 7

ISA khác cũng sẽ phải tuân theo quá trình "Clarified" cho đến ngày cuối cùng của dự án, cụ thể

là tháng 12/2008

ISA (bao gồm cả ISQC-1) sẽ được làm rõ theokế hoạch được cung cấp bởi dự án "Clarity":

 11 chuẩn mực được sửa đổi hoàn toàn (làm rõ cấu trúc + sửa đổi hoàn toàn nội dung,nghĩa là "làm rõ và sửa đổi", cụ thể là ISA 260, 320 (450), 402, 450, 505, 540 (545), 550,

V 2009 – nay

Trong năm 2009, IAASB đã hoàn tất “Dực án Clarify” Kiểm toán viên trên khắp thế giới giờđây có thể sử dụng 36 chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) mới và một chuẩn mực về kiểm soátchất lượng, có hiệu lực từ 15 tháng 12 năm 2009 Trong 36 chuẩn mực, có 16 chuẩn mực đượcsửa đổi và bổ sung, 19 chuẩn mực được bổ sung và 1 chuẩn mực được xây dựng mới

Các ISA mới được xây dựng với những yêu cầu chi tiết hơn được coi là sẽ có những ảnh hưởnglớn tới bản chất và phạm vi các thủ tục kiểm toán, ghi chép hồ sơ kiểm toán và chi phí của cuộckiểm toán

Với mục đích chung nhất là nâng cao chất lượng kiểm toán, hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc

tế mới đã được sửa đổi, bổ sung thêm nhiều yêu cầu chi tiết đối với kiểm toán viên Việc áp dụng

hệ thống chuẩn mực này được cho là sẽ có những ảnh hưởng đáng kể đối với hoạt động kiểmtoán.Chất lượng sẽ được nâng cao, rủi ro sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn, tuy nhiên chi phí kiểmtoán cũng sẽ gia tăng Theo nghiên cứu của nhóm cố vấn cho IAASB, các yêu cầu của chuẩnmực tăng lên khoảng 60%, và gần 30% các tuyên bố trước kia để ở thì hiệu tại thì nay trở thànhcác yêu cầu bắt buộc Còn theo một nghiên cứu của Ủy ban Thực hành Kiểm toán của UK vàIreland đối với các công ty kiểm toán, việc áp dụng hệ thống chuẩn mực mới sẽ làm gia tăng thời

Trang 8

gian và chi phí cho một cuộc kiểm toán Cụ thể là chi phí kiểm toán tăng trung bình 9,6% đối vớikhách hàng nhỏ và vừa, 1,9% đối với các khách hàng lớn, chi phí kiểm toán năm đầu tiên tăng13,9% đối với khách hàng nhỏ và vừa, 5% với khách hàng lớn Ảnh hưởng cụ thể lên các công tykiểm toán khác nhau cũng sẽ khác nhau, phụ thuộc vào qui trình kiểm toán mà các công ty đãthực hiện trước đó như thế nào.Đối với những công ty kiểm toán nhỏ, chưa thực hiện đầy đủ cácchuẩn mực kiểm toán, kiểm soát chất lượng, thì sự thay đổi sẽ rất đáng kể.

Chuẩn

Thờiđiểm banhành lầnđầu

Ký hiệu chuẩn mực

Các lần sửađổi

Ngàycuốicùngtrong

dự án Clarify

Tươnglai Trước2004 Trước1994 Trước1992

ISA

210 Hợp đồngkiểm toán 6/1980 ISA210 ISA210 ISA 2 IAG 2

12/2004,2/2004,3/1994

9/2005,2/1004,3/1994,11/1993

9/2007

Ở Việt Nam, Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam do Bộ tài chính chịu trách nhiệm soạnthảo và ban hành Về cơ bản,các chuẩn mực kiểm toán của Việt Nam dựa trên cơ sở các chuẩnmực kiểm toán quốc tế (có sự chỉnh sửa để phù hợp với điều kiện Việt Nam) Điều này có ýnghĩa quan trọng giúp cho hoạt động kiểm toán Việt Nam có thể xây dựng chuẩn mực nhanhchóng, hội nhập với thế giới mà vẫn phù hợp với đặc điểm hoạt động này ở Việt Nam Ngày13/5/1991, Bộ Tài chính đã ký quyết định thành lập hai công ty Kiểm toán đầu tiên: Công tyKiểm toán Việt Nam – VACO và Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán ViệtNam –AASC (nay là công ty TNHH Tư vấn tài chính kế toán và Kiểm toán Hoạt động kiểmtoán độc lập cũng lần đầu tiên được luật hóa bằng việc Quy chế về kiểm toán độc lập trong nềnkinh tế quốc dân được ban hành kèm Nghị Định số 07/CP ngày 29/1/1994 Đặc biệt, sau khi

Trang 9

Chính phủ ban hành Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 về Kiểm toán độc lập (đượcsửa đổi bổ sung bằng Nghị định 133/2005/NĐ-CP ngày 31/10/2005) đã tạo một “luồng gió mới”,đẩy nhanh quá trình phát triển của ngành kiểm toán Việt Nam Cho tới nay,Việt Nam đã chínhthức ban hành 7 đợt gồm có 37 chuẩn mực.

B Phần chuẩn mực

I Hợp đồng kiểm toán

Một trong những chuẩn mực quan trọng, và là Tiền đề cho một cuộc kiểm toán thành công làchuẩn mực về Hợp đồng kiểm toán, được quy định trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế 210:

AGREEING THE TERMS OF AUDIT ENGAGEMENTS, được bộ tài chính soạn tiếp thu

trên tinh thần phù hợp với tình hình Việt Nam cho ra đời chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 210:Hợp đồng kiểm toán

Chuẩn mực này cũng đã được tiến hành soạn thảo lại từ khi chuẩn mực kiểm toán Quốc tế đượcban hành năm cuối năm 2009 Hiện nay đã xuất hiện 2 bản dự thảo riêng cho chuẩn mực 210,vào đợt 1 năm 2010 và đợt 3 năm 2012

Vậy, việc soạn thảo các bản dự thảo đã cho chúng ta biết tầm nhìn và quan điểm mới của Bộ tàichính và Hiệp hội nghề nghiệp Kiểm toán về vấn đề Hợp đồng kiểm toán Như vậy, những điểmkhác biệt cơ bản nhất của Chuẩn mực hiện hành và chuẩn mực dự thảo là gì? Chúng ta sẽ cùngtìm hiểu

1 Các nghiên cứu có liên quan

Nằm trong “Dự án Clarity”, tháng 9 năm 2004, Liên đoàn kế toán quốc tế IFAC đã tiến hànhkhảo sát các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp của các nước lớn để tiến hành thu thập y kiến về ưunhược điểm và những thiếu sót của chuẩn mực Chuẩn mực kiểm toán 210: Hợp đồng kiểm toáncũng nằm trong dự án đó Sau đây là một số ý kiến của các công ty kiểm toán, hiệp hội nghềnghiệp cũng như các tổ chức lớn trên thế giới và nhận xét của IFAC dựa trên những ý kiến đó

Trang 10

# T.chức Số

Sửađổi?

Những xem xét

và hành độngTổng quan

“đảm bảo hợp lý” và “taken as awhole” trong ED ISA 700 cần đượcxem xét về mối liên hệ với các từtrong Hợp đồng kiểm toán Tuynhiên, Hội đồng có thể không thayđổi bất cứ điều khoản nào trong EDISA 700, chúng tôi nhận thấy hợpđồng kiểm toán phù hợp với nhữngquy định của chuẩn mực trên

Ngoại trừ nhận xét trên, chúng tôiđồng ý với bản chỉnh sửa và nhữnghướng dẫn mới kèm theo chuẩnmực

Đồng

ý Những từ trongthư kiểm toán

mẫu đã đượcchỉnh sửa chophù hợp vớinhững từ trongbáo cáo kiểmtoán

Hợp đồng kiểm toán đề cập đếnChủ tịch hoặc người đại diện thíchhợp cho ban quản lý

Vậy người nào mà hợp đồng đề cậpđến sẽ có trách nhiệm ký hợp đồng?

Sẽ phù hợp hơn nếu đề cập rằngngười thuộc Hội đồng quản trị chứkhông phải những người quản lý làngười cuối cùng chịu trách nhiệm

về tính hợp lý của báo cáo tài chính

Khôngđồngý

Phần này nămngoài phạm vicủa chuẩn mực,dựa vào việcphân chia tráchnhiệm mà xemxét ai là ngườiđứng đầu

PAAB

JoBurg 19 Chúng tôi nhận thấy rằng ban thưký IAASB nên xem xét sự lặp lại từ

ở mỗi chuẩn mực hay chỉ đơn thuầntham chiếu đến tiêu chuẩn bao quáttoàn bộ Trong tình huống hiện tại,

có một số lượng lớn thông tin đượclặp lại ở cả chuẩn mực kiểm toán

Đồng

ý Rất nhiều sựthay đổi trọng

yếu đã đượcthực hiện dẫnđến sự cải thiệncấu trúc, ngoạitrừ tính chất lặp

Trang 11

200 và 210 và cũng nên xem xétrằng liệu nên sử dụng nhữngnguyên tắc chung trong chuẩn mựcchung (ví dụ ISA 200) và nhữngyêu cầu đặc biệt trong những chuẩnmực thích hợp nhằm giải quyếtnhững vấn đề cụ thể (ví dụ ISA210).

Đa số các hướng dẫn trong ISA 200

đã được lặp lại trong ISA 210 Cầnxem xét để loại bỏ những thông tinnày từ ISA 200, trong đó có nguyêntắc chung (xem ý kiến trên)

từ

Chúng tôi hiểu rằng mục đích củachuẩn mực ISA 210 không chỉ nóiđến báo cáo tài chính phục vụ mụcđích chung mà còn nói đến báo cáotài chính với mục đích đặc biệt Tuynhiên, ISA 210 lại không chứa đựnghướng dẫn về khía cạnh này Nhìnchung, nó không thảo luận về báocáo tài chính có thể chấp nhận đượctrong phần nội dung về mục đíchchung của báo cáo tài chính (đoạn13-18) Vì vậy chúng tôi tin rằngmục đích của ISA 210 là khônghoàn chỉnh Đoạn 3 của ISA 800 đềcập những điều khoản về hợp đồngkiểm toán cho mục đích đạc biệt

Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng sẽhữu ích hơn khi bổ sung tất cả cáchướng dẫn liên quan đến các điềukhoản của hợp đồng kiểm toán vớimục đích đặc biệt trong ISA 210 và

vì vậy hướng dẫn đó có thể cungcấp cho kiểm toán viên trong ápdụng đoạn 12 ISA 210 trong phầnnội dung hợp đồng kiểm toán đặcbiệt

Khôngđồngý

Phần này nămngoài phạm vicủa chuẩn mực,dựa vào việcphân chia tráchnhiệm mà xemxét ai là ngườiđứng đầu

cho phù hợp Theo như ISA 210,cần xem xét rằng chuẩn mực ISA là

Khôngđồng

Nằm ngoàiphạm vi củacuộc nghiên cứu

Trang 12

yêu cầu đặc biệt trong hợp đồngkiểm toán đối với Chủ tịch hoặc đạidiện quản lý cấp cao, và yêu cầurằng người đã xác nhận hợp đồng(cũng có thể được tiếp ký bởi mộtđại diện khác của ban quan lý).

Điều này là phù hợp với khái niệm

cơ quan chủ quản là người cuốicùng chịu trách nhiệm về việc trìnhbày hợp lí báo cáo tài chính Trườnghợp xuất hiện Ủy ban kiểm toán,một bản sao của hợp đồng kiểmtoán cần đề cập đến chủ tịch của Ủyban kiểm toán

nhiệm của Giámđốc kỹ thuật vàHội đồng đứngđầu

tôi về ISA 200, chúng tôi đề nghịchuyển phần Quy định chung về lập

và trình bày báo cáo tài chính phùhợp từ ISA 200 sang ISA 210 và đặtchúng giữa đoạn 9 và 10 Từ đoạn

14 đến 18 chỉ ra rằng việc gộp phầnQuy định chung về lập và trình bàybáo cáo tài chính trong ISA 200 vớiISA 210 bằng cách loại bỏ sự lặp lạitrong các đoạn 14 đến 15 và sửa đổicác đoạn văn để phản ánh ý kiếnchung của chúng tôi trên ISA 210liên quan đến khu vực pháp lý màkhông có những tiêu chuẩn đượccông nhận Tóm lại, việc đọc ISA

210 cho chúng tôi cái nhìn rằng nókhông được viết theo một khuônkhổ pháp luật trung lập Ví dụ, khimột hợp đồng kiểm toán theo luậtđịnh được chấp nhận, kiểm toánviên theo luật định của Đức khôngđược rút lui hay thay đổi hợp đồngkiểm toán, điều đó không đúng vớiđoạn 12-13 theo chuẩn mực ISA

210 cũ Trên cơ sở này, chúng tôi đềnghị IAASB xem xét việc cập nhậtchuẩn mực 210 để nó không bị mâuthuẫn cới cơ sở pháp lý chung

Đồng

ý Đã quyết địnhphân phối phần

trọng yếu vàoISA 210 bởi vì

đó là chuẩnmực tổng quát.ISA 210 chứađựng sự thamchiếu đến ISA

200

Trang 13

L đoạn 2 và đoạn 26 (chữ đậm) rằng

các điều khoản của hợp đồng kiểmtoán nên đồng ý bằng văn bản

phạm vi củacuộc nghiên cứu– thuộc về tráchnhiệm của Giámđốc kỹ thuật vàHội đồng đứngđầu

cập đến “hướng dẫn cũng có thể ápdụng cho các dịch vụ có liên quan

Khi các dịch vụ khác được phân rariêng lẻ có thể phù hợp” Câu này

đã được xóa trong phần chỉnh sửa,tuy nhiên nếu việc này xóa đượcthực hiện, chúng tôi có ý kiến là sẽthật sự có ích khi hướng dẫn ngườiđọc nơi thích hợp để có thể tìmhướng dẫn liên quan đến dịch vụkhác

Khôngđồngý

Việc xóa nhằmtránh xung độtvới yêu cầu độclập mới Tuynhiên, việc cungcấp hướng dẫnthêm nằm ngoàiphạm vi của dự

án này

L

32 6,7& 8 Hợp đồng kiểm toán: Nội dung

mang tính bắt buộc Phần này củaISA 210 đã không được sửa đổihoàn chỉnh trong ISA 700 Hìnhthức và nội dung của Hợp đồngkiểm toán cần bao gồm phần tráchnhiệm của Kiểm toán viên và cáctrách nhiệm khác về những yêu cầumang tính luật pháp và các văn bảndưới luật để đảm bảo sự hiểu biết rõràng của khách hàng Đoạn 6-8 baogồm những danh sách các mụckhông mang tính chất bắt buộc màmang tính chất linh hoạt như “thôngthường bao gồm” (đoạn 6), “cũng

có thể bao gồm” (đoạn 7), “có thểthực hiện” (đoạn 8) Chúng tôi đềnghị chuẩn mực nênm phân biệt rõnhững gì thì cần trong tất cả hợpđồng kiểm toán (ví dụ như, vị trímục được yêu cầu) và những mụcnào là linh hoạt Ngoài ra, nhữngmục được đề cập ở đoạn 6, chúngtôi tin rằng hợp đồng kiểm toán nênxem xét đến:

Khôngđồngý

Phần này nămngoài phạm vicủa chuẩn mực,dựa vào việcphân chia tráchnhiệm mà xemxét ai là ngườiđứng đầu

Trang 14

- Trách nhiệm của Kiểm toán viên

- Các yêu cầu mang tính luật pháp

và các văn bản dưới luật khác

- Các thỏa thuận liên quan đến kiểmtoán viên và các chuyên gia khác(đặc biệt là chuyên gia tính toán)Hợp đồng kiểm toán cần chỉ ra rằngviệc xác nhận cơ sơ lập báo cáo tàichính là trách nhiệm của kiểm toánviên Chúng tôi khuyến nghị rằngmục thứ 3 trong đoạn 6 nên đượcchỉnh sửa để bao gồm từ “ xác nhậnbởi Ban quản lý”

Mục gạch đầu dòng cuối cùng, đềcập đến Hợp đồng kiểm toán minhhọa, nên là một đoạn riêng (thaybằng những mục đầu dòng diễn tảnhững vấn đề cần được ghi trongHợp đồng kiểm toán)

Yêu cầu đãđược chấp nhận

Các đoạn này xem xét ảnh hưởngcủa các điều khoản trong hợp đồngkiểm toán khi xác định tính có thể

áp dụng được của khuôn mẫu báocáo tài chính Phần hướng dẫn trongđoạn 12 chỉ ra rằng nếu Kiểm toánviên kết luận rằng báo cáo tài chínhkhông thể chấp nhận được, hợpđồng không thể được kí kết Tuynhiên, hướng dẫn này có gì đó mâuthuẫn với đoạn 13- nói về việc tùyvào hoàn cảnh cụ thể kiểm toánviên có thể thảo luận những điểmchưa đầy đủ với nhà quản lý và yêucầu nhà quản lý thay đổi cho phù

Yêu cầu đãđược chấp nhận

Trang 15

hợp với khuôn khổ Chúng tôi đềnghị rằng cần có sự rõ ràng hơntrong hướng dẫn khi kiểm toán viênkhông đồng ý với nhà quản lý Điềunày có thể là một vấn đề đơn giảntrong việc thay đổi hướng dẫn để nó

rõ ràng hơn khi mà khuôn khổkhông áp dụng được một cách thíchhợp bởi kiểm toán viên, và thay vìthảo luận, khi lựa chọn của nhàquản lý là không thay đổi báo cáotài chính, hợp đồng kiểm toán sẽkhông được chấp nhận

ra rằng nếu Kiểm toán viên kết luậnrằng báo cáo tài chính không thểchấp nhận được, hợp đồng khôngthể được kí kết Tuy nhiên, hướngdẫn này có gì đó mâu thuẫn vớiđoạn 13- nói về việc tùy vào hoàncảnh cụ thể kiểm toán viên có thểthảo luận những điểm chưa đầy đủvới nhà quản lý và yêu cầu nhàquản lý thay đổi cho phù hợp vớikhuôn khổ Chúng tôi đề nghị rằngcần có sự rõ ràng hơn trong hướngdẫn khi kiểm toán viên không đồng

ý với nhà quản lý

Yêu cầu đãđược chấp nhận

1

1

của cơ sở lập báo cáo tài chính cầnđược trình bày trước phần sự chấpnhận của kiểm toán viên về hợpđồng kiểm toán Các điều khoản củahợp đồng cần bao hàm các tiêuchuẩn (cơ sở lập báo cáo tài chính)

mà các đối tượng thông tin (báo cáotài chính) đã được chuẩn bị và do

đó sẽ được kiểm toán Trong khi cóthể có những trường hợp kiểm toánviên nhận thấy từ những thông tintrong khi thực hiện kiểm toán khôngthể chấp nhận được, những trườnghợp này thì cực kỳ hiếm

Rất nhiều sựthay đổi trọngyếu đã đượcthực hiện dẫnđến sự cải thiệncấu trúc, ngoạitrừ tính chất lặptừ

Trang 16

Do đó, chúng tôi đề nghị chuyểntoàn bộ phần giải quyết tính có thể

áp dụng được của báo cáo tài chínhvào ISA 210 Theo quan điểm củachúng tôi, vị trí tốt nhất cho phầnnội dung này là phía trước phần tiêu

đề “ Chấp nhận điều khoản của cơ

sở lập báo cáo tài chính” và sau đóchỉnh sửa đoạn 11, 14 và 16 trongISA 210 Tất nhiên, nó có thể hữuích nếu như điều khoản 35 của ISA

200 có tham chiếu đến điều khoảncủa ISA 210 trong việc chấp nhậnbáo cáo tài chính

“Dự án Clarity” đã cho thấy được sự thành công vượt bậc khi đã thu thập được những ý kiến cólợi cho quá trình phát triển chuẩn mực phù hợp với yêu cầu của tình hình mới

2 So sánh chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành và dự thảo

2.1 Giới thiệu chuẩn mực VSA 210 hiện hành và dự thảo

Chuẩn mực kiểm toán 210 hiện hành: Được ban hành vào đợt 1 (trong 7 đợt ban hành chuẩn

mực kiểm toán Việt Nam), theo quyết định số 120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 9 năm 1999 của

Bộ trưởng Bộ Tài chính

Dự thảo chuẩn mực kiểm toán 210: Là kết quả của 2 đợt tiến hành ban hành dự thảo chuẩn

mực kiểm toán: đợt 1 (năm 2010) và đợt 3 (năm 2012)

2.2 Kết cấu chuẩn mực

Chuẩn mực kiểm toán 210 hiện hành: Trình bày theo 2 phần: Nội dung chuẩn mực (đoạn

1-28 hướng dẫn) và 3 phụ lục bổ sung.

Dự thảo chuẩn mực kiểm toán 210: Trình bày theo 3 phần: Nội dung chính của chuẩn mực

(đoạn 1-21 dự thảo), Hướng dẫn áp dụng (đoạn A1-A37 dự thảo) và 3 phụ lục bổ sung.

So với chuẩn mực hiện hành, dự thảo chuẩn mực đã trình bày tách biệt phần nội dung chínhchuẩn mực thành 2 phần: Nội dung chính và Hướng dẫn áp dụng nhằm cụ thể hóa các điềukhoản, tạo sự rõ ràng và dễ hiểu cho chuẩn mực

Trang 17

2.3 Quy định chung

2.3.1 Mục đích và phạm vi áp dụng

Chuẩn mực kiểm toán 210 hiện hành: Nêu ra mục đích chính của chuẩn mực là “Quy định

nguyên tắc và nội dung cơ bản của các thỏa thuận giữa công ty kiểm toán với khách hàng về các

điều khoản và điều kiện” (đoạn 01 chuẩn mực).

Dự thảo chuẩn mực kiểm toán 210: Hướng dẫn cho Kiểm toán viên và công ty Kiểm toán

trong việc thống nhất các cơ sở và điều kiện (tiền đề của một cuộc kiểm toán) để thực hiện hợpđồng kiểm toán

Điểm mới: Dự thảo đã đưa ra một quy định mới về yêu cầu đối với Doanh nghiệp

được kiểm toán: “Đơn vị được kiểm toán (khách hàng) phải có những hiểu biết nhấtđịnh về Chuẩn mực này để phối hợp công việc và xử lý các mối quan hệ liên quan

đến quá trình thỏa thuận và thực hiện hợp đồng kiểm toán” (đoạn 02 dự thảo) Việc

đưa ra yêu cầu này đã quy định cụ thể hơn trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán,tạo điều kiện cho việc ký kết hợp đồng và thực hiện kiểm toán được tiến hành dễdàng hơn

 Như vậy, về mục đích và phạm vi, Dự thảo chuẩn mực đã có một hướng đi khác so vớichuẩn mực hiện hành, thay vì quy định cứng nhắc các điều khoản, nguyên tắc để kí kếtmột hợp đồng kiểm toán, dự thảo chuẩn mực kiểm toán 210 đã thiên về việc Hướng dẫnKiểm toán viên và Công ty kiểm toán trong việc thống nhất các điều kiện của hợp đồngkiểm toán với Khách hàng

2.3.2 Giải thích thuật ngữ

Chuẩn mực kiểm toán 210 hiện hành: Giải thích thuật ngữ “Hợp đồng kiểm toán”

Dự thảo chuẩn mực kiểm toán 210: Đưa ra và giải thích thuật ngữ “Tiền đề của một cuộc kiểm

toán”

 Việc bỏ qua thuật ngữ “Hợp đồng kiểm toán” mà giải thích một thuật ngữ mới với hàmnghĩa rộng hơn “Tiền đề của một cuộc kiểm toán” và xoáy sâu vào việc xác định tiền đề

của một cuộc kiểm toán (đoạn 06-08 dự thảo) đã giúp Kiểm toán viên và Công ty kiểm

toán có cái nhìn cụ thể hơn trong việc tiến hành thỏa thuận và ký kết hợp đồng kiểm toán

Trang 18

2.4 Nội dung chuẩn mực

Chuẩn mực kiểm toán 210 hiện hành: Các đoạn trong chuẩn mực hiện hành được trình bày

ngắn gọn, chung chung nên nhiều lúc dẫn đến việc hiểu sai, áp dụng khác nhau khi gặp cùng mộttình huống, hơn nữa, chuẩn mực hiện hành còn mang tính cứng nhắc, chưa cụ thể, không linhhoạt

Dự thảo chuẩn mực kiểm toán 210: Mang bản chất hướng dẫn hơn là quy định, tạo được sự

linh hoạt trong áp dụng Các đoạn quy định cụ thể, chi tiết dễ hiểu, dễ áp dụng Nội dung nàyđược chia làm 5 phần với các hướng dẫn áp dụng tương ứng

- Tiền đề của một cuộc kiểm toán (đoạn 06-08 dự thảo)

- Thỏa thuận về các điều khoản trong hợp đồng kiểm toán (đoạn 09-12 dự thảo)

- Các cuộc kiểm toán nhiều năm (đoạn 13 dự thảo)

- Chấp nhận thay đổi các điều khoản hợp đồng kiểm toán (đoạn 14-17 dự thảo)

- Các vấn đề cần xem xét thêm khi chấp nhận hợp đồng kiểm toán (đoạn 18-21 dự

thảo)

2.4.1 Tiền đề của một cuộc kiểm toán

Đây là thuật ngữ mới trong dự thảo, mang nghĩa rộng Dự thảo chuẩn mực kiểm toán 210, đoạn

04 nêu rõ:

Tiền đề của một cuộc kiểm toán: Là việc Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán áp dụng quy định

về lập và trình bày báo cáo tài chính được chấp nhận trong việc lập báo cáo tài chính và sự chấpthuận của Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị đơn vị được kiểm toán đối với các cơ sở để tiến hànhcuộc kiểm toán

Xác định tiền đề của một cuộc kiểm toán tức là xem xét việc lập và trình bày Báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp và xem xét việc giới hạn phạm vi (sự chấp thuận của Ban giám đốc và Banquản trị đơn vị)

Như vậy, theo dự thảo, việc xác định tiền đề của một cuộc kiểm toán là “cột sống” trong tiến

trình thỏa thuận và kí kết hợp đồng kiểm toán Dự thảo đã dành hẳn đoạn 06-08 và đoạn

A2-A19 để trình bày về vấn đề này.

Hợp đồng được ký kết cho mục đích chung và cho mục đích đặc biệt:

Trang 19

Dự thảo quy định rõ về việc lập và trình bày báo cáo tài chính cho 2 mục đích:

 Báo cáo tài chính phục vụ cho mục đích chung

Đoạn A5 dự thảo nêu rõ: “Các cá nhân và đơn vị sử dụng báo cáo tài chính không thể yêu cầu

một báo cáo tài chính được trình bày để thỏa mãn mọi nhu cầu về thông tin cụ thể của họ Tuynhiên, thông tin từ báo cáo tài chính có thể thỏa mãn nhu cầu của phần đông người sử dụng Báocáo tài chính lập theo quy định chung về lập và trình bày báo cáo tài chính đáp ứng được yêu cầuthông tin tài chính cho số đông người sử dụng được coi là báo cáo tài chính cho mục đích chung”

Đoạn A8 dự thảo, “Các chuẩn mực kế toán Việt Nam được coi là các quy định về lập và trình

bày báo cáo tài chính được pháp luật thừa nhận áp dụng trong việc lập báo cáo tài chính cho mụcđích chung.”

 Báo cáo tài chính phục vụ cho mục đích đặc biệt

Đoạn A6 dự thảo, “Khi báo cáo tài chính được lập theo quy định đặc thù về lập và trình bày báo

cáo tài chính được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin tài chính của những đối tượng sửdụng cụ thể thì được coi là báo cáo tài chính cho các mục đích đặc biệt”

 Việc phân loại mục đích của việc lập và trình bày báo cáo tài chính nhằm tạo điều kiện dễdàng hơn giúp Kiểm toán viên và công ty kiểm toán xem xét tính có thể chấp nhận đượccủa hợp đồng kiểm toán

Quy định trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc giải trình bằng văn bản trongHợp đồng kiểm toán:

Dự thảo chuẩn mực 210 quy định rõ về việc quy định trách nhiệm của Ban giám đốc trong việc

giải trình bằng văn bản Theo đoạn A23 dự thảo, khi quy định về hình thức và nội dung hợp

đồng kiểm toán có nêu rõ mục (5) Yêu cầu có được các giải trình bằng văn bản của Ban Giámđốc

Đoạn A13 dự thảo có quy định, “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần quy định rõ trong

điều khoản của hợp đồng kiểm toán về việc Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán có trách nhiệmgiải trình bằng văn bản đối với các yêu cầu của kiểm toán viên.”

 Tăng cường trách nhiệm của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán

Trang 20

2.4.2 Thỏa thuận về các điều khoản trong hợp đồng

Hình thức và nội dung của hợp đồng kiểm toán:

Chuẩn mực kiểm toán 210 hiện hành: Đoạn 05-12 chuẩn mực tập trung vào việc quy định nội

dung và các điều khoản của hợp đồng kiểm toán thông qua việc liệt kê cụ thể

Dự thảo chuẩn mực kiểm toán 210: Ban hành hướng dẫn cụ thể hơn cho Kiểm toán viên và

công ty kiểm toán thông qua các đoạn 09-12 và A23-A26 dự thảo.

Chuẩn mực hiện hành có quy định trong đoạn 10, “Khi hoàn thành công việc theo thoả thuận

trong hợp đồng kiểm toán, các bên ký hợp đồng phải làm thủ tục thanh lý hợp đồng và lập “Biênbản thanh lý hợp đồng kiểm toán” theo qui định hiện hành.”

2.4.3 Hợp đồng kiểm toán nhiều năm

Là trường hợp công ty kiểm toán và khách hàng ký hợp đồng kiểm toán cho nhiều năm tài chính.Quy định của chuẩn mực 210 hiện hành và dự thảo chuẩn mực 210 tương đối giống nhau ngoạitrừ việc dự thảo chuẩn mực đã cụ thể hóa các trường hợp cần phải lặp lại hợp đồng kiểm toán,

đoạn A28 dự thảo.

2.4.4 Chấp nhận sửa đổi hợp đồng kiểm toán

 Cả 2 chuẩn mực đều đưa ra những trường hợp cần xem xét việc chấp nhận sửa đổi hợpđồng kiểm toán

2.4.5 Các vấn đề cần xem xét thêm trong quá trình chấp nhận hợp đồng kiểm

toán

Chỉ xuất hiện ở dự thảo, đoạn 18-21 và đoạn A34-A37, gồm 3 nội dung chính:

Các quy định đặc thù về lập và trình bày báo cáo tài chính

Hướng dẫn về việc xem xét các báo cáo tài chính được lập theo quy định đặc thù khi ký kết hợpđồng kiểm toán

Quy định chung về lập và trình bày báo cáo tài chính theo pháp luật và các quy định –Các vấn đề khác ảnh hưởng đến việc chấp nhận hợp đồng kiểm toán

Trang 21

Khi pháp luật và quy định liên quan quy định kiểm toán viên sử dụng thuật ngữ “trình bày hợp

lý, trên các khía cạnh trọng yếu”, trong khi chuẩn mực kiểm toán quy định sử dụng thuật ngữ

“trình bày trung thực và hợp lý”, kiểm toán viên phải tuân theo pháp luật và quy định có liênquan

 Điểm mới: hướng dẫn giải quyết khi có sự bất đồng về pháp luật và quy định có liênquan với chuẩn mực kiểm toán

Báo cáo kiểm toán theo yêu cầu của pháp luật và các quy định

Trong đoạn A36 dự thảo đã quy định, “Nếu pháp luật và các quy định liên quan yêu cầu về hình

thức và nội dung của báo cáo kiểm toán hoàn toàn khác so với quy định của chuẩn mực kiểmtoán Việt Nam và kiểm toán viên xét thấy việc thuyết minh bổ sung trong báo cáo kiểm toáncũng không thể giúp người sử dụng hiểu đúng, kiểm toán viên cần cân nhắc việc bổ sung trongbáo cáo kiểm toán đoạn tuyên bố về việc cuộc kiểm toán không được thực hiện theo các chuẩnmực kiểm toán Việt Nam.”

Nếu như chuẩn mực kiểm toán chỉ trình bày nguyên tắc và nội dung cơ bản trong hợp đồng kiểmtoán thì Dự thảo chuẩn mực kiểm toán 210 đã trình bày riêng biệt về một vấn đề quan trọng:

“Kiểm toán các đơn vị trong lĩnh vực công” (đoạn A27 và đoạn A37).

Theo đoạn A27, “Pháp luật và các quy định về kiểm toán đối với khu vực công có các quy định

về việc bổ nhiệm kiểm toán viên cho lĩnh vực công, trách nhiệm và quyền hạn của kiểm toánviên lĩnh vực công, kể cả quyền được tiếp cận với chứng từ kế toán, sổ kế toán và các thông tinkhác Khi pháp luật và các quy định yêu cầu phải có đầy đủ các điều khoản chi tiết của một cuộckiểm toán, kiểm toán lĩnh vực công có thể phải cân nhắc sự cần thiết của việc lập một hợp đồng

kiểm toán đầy đủ hơn so với các quy định tại đoạn 11 (hợp đồng kiểm toán đối với doanh nghiệp

không thuộc khu vực công)

Đoạn A37: Khi kiểm toán các đơn vị trong lĩnh vực công, theo yêu cầu của pháp luật, kiểm toán

viên có thể phải báo cáo trực tiếp với lãnh đạo bộ, ngành chủ quản, cơ quan quản lý nhà nướchoặc công chúng nếu đơn vị được kiểm toán có hành vi gây hạn chế phạm vi kiểm toán./

Các đoạn trong dự thảo quy định về Những vấn đề cần xem xét thêm trong quá trình

chấp nhận hợp đồng kiểm toán đã hướng dẫn Kiểm toán viên và công ty kiểm toán

trong những trường hợp đặc biệt, khi mà việc áp dụng riêng các quy định của Chuẩn mực

Trang 22

kiểm toán sẽ dẫn đến việc hiểu không đủ, hiểu sai Báo cáo tài chính Đó là những trườnghợp mâu thuẫn phát sinh.

1 Lịch sử phát triển chuẩn mực ISA 220

1.1 Giai đoạn 1: Các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế

Nhằm phát triển và tăng cường phối hợp của ngành nghề một cách hài hòa trên toàn thế giới, vàonăm 1977 Liên đoàn các nhà kế toán quốc tế (IFAC) đă được thành lập Năm 1981, Ủy ban thựchành kiểm toán quốc tế (IAPC) trực thuộc IFAC đă ban hành Nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốctế.Trong các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế, có nguyên tắc số 7 bàn về kiểm soát chấtlượng hoạt động kiểm toán Nguyên tắc này đưa ra hướng dẫn về những phương pháp mà công

ty kiểm toán áp dụng nhằm kiểm soát các công việc ủy thác cho các trợ lý trong một cuộc kiểmtoán; những qui chế, các bước công việc mà một công ty kiểm toán cần thiết lập để đảm bảo chấtlượng kiểm toán như :

- Giao việc: công việc kiểm toán phải được giao cho kiểm toán viên có đầy đủ năng lực

và tŕnh độ; kiểm toán viên phải xem xét kỹ năng và trình độ của các trợ lý trong quátŕnh làm việc để xác định phạm vi hướng dẫn, giám sát và soát xét lại

- Hướng dẫn: những trợ lý được giao việc đều phải được hướng dẫn cặn kẽ Việchướng dẫn bao gồm: thông báo cho họ về trách nhiệm, mục đích, các bước công việccần thực hiện và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, những vấn đề cần lưu ý khithực hiện công việc kiểm toán

- Giám sát: trong quá tŕnh thực hiện cuộc kiểm toán cán bộ phụ trách giám sát nhằmbảo đảm rằng: các trợ lý tỏ ra có đầy đủ kỹ năng, tŕnh độ nghiệp vụ để thực hiện côngviệc mà mình được giao; các trợ lý hiểu rõ các hướng dẫn kiểm toán Tiến hành giảiquyết sự khác nhau về mặt xét đoán nghiệp vụ giữa các cán bộ cùng tham gia cuộckiểm toán

- Soát xét lại: các phần việc do các trợ lý thực hiện cần phải được người thứ hai cótrình độ tương đương hoặc cao hơn soát xét lại Trong một cuộc kiểm toán có thể xácđịnh các giai đoạn soát xét chính sau: Soát xét kế hoạch kiểm toán và chương trình

Trang 23

kiểm toán ban đầu; Soát xét việc nghiên cứu và đánh giá các quy chế kiểm soát nội bộ

kể cả các phương pháp tuân thủ; Soát xét các bằng chứng kiểm toán đă thu thập được

và các kết luận rút ra từ bằng chứng này; Soát xét báo cáo tài chính và dự thảo báocáo kiểm toán

1.2 Giai đoạn 2: 1994

Đến năm 1994, IAPC đă sửa đổi các nguyên tắc thực hành kiểm toán quốc tế và ban hành chuẩnmực kiểm toán quốc tế số 220 (ISA 220 - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán)

1.3 Giai đoạn 3: 2001 và sau sự kiện Enron

Cuối thế kỷ 20, quá tŕnh toàn cầu hóa và sự phát triển thị trường tài chính quốc tế đă làm tăngnhu cầu thông tin phục vụ cho các nhà đầu tư Sự phát triển của công nghệ thông tin đòi hỏi việckiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các hệ thống và quy tŕnh liên quan đến thông tin.Các thay đổi nàydẫn đến sự h́ình thành hàng loạt nhu cầu xă hội đối với việc nâng cao chất lượng thông tin Cũngtrong thời gian này, sự sụp đổ hàng loạt các công ty hàng đầu trên thế giới như Enron,Worlcom, trong đó có lỗi của công ty kiểm toán Sự sụp đổ và thất bại trong các cuộc kiểmtoán buộc nghề nghiệp phải xem xét lại các chuẩn mực đă được ban hành

Vào năm 2002, IFAC ban hành chuẩn mực về dịch vụ đảm bảo có tên là ISAE100 Tầm quantrọng của dịch vụ đảm bảo được thể hiện thông qua việc Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế(IAPC) đổi tên thành Ủy ban quốc tế về chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ đảm bảo (IAASB).Trong cấu trúc các chuẩn mực ban hành bởi IAASB, chuẩn mực kiểm soát chất lượng quốc tế(ISCQ) được áp dụng cho tất cả các dịch vụ nằm trong phạm vi quy định bởi IAASB và chuẩnmực ISA 220 “Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán áp dụng cho kiểm toán các thông tintài chính lịch sử”

Năm 2009, ban hành chuẩn mực ISA 220 “ Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán Báo cáotài chính” Chuẩn mực có hiệu lực cho kiểm toán báo cáo tài chính bắt đầu và sau ngày 15 tháng

12 năm 2009

Trang 24

2 Các nghiên cứu có liên quan

SỰ QUẢN LÝ CỦA HIỆP HỘI NGHỀ NGHIỆP VỀ ĐÁNH GIÁ VIỆC THIẾT KẾ VÀ THỰC HIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN:

VACPA đánh giá cao chất lượng hoạt động của VP AUDIT

Ngày 29 và 30/10/2010 đoàn kiểm tra của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam(VACPA) do bà Phùng Thị Đoan – Trưởng Văn phòng VACPA Hà Nội làm trưởng đoàn đã tiếnhành kiểm tra toàn diện hoạt động của VP AUDIT

Đoàn công tác đã kiểm tra, đánh giá việc thiết kế và thực hiện hệ thống kiểm soát chấtlượng của Công ty bao gồm:

- Kiểm tra, đánh giá về tổ chức và cách thức điều hành của Công ty trong quản lý nhânviên và quản lý khách hàng;

- Kiểm tra danh sách kiểm toán viên đăng ký hành nghề và thực tế hành nghề tại Công ty;

- Kiểm tra chọn mẫu một số hồ sơ cung cấp dịch vụ kiểm toán trong các năm 2008, 2009, 2010(đến thời điểm 30/6/2010)

Kết quả kiểm tra cho thấy VP AUDIT đã chấp hành rất tốt mọi qui định của pháp luật trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn, tạo ra được môi trường làm việc hiện đại, văn minh, chất lượng dịch vụ tốt và đồng đều Đánh giá tại buổi họp thông qua kết quả kiểm tra, bà Phùng Thị Đoan đã phát biểu rằng bà rất bất ngờ với những kết quả đạt được của VP AUDIT và mong muốn VP AUDIT sẽ tiếp tục giữ vững và phát huy những thành quả đã đạt được để không ngừngphát triển vững mạnh

Trang 25

- Công ty đã xây dựng được hệ thống các quy chế nội bộ tương đối đầy đủ và chi tiết

Hồ sơ nhân sự được lưu trữ khoa học Tuy nhiên còn thiếu một số phiếu đánh giá nhân viên

Công ty đã nghiên cứu và tự xây dựng được Hồ sơ kiểm toán mẫu với chương trình khá đầy đủ

biểu mẫu chi tiết Các mẫu giấy tờ làm việc (WP) thống nhất và được thiết kế giống nhau cho

tất cả các phần hành kiểm toán Có ban hành các mẫu Báo cáo kiểm toán File kiểm toán được

lưu trữ đầy đủ, gọn gàng

- Hệ thống kiểm soát chất lượng tốt

- Qua kiểm tra chọn mẫu các hồ sơ kiểm toán, Đoàn kiểm tra nhận thấy chất lượng hồ sơ

kiểm toán là đồng đều, điểm bình quân các hồ sơ được xếp loại là “Tốt” Hồ sơ kiểm toán đã

thể hiện đầy đủ bút tích, ngày tháng soát xét của các cấp Công ty có thực hiện thủ tục gửi thư

xác nhận nhưng chỉ lưu bản copy mà chưa lưu bản gốc Các thủ tục kiểm toán đối với một số

khách hàng là quá chi tiết, chương trình kiểm toán khá là dài, nhiều khi không cần thiết

Ban giám đốc đều là những cán bộ có nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp.”

-Tổng hợp kết quả kiểm tra của 20 Công ty kiểm toán được kiểm tra trong năm 2010:

Đạt yêu cầu (từ 60 điểm đến

dưới 80 điểm)

10 50 ASC, ATIC, AA, IAC, CPA Việt Nam, An Phú,

PKF, AVA, Âu Lạc, KSIChưa đạt yêu cầu (từ 40 điểm

đến dưới 60 điểm)

Trang 26

1.Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Doanh nghiệp KTC

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng kiểm toán

Có thể thấy chất lượng kiểm toán bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:

 Mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đốitượng sử dụng dịch vụ kiểm toán

 Mức độ thoả mãn về những đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả côngtác quản lý tài chính của đơn vị được kiểm toán theo đúng chế độ chính sách của nhànước cũng như các qui định riêng của đơn vị

 Báo cáo kiểm toán được phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong hợp đồng kiểm toán

và chi phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp

(a) Mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những người sử dụng kết quả kiểm toán

Tính khách quan, độc lập của kiểm toán viên là điều kiện trước hết để đảm bảo ý nghĩa vàgiá trị sử dụng của dịch vụ kiểm toán độc lập Ý kiến kiểm toán đưa ra không làm tăng thêmlượng thông tin cho nhưng người sử dụng kết quả kiểm toán mà chỉ đảm bảo cho những đốitượng này về tính trung thực hợp lý của các báo cáo tài chính mà họ được cung cấp Sự đảm bảonày được chấp nhận và có giá trị bởi: (i) ý kiến kiểm toán được đưa ra bởi chuyên gia kiểm toán

có đủ năng lực, trình độ chuyên môn; (ii) tính độc lập, khách quan của ý kiến kiểm toán Nhữngngười sử dụng kết quả kiểm toán chỉ thật sự hài lòng và thoả mãn khi họ tin tưởng rằng ý kiếnkiểm toán đưa ra dựa trên các cơ sở đó Để đánh giá được chỉ tiêu này, người ta xem xét tínhtuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp của kiểm toán viên và của công ty kiểm toán, điều này thểhiện khá rõ qua tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên trong quá trình thực hiện công việc kiểmtoán Việc đánh giá đó cần bao quát các khía cạnh sau:

- Đảm bảo tính độc lập, khách quan và chính trực

- Kiến thức, kỹ năng kinh nhiệm của kiểm toán viên

- Các phương pháp thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán

- Công tác giám sát, quản lý cuộc kiểm toán

- Các thủ tục soát xét, phát hành báo cáo kiểm toán

Trang 27

- Các khía cạnh khác

(b) Mức độ thoả mãn về sự đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của đơn vị được kiểm toán theo đúng chế độ chính sách của nhà nước cũng như các qui định riêng của đơn vị.

Mục tiêu chính của kiểm toán độc lập báo cáo tài chính là đưa ra ý kiến độc lập về tínhtrung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính Do vậy ở chỉ tiêu thứ nhất là thể hiện sự thoả mãn

về tính khách quan, độc lập và tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những người sử dụng kết quảkiểm toán thì ở chỉ tiêu này lại là sự thoả mãn của đơn vị được kiểm toán về giá trị gia tăng màkiểm toán viên có thể cung cấp cho đơn vị Đối với các nhà quản lý đơn vị được kiểm toán, việcphát hiện và ngăn ngừa các sai sót trong quản lý tài chính, kế toán không phải lúc nào cũng hoànhoản và kiểm soát được toàn bộ Do vậy báo cáo tài chính do đơn vị lập nên vẫn có thể có nhữngsai sót trọng yếu do những hạn chế trong hệ thống kiểm soát của đơn vị Trách nhiệm của cáckiểm toán viên là phải đảm bảo rằng báo cáo tài chính đó không có sai sót trọng yếu, và nếu cókiểm toán cần chỉ ra những sai sót đó để đơn vị sửa chữa và điều chỉnh hoặc là cơ sơ cho việckhông đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần Đó chính là cơ sở để các nhà quản lý đơn vị tin tưởng

và đặt hy vọng vào những phát hiện và những kiến nghị đóng góp của kiểm toán viên theo đó cóthể sửa đổi và đảm bảo rằng báo cáo tài chính của họ là trung thực và hợp lý Hơn nữa, thôngqua những phát hiện và kiến nghị đóng góp của kiểm toán viên các nhà quản lý đơn vị có thểhoàn thiện hệ thống kiểm soát của mình và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính kế toán của đơnvị

Mức độ thoả mãn của các nhà quản lý đơn vị đối với những đóng góp của kiểm toán không

cụ thể hoá được bằng số lượng bởi có thể có hoặc có thể không có các phát hiện và kiến ghị góp

ý hoàn thiện hệ thống kiểm soát của đơn vị mà chỉ có thể đánh giá ở sự hài lòng và đánh giá caocủa các nhà quản lý doanh nghiệp về tính chuyên nghiệp và trách nhiệm của kiểm toán viêntrong quá trình kiểm toán

(c) Báo cáo kiểm toán được lập và phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong thư hẹn kiểm toán và chí phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp.

Một trong các yêu cầu của thông tin tài chính là tính kịp thời, các thông tin không đượccung cấp đúng lúc sẽ trở nên không có giá trị sử dụng, đồng thời có thể gây nhiều khó khăn trong

Trang 28

việc đưa ra các quyết định quản lý hoặc bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh Mặc dù kiểm toán khôngphải là kênh cung cấp thông riêng biệt, nhưng nó là một khâu thẩm định trong hệ thống cung cấpthông tin Các thông tin tài chính do đơn vị lập và được các kiểm toán viên, công ty kiểm toánkiểm tra và đưa ra ký kiến về tính trung thực hợp lý của các thông tin này trước khi chuyển chonhững người sử dụng Do vậy mọi chậm trễ trong quá trình kiểm toán do nguyên nhân của việc

tổ chức, giám sát quản lý cuộc kiểm toán thiếu hiệu quả hoặc bất cứ lý do gì khác từ phía công tykiểm toán dẫn đến sự chậm trễ không theo đúng kế hoạch đặt ra trong hợp đồng kiểm toán/ hayThư hẹn kiểm toán đều làm ảnh hưởng đến uy tín và giá trị của dịch vụ của công ty kiểm toán

Về giá phí kiểm toán, đây cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng kiểm toán Ở chỉtiêu thứ nhất và thứ hai nói lên tính chất kỹ thuật của dịch vụ, nó đánh giá mức độ thoả mãn nhucầu của những người sử dụng kết quả của dịch vụ kiểm toán về sự đảm bảo cho tính trung thực,hợp lý của các báo cáo tài chính mà họ được cung cấp cũng như lượng những ý kiến tư vấn nhằmhoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán Trong nền kinh tế thị trườngđặc biệt là hoạt động kiểm toán độc lập, việc quan tâm đến lợi ích của đơn vị được kiểm toán hếtsức quan trọng, đó chính là yếu tố kinh tế xã hội của dịch vụ Yếu tố này yêu cầu công ty kiểmtoán không những phải đảm bảo nhu cầu có được ý kiến độc lập của kiểm toán viên về tính trungthực của báo cáo tài chính mà cả giá của nhu cầu cũng được thoả mãn Phí dịch vụ kiểm toán xácđịnh trên cơ sở thời gian cần thiết để các kiểm toán viên thực hiện công việc kiểm toán và đơngiá giờ công làm việc của kiểm toán viên Ngoại trừ những ảnh hưởng của yếu tố đơn giá giờcông làm việc của kiểm toán viên và sự hợp tác của đơn vị được kiểm toán với các kiểm toánviên trong quá trình kiểm toán thì việc xác định và giảm thiểu thời gian kiểm toán mà vẫn đảmbảo thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp sẽ là điều kiện để giảm thiểu giádịch vụ cho khách hàng Đó chính là sự thể hiện và là một trong các chỉ tiêu đánh giá chất lượngkiểm toán

Chất lượng là khái niệm tương đối, biến đổi theo thời gian, không gian, theo sự phát triểncủa nhu cầu xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Ở nước ta, kiểm toán độc lập hình thành

và phát triển chưa lâu, hành lang pháp lý đang từng bước hoàn thiện (các chuẩn mực kiểm toán

đã và đang tiếp tục được nghiên cứu và công bố), và sự hiểu biết về kiểm toán của các đơn vịđược kiểm toán còn hạn chế Do vậy sự đánh giá về chất lượng kiểm toán vẫn còn nhiều bất cập

và thiếu cơ sở theo đó lý luận về chất lượng kiểm toán cần tiếp tục nâng cao và hoàn thiện

Ngày đăng: 02/03/2013, 11:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức - VSA dự thảo vs hiện hành
Hình th ức (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w