Các tác phẩm của ông như "Thanh hiên thi tập","Nam trung tạp ngâm","Bắc hành tạp lục"chữ Hánvà đặc biệt là Truyện Kiều chan chứa nỗi đau nhân thế,mang khát vọng hạnh phúc, tình yêu,tự do
Trang 1TruyÖn KiÒu- NguyÔn Du
I T¸c gi¶ NguyÔn Du
I Giới thiệu tác giả
Nguyễn Du: (1765-1820)
- Tên chữ: Tố Như
- Tên hiệu: Thanh Hiên
- Quê: Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh
"Nửa đêm qua huyện Nghi XuânBâng khuâng nhớ cụ,thương thân nàng Kiều…
Hỡi lòng tê tái thương yêu
Giữa dòng trong đục,cánh bèo lênh đênh "
Nguyễn Du sinh ngày 03 tháng 01 năm 1766 tức ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu-Ông mất 1820,quê làng Tiên Điền,huyện Nghi Xuân,phủ Đức Quang,trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh),nhưng sinh ra ở quê mẹ- làng Kim Thiều,xã Hương Mặc,huyện Từ Sơn,tỉnh Bắc Ninh
và trải qua thời thơ ấu ở Thăng Long.Ông thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt:cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm làm tới tể tướng dưới triều Lê;mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người xứ Kinh Bắc (Nguyễn Nghiễm có 8 vợ,21 người con).Anh khác
mẹ (con bà chính)của ông là Toản Quận Công Nguyễn Khản làm tới Tham Tụng,Thái Bảo trong triều.Bố vợ là Đoàn Nguyễn Thục, cũng đỗ Hoàng Giáp,làm quan Đông các.Do là con thứ bảy nên Nguyễn Du còn được gọi là cậu Chiêu Bảy Các tác phẩm của ông như "Thanh hiên thi tập","Nam trung tạp ngâm","Bắc hành tạp lục"(chữ Hán)và đặc biệt là Truyện Kiều chan chứa nỗi đau nhân thế,mang khát vọng hạnh phúc, tình yêu,tự do và công lý đồng thời
tố cáo sâu sắc sự tàn bạo của chế độ phong kiến.Truyện Kiều,đỉnh cao của nền thi ca Việt Nam,chứa đựng những tư tưởng nhân văn lớn, đạt tới sự hoàn mỹ về nghệ thuật ngôn từ Ông được xem như là một nhà thơ lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay,người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thi hào dân tộc".Năm 1965,ông được UNESCO tôn vinh là danh nhân văn
hóa thế giới
1 Gia đình
- Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng, có tiếng là giỏi văn chương
- Mẹ là Trần Thị Tần, một người đẹp nổi tiếng ở Kinh Bắc (Bắc Ninh- đất quan họ)
- Các anh đều học giỏi, đỗ đạt, làm quan to, trong đó có Nguyễn Khản (cùng cha khác
mẹ) làm quan thượng thư dưới triều Lê Trịnh, giỏi thơ phú.
Gia đình: đại quý tộc, nhiều đời làm quan, có truyền thống văn chương
Ông thừa hưởng sự giàu sang phú quý có điều kiện học hành - đặc biệt thừa hưởng truyền thống văn chương
2 Thời đại
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỉ XIX, đây là thời kỳ lịch sử có những biến động dữ dội
- Chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, giai cấp thống trị thối nát, tham lam, tàn bạo, các tập đoàn phong kiến (Lê- Trịnh; Trịnh - Nguyễn) chếm giết lẫn nhau
- Nông dân nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn
Trang 2Tác động tới tình cảm, nhận thức của tác giả, ông hướng ngòi bút vào hiện thực.
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
+ Từ một cậu ấm cao sang, thế gia vọng tộc, từ một viên quan nhỏ đầy lòng hăng hái phải rơi vào tình cảnh sống nhờ Muời năm ấy, tâm trạng Nguyễn Du vừa ngơ ngác vừa buồn chán, hoang mang, bi phẫn
+ Khi Tây Sơn tấn công ra Bắc (1786), ông phò Lê chống lại Tây Sơn nhưng không
thành
+ Năm 1796, định vào Nam theo Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn nhưng bị bắt giam 3 tháng rồi thả
+ Từ năm 1796 đến năm 1802, ông ở ẩn tại quê nhà
+ Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi Trọng Nguyễn Du có tài, Nguyễn Ánh mời ông ra làm quan Từ chối không được, bất đắc dĩ ông ra làm quan cho triều Nguyễn
+ 1802: Làm quan tri huyện Bắc Hà
+ 1805-1808: làm quan ở Kinh Đô Huế
- Là người có trái tim giàu lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc với những người nghèo khổ, với những đau khổ của nhân dân
Tác giả Mộng Liên Đường trong lời tựa Truyện Kiều đã viết: “Lời văn tả ra hình như
máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn đến dứt ruột Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh cũng hệt, đàm tình đã thiết Nếu không phải con mắt trong thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy”
Kết luận: Từ gia đình, thời đại, cuộc đời đã kết tinh ở Nguyễn Du một thiên tài kiệt xuất Với sự nghiệp văn học có giá trị lớn, ông là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là danh nhân văn hoá thế giới, có đóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam
Trang 3Nguyễn Du là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, là ngôi sao chói lọi nhất trong nền văn học cổ Việt Nam.
Những tác phẩm chính:
Tác phẩm chữ Hán:
- Thanh Hiên thi tập (1787-1801)
- Nam Trung tập ngâm (1805-1812)
- Dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung quốc)
nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là rất lớn
- Lúc đầu có tên: “Đoạn trường Tân Thanh”, sau đổi thành “Truyện Kiều”
Kết luận: Là tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Nôm
+ Tước bỏ yếu tố dung tục, giữ lại cốt truyện và nhân vật
+ Sáng tạo về nghệ thuật: Nghệ thuật tự sự, kể chuyện bằng thơ
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc
+ Tả cảnh thiên nhiên
* Thời điểm sáng tác:
- Viết vào đầu thế kỷ XIX (1805-1809)
- Gồm 3254 câu thơ lục bát
- Xuất bản 23 lần bằng chữ Nôm, gần 80 lần bằng chữ quốc ngữ
- Bản Nôm đầu tiên do Phạm Quý Thích khắc trên ván, in ở Hà Nội
- Năm 1871 bản cổ nhất còn được lưu trữ tại thư viện Trường Sinh ngữ Đông - Pháp
- Dịch ra 20 thứ tiếng, xuất bản ở 19 nước trên toàn thế giới
- Năm 1965: kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du, Truyện Kiều được xuất bản bằng
chữ Tiệp, Nhật, Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Ba Lan, Hunggari, Rumani, CuBa, Anbani, Bungari, Campuchia, Miến Điện, Ý, Angieri, Ả rập,…
* Đại ý:
Truyện Kiều là một bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo; là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án những thế lực xấu xa và khẳng định tài năng, phẩm chất, thể hiện khát vọng chân chính của con người
Trang 4Phần 2:
+ Gia biến lưu lạc
+ Bán mình cứu cha
+ Vào tay họ Mã
+ Mắc mưu Sở Khanh, vào lầu xanh lần 1
+ Gặp gỡ làm vợ Thúc Sinh bị Hoạn Thư đầy đoạ
+ Vào lầu xanh lần 2, gặp gỡ Từ Hải
+ Mắc lừa Hồ Tôn Hiến
a) Giá trị nội dung:
* Giá trị hiện thực: Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội phong kiến bất công tàn bạo
* Giá trị nhân đạo: Truyện Kiều là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người,khẳng định và đề cao tài năng nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người
b) Giá trị nghệ thuật:
- Ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đạt tới đỉnh cao rực rỡ
- Nghệ thuật tự sự có bước phát triển vượt bậc từ nghệ thuật dẫn chuyện đến miêu tả thiên nhiên con người
Truyện Kiều là một kiệt tác đạt được thành tựu lớn về nhiều mặt, nổi bật là ngôn ngữ và
thể loại
CHỊ EM THUÝ KIỀU
(Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Trang 5I.Tỡm hiểu chung về văn bản
1 Vị trớ đoạn trớch
Đoạn trớch nằm ở phần đầu của tỏc phẩm Truyện Kiều :P 1 “Gặp gỡ và đớnh ước”
3 Bố cục
Đoạn trớch cú thể chia làm 3 phần
- Bốn cõu đầu: Vẻ đẹp chung của chị em Võn - Kiều
- Bốn cõu tiếp theo: Vẻ đẹp của Thuý Võn
- Mười hai cõu cũn lại: Vẻ đẹp và tài năng của Thuý Kiều
II Đọc, tỡm hiểu văn bản
1 Vẻ đẹp chung chị em Thuý Kiều.
Mở đầu đoạn trích Nguyễn Du giới thiệu vị thứ trong gia đình “Thuý Kiều là chị
em là Thuý Vân” Là con đầu lòng của ông bà vơng viên ngoại
“Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân”
Ngời cha xuất hiện nhng ánh sáng và hơng thơm đã tràn ngập câu thơ “tố nga” Vẻ dẹp hoàn chỉnh, đỉnh cao chốn thần tiên Câu thơ tạo 1 sức hút lạ để rồi giai nhân xuất hiện
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
và cả 2 đều hoàn mĩ “Mỗi ngời một vẻ mời phân vẻn mời” Đó là vẻ đẹp “tinh thần” trong tổng hào của cốt cách cả hình thức lẫn tâm hồn “nội dung” Đây chính là cái thần bức chân dung thiếu nữ Bằng bút pháp so sánh, ớc lệ vẻ đẹp về hình dáng và vẻ đẹp về tâm hồn của chị em Thuý Kiều toàn mĩ đáng quý nh viên ngọc kg tì vết
2 Vẻ đẹp của Thuý Vân (4 câu tiếp).
Nhan sắc của Thuý Vân bắt đầu bằng giọng kể vừa khách quan vừa nh trò chuyện
Từ “xem” là câu kể để lại dấu ấn chủ quan của ngời viết Tác giả đã dành cho ngời em niềm u ái Một vẻ đẹp rõ ràng, quý phái của con ngời thuộc hàng “Trâm anh thế kiệt”, đài các Nhan sắc của Thuý Vân đến độ “khác vời” đó là cái đẹp khó lòng nói hết Vẫn là bút pháp nghệ thuật truyền thống nhng vẻ đẹp của TV lại hiện lên 1 cách cụ thể
“Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Mây thua nớc tóc tuyết nhờng màu da ”
Từ khuôn trăng, nét ngài, tiếng cời, giọng nói, mái tóc, làn da đều đợc so sánh với tẳng, hoa, ngọc, mây, tuyết Vẻ đẹp TV cứ dần đợc bộc lộ theo thủ pháp ẩn dụ, nhân hoá tài tình của tác giả Cách so sánh của tác giả có điều khác biệt Mây thua, tuyết nhờng Lấy vẻ đẹp thiên nhiên đối chiếu với vẻ đẹp của con ngời Đó là vẻ đẹp tơi trẻ, tràn đầy sức sống, 1 vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang dung hoà giữa nhan sắc và đức hạnh Vẻ đẹp của
TV kg một khiếm khuyết, rạng rỡ và sáng ngời Vẻ đẹp ấy nó lọt giữa đờng biên của cái
“chân” và cái “thiện” Nó trong trẻo nh suối đầu nguồn, nh trângđầu tháng
Trang 6Thiên nhiên nhún nhờng để chào thua và chiêm ngỡng vẻ đẹp của nàng, 1 vẻ đẹp
mà dự báo 1 cuộc đời không bão táp Cái tài của ND là vẫn tuân thủ nghiêm ngặt những công thức của thủơ xa nhng trên nền đó đã vẽ đợc những nét bút tài hoa ít ngời sánh kịp
Đặc biệt là dự báo của bút lực thiên tài
3 Vẻ đẹp của Thuý Kiều (12 câu tiếp)
Tác giả tả vẻ đẹp của Thuý Vân trớc để làm nền tả Thuý Kiều Nếu ND tả TV trong 4 câu thơ thì khi tả TK tác giả dùng đến 12 câu Đó là dụng ý nghệ thuật của tác giả Một vẻ
đẹp vợt trội, vợt chuẩn “càng” phần hơn TV đẹp đằm thắm nhng mà cha tới mức mặn mà, thông tuệ nhng cha phải là sắc sảo
“Làn thu thuỷ nét xuân sơn” Ta thấy có 1 cái gì đấy thật đặc biệt trong đôi mắt cảu TK
Đôi mắt trong nh nớc hồ mùa thu, đôi lông mày đẹp tựa dáng núi mùa xuân Đôi mất là cửa sổ của tâm hồn, sáng long lanh và sâu thăm thẳm Hai từ “làn”, “nét” đã thấy đợc cái
vẻ sắc sảo, khôn ngoan và k/n nhìn xuyên suốt sự vật Đôi mắt ấy là tuyệt đỉnh, làm cho ta phải say mê đắm đuối nh bị chìm sâu vào tận đáy hồ thu ấy Đôi mắt ấy là tuyệt đỉnh nhan sắc hiếm có ở trên đời Vẻ đẹp TK làm cho thiên nhiên đố kị “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh ” ND chỉ điểm xuyết vẻ đẹp của Kiều bằng nghệ thuật so sánh ẩn dụ khiến cho thiên nhiên cũng phải ghen ghét, đố kị “hoa ghen”, “liễu hờn” dự báo cuộc…
đời của Kiều nhiều sang gió, trắc trở
TK không chỉ đẹp về hình thức lẫn nội dung mà còn có tài Nếu nh khi miêu tả Thuý Vân tác giả không nhắc đến tài thì khi miêu tả TK lại đợc miêu tả rất kĩ Kiều là 1 cô gái đa tài mà tài nào cũng đạt đến độ hoàn thiện, xuất chúng
Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.
Cung thơng làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trơng.
Bẩm sinh Kiều vỗn thông minh cho nên các môn nghệ thuật nh thi, hoạ, ca, ngâm nàng đều ở mức điêu luyện : Kiều là 1 cô gái đa tài mà tài nào cũng đạt đến độ hoàn thiện, xuất chúng Đặc biệt ND tập trung ca ngợi tài đàn của Kiều đạt đến đỉnh cao “làu bậc ngũ âm”
Kiều giỏi về âm luật, giỏi đến mức “làu bậc” cây đàn mà nằng chơi là cây đàn “hồ cầm” Không chỉ đàn hay mà còn biết sáng tác âm nhạc, trên khúc đàn của nàng sáng tác
ra là 1 “thiên Bạc mệnh” mà ai nghe cũng sầu não, đau khổ Mặc dù đó chỉ là “Khúc nhà tay lựa” mà thôi Nhng qua đó ta nhận thấy ở TK là 1 con ngời có trái tim đa sầu, đa cảm
Vẻ đẹp tài – sắc của TK là cộng hởng của đất trời sông núi 4 mùa vẻ đẹp duy nhất
mà thợng đế ban tặng Tả sắc và tả tài của TK tác giả muốn chúng ta thêm yêu mến vẻ
Trang 7đẹp tài hoa nghệ thuật & vẻ đẹp tâm hồn nhân ái của Kiều Qua đó ta thấy tình cảm của Nguyễn Du dành cho nhân vật của mình trân trọng, tin yêu.
4 Cuộc sống của hai chị em và đánh giá của tác giả
Nguyễn Du đã trở thành mẫu mực cho sự đóng mở khôn lờng : Mở ra từ đầu lòng 2
ả tố nga cụ thể & đóng lại bằng 4 câu khái quát Bốn câu khái quát tác giả ca ngợi đức hạnh của 2 chị em trong gia đình gia giáo nền nếp Kiều & Vân đều là “khách hồng quần”
đẹp thế, tài thế lại đã tới tuần “cập kê” trong cuộc sống êm đềm trớng rủ màn che Khẳng
định cuộc sống êm ấm của thiếu phụ phòng khuê, càng tăng thêm vẻ đẹp về đức hạnh của
2 nàng
Đoạn trích là 1 trong những đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất trong truyện Kiều
đ-ợc nhiều ngời yêu thích và thuộc Ngôn ngữ thơ tinh luyện, giàu cảm xúc Với cảm hứng
• Khác:
- Tác giả tả Thuý Vân cụ thể từ khuôn mặt, nét mày, màu da, nớc tóc, miệng cời, tiếng nói => để khắc hoạ một Thuý Vân đoan trang thuỳ mị phúc hậu-_ dự báo sô sphận may mắn hạnh phúc
- Thuý Kiều nêu một ấn tợng tổng quát ( sắc sảo mặn mà), đặc tả đôi mắt => Vẻ
đẹp -> dự báo số phận đầy giông tố bất hạnh
2.Viết đoạn văn quy nạp, triển khai câu chủ đề sau: Trích đoạn Chị em Thuý Kiều
đã miêu tả vẻ đẹp đoan trang phúc hậu của TV ( 12 câu có sử dụng lời dẫn trực tiếp)
HS tự làm
3 Từ câu chủ đề sau: Khác với Thuý Vân, Thuý Kiều có vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà cả “
tài lẫn sắc Hãy viết tiếp khoảng 10 câu để hoàn thành đoạn văn theo cách diễn ”
dịch hoặc tổng phân hợp
HS tự làm
4 Cho câu thơ sau: Kiều càng sắc sảo mặn mà
a :Chép chính xác những câu thơ miêu tả tài sắc của TK
b Em hiểu nh thế nào về những hình tợng nghệ thuật: thu thuỷ, xuân sơn, Cách nói Làn thu thuỷ, nét xuân sơn dùng nghệ thuât ẩn dụ hay hoán dụ?
c Khi tả vẻ đẹp của Kiều ND đã dự báo trớc số phận của nàng có đúng không ? ý kiến của em?
5 Một trong những thành công của Nguyễn Du trong đoạn trích Chị em Thuý Kiều
là sử dụng bút pháp ớc lệ để miêu tả nhận vật chính diện.
Trang 8a Thế nào là bút pháp ớc lệ?
- Bút pháp ớc lệ là lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con ngời
- Sử dụng những công thức miêu tả cso sẵn trong quy ớc cảu cộng đồng văn chơng
Nh tả mặt của ngời phụ nữ đẹp: Mặt hoa, mày liễu Tả mùa thu : Giậu cúc vàng, ao sen tàn lạnh …
b Tìm trong đoạn trích và chép lại chính xác hai dòng thơ tả Thuý Vân, hai dòng thơ tả Thuý Kiều có hình ảnh ớc lệ
c Viết đoạn văn ngắn phân tích tài nghệ miêu tả ngoại hình nhân vật của
Nguyễn Du trong đoạn trích này?
Tham khảo phần phân tích nhân vật vân Kiều ở trên
Đề tập làm văn
Đề bài:Phõn tớch đoạn trớch “Chị em Thuý Kiều” để thấy rỏ “Với bỳt phỏp tinh
diệu, Nguyển Du khụng những xõy dựng lờn hai chõn dung “Mỗi người một vẻ mười phõn vẹn mười” mà dường như cũn núi được cả tớnh cỏch, thõn phận toỏt ra từ diện mạo của mỗi vẻ đẹp riờng”
H
ớng dẫn.
Đoạn trớch “Hai chị em Thuý Kiều” nằm ở phần đàu của cõu chuyện Trong đoạn
trớch này, Nguyễn Du tập trung miờu tả hai chõn dung tuyệt mỹ của chị em Thuý Kiều Đằng sau những nột bỳt miờu tả tinh tế và độc đỏo, người đọc cú thể nhận thấy tấm lũng
ưu ỏi, trõn trọng đặc biệt của Nguyễn Du đối với nhõn vật của mỡnh Qua ngũi bỳt của
Nguyễn Du, hai chị em Thuý Kiều đều xinh đẹp, nhưng “mỗi người (tài tỡnh) mỗi vẻ” với
dự bỏo trước số phận, tớnh cỏch, cuộc đời của mỗi nhõn vật, đặc biệt là Thuý Kiều, nhõn vật của truyện
Mở đầu đoạn trớch, Nguyễn Du giới thiệu vẻ đẹp chung về hai chị em với bốn cõu thơ:
“Đầu lũng hai ả tố nga Thuý Kiều là chị, em là Thuý Võn Mai cốt cỏch, tuyết tinh thần
Trang 9Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”
Cả hai chị em đều có vẻ đẹp toàn mỹ, từ hình thức bên ngoài “Mai cốt cách” đến
vẻ đẹp bên trong tâm hồn “Tuyết tinh thần” Vẻ đẹp của Thuý Vân được miêu tả ở bốn
câu thơ tiếp:
“Vân xen trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”
Vẻ đẹp của Thuý Vân được Nguyễn Du miêu tả một cách toàn vẹn từ khuôn mặt, nét ngài, màu da, mái tóc đến tiếng nói, nụ cười và cốt cách Thuý Vân hiện ra qua những hình ảnh, những tính chất ước lệ của văn học cổ trung đại Nguyễn Du tập trung tô đậm
vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang của Thuý Vân Vẫn là cách thức quen thuộc của văn học cổ, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp con người, nhưng bức chân dung của Thuý Vân, qua nét vẻ thân tình của Nguyễn du bổng rở nên sống động là nhờ đã chứa đựng trong đó quan niệm về tài sá của chính nhà thơ Gương mặt xinh đẹp đầy đặn, vẻ đẹp đoan trang phúc hậu của Thuý Vân-một vẻ đẹp và thiên nhiên sẵn lòng nhường nhịn
“Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”-như dự báo trước một cuộc đời, một số phận
êm đềm, tròn trịa, bình yên của nàng
Quả thật, với những từ ngữ trau chuốt, những hình ảnh ước lệ tượng trưng vẻ đẹp
và giàu sức gợi tả, được lọc qua tâm hồn mẫn cảm, tinh tế, Ng.Du đã khắc hoạ khá sống động vẻ đẹp đài các, đoan trang viên mãn, mơn mởn sức sống của Thuý Vân, biểu hiện một tâm hồn vô tư, dự báo trước một cuộc đời yên ổn, vinh hoa, phú quý sẽ mỉm cười, vui vẻ rước đón nàng
Song, việc miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân, không phải là chủ đích nghệ thuật của tác
giả Đó thực chất chỉ là việc tạo tiền đề, tao ra một điểm tựa nghệ thuật “tả khách hình chủ” để làm nổi bật hơn tài sắc của Thuý Kiều, nhân vật trung tâm của tác phẩm.
Khác với Thuý Vân, Th Kiều có một vẻ đẹp “sắc sảo mặn mà” cả tài lẫn sắc đạt
tới mức tuyệt vời.Cũng những từ ngữ, hình ảnh ước lệ tượng trưng, qua ngòi bút miêu tả tài hoa của Ng Du, hình ảnh nàng Kiều hiện lên lộng lẫy, sắc nước hương trời đến hoa
phải “ghen”, liễu phải “hờn”.
Đôi mắt đẹp của nàng trong như nước mùa thu, lông mày xin xắn, tươi non như sắc
núi mùa xuân “làn thu thuỷ, nét xuân sơn” Nếu như vẻ đẹp của Thuý Vân trời xanh còn
có thể nhường nhịn, thì trước sắc đẹp của Thuý Kiều, thiên nhiên tạo hoá cũng trở nên đố
kị ghen ghét
“ Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thu thuỷ nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”
Thiên nhiên đố kị, ghen ghét với nàng Hồng nhan bạc mệnh, cái sắc đẹp “sắc sảo mặn mà” khiến thiên nhiên cũng phải đố kị, ghen ghét ấy đã dự báo trước một cuộc đời
đầy sóng gió sẽ ập đến với nàng Ng Du đã không tiếc lời ca ngợi sắc đẹp và tài nghệ của
Trang 10nàng Kiều Khỏc hẳn Thuý Võn, Th Kiều thụng minh, đa tài, đa cảm, một con người nhất mực tài hoa: Tài thơ, tài hoạ, tài đàn của Th Kiều đạt tới mức tuyệt diệu:
“ Thụng minh vốn sẳn tớnh trời Pha nghề thi hoạ đủ mựi ca ngõm Cung thương lầu bậc ngũ õm Nghề riờng ăn đứt hồ cầm một trương”.
Cả diện mạo bờn ngoài và diờn mạo tõm hồn cũng hộ mở dần tớnh cỏch số phận của nàng Kiều
Rừ ràng, Ng.Du khi miờu tả sắc đẹp của nàng Kiều đó gửi gắm quan niệm “Tài hoa bạc mệnh” vào đấy - dự bỏo trước cuộc đời, số phận long đong, lận đận, đầy bất
hạnh của nàng
Sử dụng bỳt phỏp miờu tả ước lệ tượng trưng của văn học cổ điển, với ngũi bỳt tài hoa, chắt lọc, trau chuốt ngụn từ, Ng.Du đó khắc hoạ thật sinh động hai bức chõn dung Th.Võn và Th.Kiều, mỗi người một vẻ đẹp riờng, toỏt lờn từ tớnh cỏch, từng số phận riờng, khụng lẫn vào nhau, khụng thể phai nhạt trong tõm hồn người đọc Đõy là thành cụng trong bỳt phỏp nghệ thuật miờu tả người của Ng.Du Đó hơn hai thế kỉ rồi, với truyện Kiều và nghẹ thuật tả người đặc sắc, tinh tế của Ng.Du, đẫ là bậc thầy làm rung động và sự cảm phục, trõn trọng của bao thế hệ đối với đại thi hào dõn tộc Ng.Du
- Bốn cõu đầu: Gợi khung cảnh ngày xuõn
- Tỏm cõu tiếp: Gợi tả khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh
- Sỏu cõu cuối: Cảnh chị em Kiều du xuõn trở về
II Đọc, tỡm hiểu văn bản
d Bốn câu thơ đầu: Bức hoạ tuyệt đẹp về mùa xuân
Trang 11- Hai câu đầu: vừa nói không gian vừa gợi thời gian Ngày xuận thấm thoắt trôi mau, tiết trời đã bớc sang tháng thứ ba của mùa xuân, những cánh én vẫn rộn ràng chao liệng nh thoi đa giữa bầu trời trong sáng, giữa những làn nắng dẹp của mùa xuân
- Hai câu sau tập trung miêu tả làm nổi bật lên vẻ đẹp mới mẻ tinh khôi giàu sức sống, nhẹ nhàng thanh khiêt svà có hồn qua đờngnét hình ảnh, mù sắc khí trời, cảnh vật
+ Cỏ non xanh tận chân trời quả là một hình ảnh đầy sức sống là cái phông nền cho bức tranh xuân Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hao lê trắng nh những trang sức quý giátô điểm cho mùa xuân thêm đẹp Màu sắc có sự hài hoà tới mức tuyệt diệ do nghệ thuật phối màu tài tình của ND: từ trắng đói rất chuẩn với từ xanh ND đã rất tài tình khi đảo ngợc một cách dùng từ thông thờng biến điểm trắng tầnh trắng điểm đã gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân Hoa cỏ vốn vô tri vô giác mà bỗng trở lên có hồn, sinh động chứ không tĩnh tại
( So sánh với câu thơ cổ Trung Hoa: Phơng thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa( Có hơng vị đờng nét nhng không có màu sắc) Câu thơ của ND sống động hơn, có hồn hơn, bởi nó không chỉ là miêu tả mà còn gợi ra
“Phương thảo liờn thiờn bớch”: Cỏ thơm liền với trời xanh
“Lờ chi sổ điểm hoa”: Trờn cành lờ cú mấy bụng hoa
Cảnh vật đẹp dường như tĩnh lại
+Bỳt phỏp gợi tả cõu thơ cổ đó vẽ lờn vẻ đẹp riờng của mựa xuõn cú hương vị, màu sắc, đường nột:
- Hương thơm của cỏ non (phương thảo).
Cả chõn trời mặt đất đều một màu xanh (Liờn thiờn bớch).
- Đường nột của cành lờ thanh nhẹ, điểm vài bụng hoa gợi cảnh đẹp tĩnh tại, yờn bỡnh.Điểm khỏc biệt: Từ “trắng” làm định ngữ cho cành lệ, khiến cho bức tranh mựa xuõn gợi
ấn tượng khỏc lạ, đõy là điểm nhấn nổi bật thần thỏi của cõu thơ, màu xanh non của cỏ cộng sắc trắng hoa lệ tạo nờn sự hài hoà tuyệt diệu, biểu hiện tài năng nghệ thuật của tỏc giả
Tỏc giả sử dụng thành cụng nghệ thuật miờu tả gợi cảm cựng với cỏch dựng từ ngữ và nghệ thuật tả cảnh tài tỡnh, tạo nờn một khung cảnh tinh khụi, khoỏng đạt, thanh khiết, giàu sức sống
2 Khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.
Ngày xuõn: Lễ tảo mộ(đi viếng và sửa sang phần mộ người thõn)
Hội đạp thanh (giẫm lờn cỏ xanh): Đi chơi xuõn ở chốn làng quờ
Gần xa nụ nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuõn
Dập dỡu tài tử giai nhõn
Ngựa xe như nước ỏo quần như nờm
Ngổn ngang gũ đống kộo lờn
Thoi vàng vú rắc tro tiền giấy bay
Trang 12- Các danh từ (yến anh, chị em, tài tử, giai nhân…): gợi tả sự đông vui nhiều người cùng
đến hội
- Các động từ (sắm sửa, dập dìu…): thể hiện không khí náo nhiệt, rộn ràng của ngày hội.
- Các tính từ (gần xa, nô nức…): làm rõ hơn tâm trạng người đi hội.
Cách nói ẩn dụ gợi hình ảnh từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim én, chim oanh ríu rít, vì trong lễ hội mùa xuân, tấp nập, nhộn nhịp nhất vẫn là nam thanh nữ tú (tài
tử, giai nhân)
3 Cảnh chị em Kiều du xuân trở về
Điểm chung: vẫn mang nét thanh dịu của mùa xuân
Khác nhau bởi thời gian, không gian thay đổi (sáng - chiều tà; vào hội - tan hội)
- Những từ láy “tà tà, thanh thanh, nao nao” không chỉ dừng ở việc miêu tả cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người Hai chữ “nao nao” “thơ thẩn” gợi cảm giác, cảnh vật nhuốm màu tâm trạng
Thiên nhiên đẹp nhưng nhuốm màu tâm trạng: con người bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui sắp hết, sự linh cảm về một điều sắp xảy ra
Cảm giác nhộn nhịp, vui tươi, nhường chỗ cho nỗi bâng khuâng, xao xuyến trước lúc chia tay: không khí rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cả nhạt dần, lặng dần
III.Tổng kết
1.Về nghệ thuật
- Miêu tả thiên nhiên theo trình tự thời gian, không gian kết hợp tả với gợi tả cảnh thể hiện tâm trạng
- Từ ngữ giàu chất tạo hình, sáng tạo, độc đáo
- Tả với mục đích trực tiếp tả cảnh (so sánh với đoạn Thuý Kiều ở lầu Ngưng Bích: tả
cảnh để bộc lộ tâm trạng.)
2 Về nội dung
Đoạn thơ miêu tả bức tranh thiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, mới mẻ và giàu sức sống
C âu h ỏi ôn t ập
KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH
I.Giới thiệu vị trí, bố cục.
1- Vị trí đoạn trích: Sau khi bị MGS lừa gạt, làm nhục, bị Tú Bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyyết không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu chấp nhận c/s lầu xanh Đau đớn, tủi nhục, phẫn uất, nàng định tự tử Tú Bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều
Mụ vờ chăm sóc thuốc thang hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ gả chồng cho nàng về nơi tử
tế Tú Bà đưa Kiều ra sống riêng ở lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện hơn, tàn bạo hơn Lầu Ngưng Bích là một điểm dừng chân của Kiều trên con đường lưu lạc đầy máu và nước mắt, cay đắng và tủi nhục suốt 15 năm trời
Trang 13- Đây là đoạn thơ dài 22 câu là những "Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình"miêu tả nỗi buồn nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, trong cảnh sầu, thương, buồn tủi, cô đơn
2 Kết cấu đoạn thơ
- Sáu câu đầu: hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều
- Tám câu tiếp: nỗi nhớ Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ của nàng
- Tám câu cuối: tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều thể hiện qua cách nhìn cảnh vật
II Phân tích
1 Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Kiều (6 câu đầu)
- Hai chữ "khoá xuân"cho thấy Kiều ở lầu NB thực chất là bị giam lỏng
- Cảnh thiên nhiên nơi lầu NB:
+ Vẻ non xa, tấm trăng gần
+ Bốn bề bát ngát xa trông
+ Cát vàng, cồn nọ, bụi hồng, dặm xa
- Kiều trơ trọi giữa không gian mênh mông, hoang vắng Câu thơ 6 chữ, chữ nào
cũng gợi lên sự rợn ngợp của không gian: "bốn bề bát ngát xa trông" Cảnh "non xa",
"trăng gần"như gợi lên hình ảnh lầu NB chơi vơi giữa mênh mông trời nước Từ lầu NB
nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù mịt Cái lầu chơi vơi ấy giam một thân phận trơ trọi, không một bóng người, không sự giao lưu giữa người với người
- HÌnh ảnh "non xa", "trăng gần", "cát vàng", "bụi hồng"có thể là cảnh thực mà cũng
có thể là hình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian Qua
đó diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều
- Cụm từ "mây sớm đèn khuya"gợi thời gian tuần hoàn, khép kín Thời gian cũng như
không gian giam hãm con người Sớm và khuya, ngày và đêm, Kiều thui thủi quê người
một thân Nàng chỉ còn biết làm bạn với "mây sớm đèn khuya" Nàng rơi vào hoàn cảnh
cô đơn tuyệt đối
- Tâm trạng Kiều: Cô đơn, tủi nhục đau khổ một cách vô vọng (bẽ bàng)… Chỉ còn biết đối diện với "mây sớm đèn khuya", lòng tan nát đau buồn "nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng" Hai nỗi buồn như chia xé tâm hồn nàng Bốn chữ "như chia tấm lòng"diễn tả một nỗi niềm, một nỗi lòng tan nát đau thương Tuy sống giữa một khung
cảnh đẹp, êm đềm, có non xa và trăng gần nhưng nàng vẫn thấy cô đơn, bẽ bàng, bởi lẽ
"người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
- Nghệ thuật: Không gian NT bao la (cảnh vật mênh mông rộng lớn, rợn ngợp) tương phản với sự đơn độc, trơ trọi, bé nhỏ của con người càng nhấn mạnh tâm trạng cô đơn buồn tủi của TK Bút pháp NT tả cảnh ngụ tình đặc sắc
2 8 câu tiếp: Nỗi nhớ thương của Kiều
* Đầu tiên Kiều nhớ Kim Trọng Điều này phù hợp với quy luật tâm lý, vừa thể hiện
sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du khi thể hiện khách quan tâm cảnh của Kiều Nguyễn
Du là người ngợi ca thiên diễm tình tự do từ khi chớm nở, sau này khi Kiều lâm nạn, ty dang dở, ông cũng là người thông cảm với những đổ vỡ, tan nát của một mối tình mà trái tim Kiều lúc nào cũng như chảy máu, vì đau thương và hối hận