Chỉ là tên cây, xác là vỏ.. Vì quả chín ruột quắt chỉ còn vỏ với xơ nên gọi là Chỉ Xác.. Mô tả: Chỉ xác cũng giống như Chỉ thực, Chỉ thực dùng quả non, còn Chỉ xác là quả hái vào lúc gần
Trang 1CHỈ XÁC (Kỳ 2)
TÌM HIỂU SÂU THÊM VỀ CHỈ XÁC
Tên gọi:
Trang 2Chỉ là tên cây, xác là vỏ Vì quả chín ruột quắt chỉ còn vỏ với xơ nên gọi là Chỉ Xác
Tên khoa học:
Fructus citri Aurantii
Họ khoa học:
Thuộc họ Cam (Rutaceae)
Mô tả:
Chỉ xác cũng giống như Chỉ thực, Chỉ thực dùng quả non, còn Chỉ xác
là quả hái vào lúc gần chín, thường bổ đôi để phơi cho mau khô Chỉ xác to hơn Chỉ thực và thường được bổ đôi (Xem: Chỉ thực)
Phân biệt:
+ Chỉ thực và Chỉ xác đều là quả phơi khô của hơn 10 cây của chi Citrus
và Poncirus học Cam (Rutaceae) nhưng thu hái ở hai thời kỳ khác nhau Chưa xác định được tên chính xác Ở Trung Quốc còn dùng Chỉ thực hoặc Chỉ xác với nhiều cây khác nhau như cây Câu kết, Chỉ (Poncirus trifolia Raf), cây Hương viên (Citrus wilsonii Tanaka), cây Toàn đăng hay Câu đầu đăng, Bì đầu
Trang 3đăng (Citrus aurantium L) cây Đại đại hoa (Citrus aurantium L Var Amara Engl) Có nơi còn dùng quả Bưởi non (Citrus grandis Osbeck) bổ đôi, phơi khô
để làm Chỉ thực và Chỉ xác
+ Có nơi dùng quả bưởi non (Citrus grandis ocbeck) bổ đôi, phơi khô làm Chỉ xác
+ Chỉ xác gồm các quả bổ đôi, đường kính 2-3cm (hoặc bổ tư) Vỏ ngoài có màu nâu vàng, có vết tích của cuống quả hoặc vết tích của vòi nhụy Mặt cắt ngang có một vòng vỏ quả ngoài mỏng màu nâu, sắt vỏ có một vòng túi tinh dầu lỗ chỗ, lớp cùi trắng ngà, dày khoảng tử 3-4mm quăn ra phía ngoài, giữa là ruột màu nâu nhạt, có các múi hình tía nan hoa bánh xe, khô xốp có lỏi cứng Chất cứng chắc, mùi thơm nhạt, vị đắng cay Ruột hơi chua chát (so sánh với: Chỉ thực)
+ Chỉ xác và Chỉ thực giống nhau, nhưng sức mạnh của Chỉ xác yếu hơn
Địa lý:
Có nhiều ở phía Bắc Việt Nam
Phần dùng làm thuốc:
Trang 4Quả chín
Thu hái, sơ chế:
Chọn vào tháng 9-10, hái những trái gần chín, phơi khô lúc trời khô ráo hoặc hái quả xanh có đường kính 3-5cm bổ ngang làm đôi phơi khô
Bào chế:
Đem thấm nước cho mềm, bỏ xác múi và hạt ở trong đi rồi xắt mỏng phơi khô trộn sao với nếp hoặc cám cho tới khi gạo vàng hoặc cám gần cháy đen rồi bỏ đi, lấy Chỉ xác, Chỉ xác để lâu càng tốt
Bảo quản:
Để nơi khô ráo, tránh ẩm
Thành phần hóa học:
+ Hesperidin, Neohesperidin, Naringin (R F Albach và cộng sự, Phytochemistry 1969, 8 (1): 127)
+ Synephrine, N-Methyltyramine (Hà Triều Thanh, Trung Dược Chí
1981, 12 (8): 345)
Trang 5+ Vỏ quả chứa chất dầu 0,469%, trong đó có a-Pinene, Limonene, Camphene, g-Terpinene, p-Cymene, Caryophyllene (Nobile Luciano và cộng
sự, C A 1969, 70: 31620b)