Cò trắng và vị thuốc Lộ trang Cò trắng Egretta garzetta garzetta L.. thuộc họ Diệc Ardeidae, tên khác là bạch lộ, là loài chim cỡ trung bình.. Đôi cánh trải rộng, ở nách có một lớp lông
Trang 1Cò trắng và vị thuốc Lộ trang
Cò trắng (Egretta garzetta garzetta L.) thuộc họ Diệc (Ardeidae), tên khác là bạch
lộ, là loài chim cỡ trung bình Mỏ dài, màu đen, mép viền vàng nhạt Đầu hình ô van, có hai lông mảnh kéo dài Mắt vàng, viền xanh lục nhạt Cổ và chân dài, đuôi ngắn Bộ lông hoàn toàn trắng Đôi cánh trải rộng, ở nách có một lớp lông mịn như
tơ màu vàng nhạt
Các loài cò khác như cò ruồi, cò bợ cũng được dùng
Cò trắng có nhiều ở các tỉnh đồng bằng, rồi đến trung du, đôi khi cả ở miền núi Nó thường sống ở những nơi có nước như ruộng nương, đầm lầy, đơn lẻ hoặc theo bầy đàn
Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, cò trắng có tên thuốc là lộ trang, cung cấp nhiều bộ phận có tác dụng chữa bệnh
Thịt cò trắng (bạch lộ nhục) có vị mặn, ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng bổ
tỳ, ích khí, mạnh dạ dày, giảm đau, dễ tiêu hóa, làm săn, chữa suy nhược, cơ thể
ốm yếu, gầy còm, khó tiêu, đau nhức gân xương Thường được dùng dưới dạng thức ăn – vị thuốc như xa, xáo
Lông tơ ở dưới cánh cò đắp vết thương, vết đứt để cầm máu Tác dụng này giống
như lông cu ly lấy từ thân rễ cây cẩu tích Các lông đó hút huyết thanh của máu và giúp cho sự tạo máu cục, làm cho máu chóng đông
Đầu cò để cả lông, đốt tồn tính, tán bột, đắp hằng ngày chữa lở miệng, mụn nhọt,
vết thương
Theo tài liệu nước ngoài, ở Nhật Bản, người ta cho rằng ăn thịt cò thường xuyên cơ thể sẽ nhẹ nhõm, khỏe khoắn, sống lâu, chống được các bệnh thời khí, cảm mạo bốn mùa, phong thấp