Nếu ta biết phân biệt 12 kinh của Âm Dương, ta sẽ biết được sinh ra nơi đâu[8]; Nếu ta có thể nắm được sự biểu hiện hư thực tại nơi nào, ta sẽ biết được bệnh xảy ra ở trên cao hay dưới t
Trang 1SÁCH LINH KHU
THIÊN 52: VỆ KHÍ
Hoàng Đế hỏi: "Ngũ tạng là nơi tàng giữ tinh, thần, hồn, phách[1],
Lục phủ là nơi thọ nhận thủy cốc để hóa, để thành thức ăn[2] Khí của nó
bên trong dưỡng ngũ tạng, bên ngoài liên lạc với các chi và các tiết[3] Khí
nào phù mà không vận hành theo các kinh thuộc về vệ khí[4], khí tinh thì
vận hành trong các kinh thuộc về doanh khí[5] Thế là Âm Dương tùy vào
nhau, trong và ngoài cùng quán xuyến nhau như chiếc vòng ngọc không có
đầu mối, như dòng nước trôi chảy qua nhiều bến bờ nhưng rất êm xuôi,
không làm gì cho cũng được[6] Tuy nhiên sự phân biệt Âm Dương, tất cả
đều phải theo tiêu bản, hư thực nơi nó tách rời nhau[7] Nếu ta biết phân biệt
12 kinh của Âm Dương, ta sẽ biết được sinh ra nơi đâu[8]; Nếu ta có thể
nắm được sự biểu hiện hư thực tại nơi nào, ta sẽ biết được bệnh xảy ra ở trên
cao hay dưới thấp[9]; Nếu ta biết được những con đường khí nhai của lục
phủ, ta có thể giải được những kết tụ, biết được lẽ tương hợp và kế tiếp nhau
nơi cánh cửa của sự sống[10]; Nếu ta biết được sự cứng mềm của hư thực, ta
Trang 2sẽ biết được phải bổ tả nơi nào[11]; Nếu ta biết được tiêu bản của lục kinh,
ta sẽ không còn bị mê hoặc bởi người trong thiên hạ”[12]
Kỳ Bá đáp : "Ôi ! To rộng thay lời luận bàn của bậc Thánh đế, Thần
xin nói cho hết ý của mình[13] Bản của kinh túc Thái dương nằm ở trên gót
chân 5 thốn, tiêu của nó nằm ở vùng 2 lạc thuộc mệnh môn, mệnh môn đây
là nơi đôi mắt[14] Bản của kinh túc Thiếu dương nằm trong khoảng huyệt
Khiếu Âm, tiêu của nó nằm ở trước huyệt Song Long, huyệt Song Long ở
vùng tai[15] Bản của kinh túc Thiếu âm nằm ở phía dưới mắt cá trong lên
trên 3 thốn, tiêu của nó nằm ở huyệt bối du và ở phía dưới lưỡi nơi có 2
mạch[16] Bản của kinh túc Quyết âm nằm ở nơi huyệt Hành Gian lên trên 5
thốn, tiêu của nó nằm ở huyệt bối du[17] Bản của kinh túc Dương minh
nằm ở huyệt Lệ Đoài, tiêu của nó nằm ở huyệt Nhân Nghênh, tức bên dưới
má cạnh vùng kết hầu[18] Bản của kinh túc Thái âm nằm ở trước huyệt
Trung Phong lên trên 4 thốn, tiêu của nó nằm ở huyệt bối du và cuống
lưỡi[19] Bản của kinh thủ Thái dương nằm ở phía sau mắt cá ngoài của tay,
tiêu của nó nằm ở phía trên mệnh môn (mắt) 1 thốn[20] Bản của kinh thủ
Thiếu dương nằm ở trong khoảng của ngón út và ngón áp út lên trên 2 thốn,
tiêu của nó nằm ở bên ngoài của góc trên phía sau tai, nơi phía mắt
ngoài[21] Bản của kinh thủ Dương minh nằm ở xương khủy tay, lên đến
vùng biệt Dương, tiêu ở tại dưới góc trán, kẹp giữa 2 tai[22] Bản của kinh
Trang 3thủ Thái âm nằm ở giữa huyệt Thốn khẩu, tiêu ở tại động mạch trong
nách[23] Bản của kinh thủ Thiếu âm nằm ở đầu xương nhọn cổ tay, tiêu ở
tại huyệt bối du[24] Bản của kinh thủ Tâm chủ nằm ở trong khoảng giữa 2
đường gân phía sau bàn tay 2 thốn, tiêu ở tại dưới nách xuống 3 thốn[25]
Phàm tất cả được biểu hiện của những kinh trên, nếu phía dưới bị hư thì bị
chứng choáng váng, phía trên bị thịnh thì bị nhiệt mà đau[26] Nếu bị thực
(thạch) (có thể dùng phép tả) để giải bớt cái kết ngưng được bệnh, nếu bị hư
thì có thể dùng phép bổ để dẫn đạo cho chân khí phấn chấn (không còn suy
nữa)[27] Thần xin nói thêm về khí “nhai”, khí ở đầu có “nhai”, khí ở cẳng
chân có “nhai”, cho nên khí ở đầu bị thực hay hư nên trị dứt ở não[28], nếu
khí ở ngực bị thực hay hư nên trị dứt ở vùng bối du và các vùng động mạch
nằm 2 bên rốn[29], nếu khí ở cẳng chân bị thực hay hư nên trị dứt ở huyệt
Khí Nhai và huyệt Thừa Sơn và vùng trên dưới mắt cá[30] Khi thủ các
huyệt này, nên dùng hào châm, trước hết nên án vào nơi huyệt rất lâu, chừng
nào mạch khí ứng với tay mới châm vào[31] Nó trị các chứng đầu đau,
choáng váng, té nhào, bụng đau, vùng Trung tiêu bị đầy, trướng lên dữ dội,
nếu như các chứng tích khí mới có, đau nhưng có dời chỗ thì dễ khỏi, nếu
tích khí mà không đau thì khó khỏi”[32]
Trang 4THIÊN 53: LUẬN THỐNG
Hoàng Đế hỏi Thiếu Du: "Sự cường hay nhược của cân và cốt, sự
cứng mềm của cơ nhục, sự dày mỏng của bì phu, sự kín đáo và thưa rỗng
của tấu lý (trong thân thể của con người), tất cả đều không đồng nhau, như
vậy đối với sự cảm nhận và vấn đề đau nhức đối với việc châm bằng đá và
mồi ngải cứu sẽ thế nào ?[1] Sự dày và mỏng, cứng và mềm của Trường Vị
cũng không đồng nhau, như vậy đối với sự chịu đựng về tác dụng của độc
dược sẽ thế nào ? Ta mong được nghe về tất cả những thắc mắc nói trên”[2]
Thiếu Du đáp: “Có 1 số người, xương của họ cứng, gân của họ mềm,
thịt của họ mềm mại, bì phu dày, họ có thể chịu được sự đau nhức, và do đó,
họ cũng có thể chịu đựng được sự thống cảm do châm và cứu gây nên”[3]
Hoàng Đế hỏi: "Làm thế nào có thể biết được số người nào đó chịu
đựng được sự thống cảm do cứu đốt gây ra ?”[4]
Thiếu Du đáp: “Nếu có người thân thể cường tráng, thêm vào đó, họ
có bì phu mầu đen, xương cốt rắn đẹp, họ có thể chịu được sự thống cảm của
sự cứu đốt”[5]
Trang 5Hoàng Đế hỏi: "Làm thế nào có thể biết được số người nào đó không
chịu đựng được sự thống cảm do châm thích gây ra ?”[6]
Thiếu Du đáp: “Người nào cơ nhục rắn chắc mà bì phu mỏng, đa số
họ không chịu đựng được sự thống cảm của sự châm thích, do đó đối với sự
thống cảm của việc cứu đốt, họ cũng không chịu được”[7]
Hoàng Đế hỏi: "Có những người đồng thời bị bệnh, nhưng có người
thì dễ khỏi, có người lại khó khỏi, nguyên nhân nào khiến như thế ?”[8]
Thiếu Du đáp: “Nếu có những người đồng thời bị bệnh, người nào
thân thể thường bị nhiệt thì chóng khỏi, còn người nào thân thể thường bị
hàn thì khó (và lâu) khỏi”[9]
Hoàng Đế hỏi: "Làm thế nào có thể biết người nào chịu đựng được sự
tấn công của độc dược ?”[10]
Thiếu Du đáp: “Khi nào Vị dầy, làn da đen, xương to, thân hình mập
béo, những người này có thể chịu đựng được sự tấn công của các dược vật
có độc tính[11] Do đó, ta cũng biết được rằng những người thân hình gầy
ốm, Vị mỏng, họ đều không thể chịu đựng được sự tấn công của các dược
vật có độc tính”[12]