1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Minh triết: Cô gái đồng trinh pdf

51 275 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Minh Triết: Cô Gái Đồng Trinh
Tác giả Giáp Văn Dương
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự kế thừa của Minh triết là sự bắt chước, học hỏi của các cá nhân những điều mà cá nhân đó cho là khôn ngoan nhất, thích hợp nhất với mình chứ bản thân Minh triết như một thực thể không

Trang 1

Minh triết: Cô gái đồng trinh

Tác giả: Giáp Văn Dương – Bài đã được TUANVIETNAMNET xuất bản: 11/03/2010 06:15 GMT+7

Khác với bà mẹ Triết học, Minh triết là cô gái đồng trinh Tuy đẹp, nhưng không sinh ra những

nào lại không từng là một cô gái đồng trinh?

LTS: Sau khi Tuần Việt Nam đăng tuyến bài của tác giả Hoàng Ngọc Hiến luận bàn về Minh triết

Việt và Minh triết Hồ Chí Minh, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến cùng chia sẻ Đáp ứng yêu cầu của độc giả, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết ba kỳ, thể hiện góc nhìn của TS Giáp Văn Dương xung quanh chủ đề này.

Trong khi các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất được Minh triết là gì, vì bản thân Minh triết vốn thiếu một hệ thống khái niệm để tư duy và để nói về mình, lại có xu hướng Nn vào đời sống hơn là có thể diễn ngôn, thì việc tìm một hình ảnh mang tính biểu tượng thích hợp - một kiểu định nghĩa bằng hình ảnh - sẽ giúp ích cho việc hiểu rõ hơn về Minh triết

Cô gái đồng trinh

Triết học được coi như bà mẹ của các ngành khoa học Bà mẹ này đặt tên, cắt cử công việc, chỗ làm

và chỗ gặp gỡ cho các con Sự trưởng thành của những đứa con, mà phần lớn giờ này đã ra ở riêng và

có cơ ngơi riêng, đã làm cho bà mẹ không còn bận rộn như trước Bà cũng không còn trẻ trung, sung sức, đẹp đẽ và quan trọng như trước nữa, nhưng bà vẫn là chỗ trở về của những đứa con mỗi khi có dịp

Minh triết thì khác, Minh triết không sinh ra những đứa con khoa học hoặc hệ thống tư tưởng Minh triết giống cô gái đồng trinh Cô gái đó thông minh, đẹp và quyến rũ nhưng không có khả năng sinh con đẻ cái Cô thường tập trung chăm chút cho cuộc sống hiện tại của mình, hơn là những ưu tư xa lắc

xa lơ cả về thời gian lẫn địa lý và những quan tâm tận đNu tận đâu không dính dáng gì đến cuộc sống thường nhật hàng ngày Điều cô quan tâm nhất là làm sao cô có cuộc sống tốt nhất, an toàn nhất, hài hòa nhất với bên ngoài

Còn bà mẹ Triết học thì khác, bà tất bật lo toan cuộc sống trăm bề, quan tâm đến mọi thứ, và cố gắng hiểu chúng một cách rõ ràng nhất

Lo toan nhiều, sinh đẻ nhiều làm cho bà mẹ Triết học già cỗi, kiệt sức Còn Minh triết giống như cô gái đồng trinh, vẫn trẻ trung tươi mới như thuở nào của nhiều nghìn năm về trước

Trí não không quá hoàn thiện như bà mẹ Triết học, cô làm người ta cảm thấy gần gũi, dễ mến, thấy cô như sinh ra để dành cho mình, là một phần cuộc sống của mình, và chỉ cần cố gắng một chút là mình

có thể chiếm hữu - bằng trực quan, bằng cảm xúc và trải nghiệm cá nhân

Cô quan tâm đến cuộc sống của con người, vì thế, cô gắn liền với nhân ái, đạo đức và văn hóa

Cô khéo ăn khéo nói, luôn tìm cách vươn đến sự hài hòa và Chân Thiện Mĩ Nhưng cô vô tư lự với thế giới bên ngoài, cô không thích đi tìm chân lý ở ngoài đời sống con người

Sự quan tâm thường xuyên đến đời sống hàng ngày làm người ta thấy

cô đáng yêu, thực tế và muốn kết thân Sự mềm mại, linh hoạt, trọng dịch chuyển của cô làm người ta cảm thấy huyền bí, hấp dẫn

Cô rất thực, như hôm nay, như của sự này đây Nhưng cô cũng như ảo ảnh, phảng phất trong mơ trong mộng

Trang 2

Cô không có tuổi Cô luôn được tái sinh qua những kiếp người, nên cô trẻ và đẹp mãi

Cô có tất cả các yếu tố để hấp dẫn mọi người, từ bậc quân vương, trí giả cho đến giới bình dân Cô làm người ta phải quan tâm, chiêm ngưỡng, tìm về

Nhưng nếu chỉ có cô, xã hội có phát triển?

Biên giới mong manh

Cô gái đồng trinh Minh triết rất thông thái, nhưng chỉ quan tâm đến đời sống của mình, cốt sao có được cuộc sống tốt nhất, lựa chọn ứng xử tối ưu nhất

Nhưng việc sắp xếp trật tự, kiểm soát ứng xử văn hóa, đạo đức không phải là sản xuất ra của cải, thứ

mà đời sống cần trước hết Nên đời sống của cô đậm đặc văn hóa và ứng xử, nhưng nghèo nàn vật chất

Vật chất chỉ đến từ sự khai phá giới tự nhiên Nhưng cô không chú tâm khai phá

Cô thông minh và cư xử khéo léo Cô đạo đức và văn hóa Cô sống cho hiện tại Nhiều người say mê

cô Điều đó đáng trân trọng Nhưng cả xã hội say mê cô Điều đó đáng báo động

Vì một cách hiển nhiên, sự phát triển của xã hội không chỉ dựa trên sự ứng xử khéo léo, đạo đức và văn hóa, mà còn dựa trên sự phong phú về của cải vật chất Nếu của cải vật chất quá nghèo nàn, sự khéo léo, đạo đức và văn hóa có nguy cơ trở thành giả tạo

Nếu xã hội chỉ chăm chút cho những lựa chọn ứng xử và trật tự trong hiện tại thì sẽ chỉ đi vòng quanh hiện tại Đó là lý do vì sao những xã hội Minh triết phương Đông hầu như giậm chân tại chỗ trong suốt mấy trăm năm qua Nhưng trình độ hưởng thụ cuộc sống và ứng xử xã hội của những xã hội Minh triết đó lại cao vượt bậc, đạt đến mức nghệ thuật

Nhưng nghệ thuật nếu không được xây dựng trên một nền tảng vững chắc nhiều chiều sẽ có nguy cơ trở thành nghệ thuật giả tạo

Sự tập trung hầu hết vào đời sống thường nhật ở thì hiện tại mà không ngó ngàng đến thế giới bên ngoài tạo ra những vòng tròn khép kín Những cô gái đồng trinh Minh triết trở thành những cô gái tự

kỉ ám thị Xã hội cũng trở thành xã hội tự kỉ ám thị của những giá trị, trật tự, cảm xúc và tri thức cũ rích, nhàm chán

Sự mềm dẻo quá mức dễ dẫn đến lảng tránh, đầu hàng trước cái xấu và cái ác trong xã hội, nhất là khi cái xấu và cái ác đó xuất phát từ những thế lực có sức mạnh

Sự linh hoạt, dễ thay đổi dễ dẫn đến sự coi thường chân lý và nguyên tắc Những giá trị mà xã hội theo đuổi khi đó có nguy cơ trở thành hình thức, đạo đức giả

Tập hợp của những cá nhân Minh triết trong đời sống, vì thế chưa chắc đã tạo ra một xã hội Minh triết như một toàn thể Mà ngược lại, có nguy cơ kìm hãm sự phát triển của xã hội

Minh triết cá nhân trở thành U triết tập thể

Con đường phía trước

Để phát triển và tạo ra lịch sử, xã hội cần những bà mẹ chứ không phải những cô gái đồng trinh Nhưng có bà mẹ nào lại không từng là một cô gái đồng trinh?

Vì thế, Minh triết cần là sự chuNn bị, là đoạn khởi đầu cho bà mẹ Triết học hình thành Chính cô chứ không ai khác, là người chuNn bị hành trang để trở thành bà mẹ Triết học, người sinh ra những đứa con giúp ích cho nhận thức, cho hiểu biết, cho sự phát triển của xã hội

Nhiệm vụ của chúng ta vì thế không phải chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Minh triết - cô gái đồng trinh -

mà còn phải nuôi dưỡng cô, bồi đắp cho cô được khỏe mạnh, vững vàng để cô có thể trở thành những

bà mẹ tốt sau này Cũng cần phải chọn cho cô những người chồng - những đối tượng mà cô cần hướng tới để nhận thức - và của hồi môn là những khái niệm chính xác để tư duy Chỉ có như thế, cô mới có thể sinh ra những đứa con tư tưởng để nhận thức rõ hơn trước hết là chính mình, rồi đến thế giới xung

Trang 3

quanh Nếu không, cô sẽ mãi chỉ là cô gái đồng trinh: thông minh, trẻ trung, đạo đức và văn hóa nhưng không đóng góp được gì nhiều cho phát triển và không kiến tạo lịch sử như chính bản thân không lịch

sử của cô Xã hội của các cô khi đó sẽ chỉ đi vòng quanh hiện tại mà không thể tiến về phía tương lai Con đường phía trước vì thế không thể là con đường đi vòng quanh hiện tại của những cô gái đồng trinh, của Minh triết cá nhân nhưng U triết tập thể, mà phải là con đường của các bà mẹ Triết học, Minh triết cá nhân và Thông thái tập thể, để đi thẳng đến tương lai

Đây là con đường lịch sử, con đường của tư tưởng, của sự khai phá tiềm năng, kế thừa và dựng xây những tòa nhà tư tưởng mới, nhằm hướng tới tương lai chứ không quNn quanh trong hiện tại

Chỉ có như thế xã hội mới phát triển, và Minh triết mới có thể đóng góp được phần sức lực của mình vào sự phát triển đó

Minh triết không là gì?

Tác giả: Giáp Văn Dương – Bài đã được xuất bản: 8 giờ trước

Thay vì tìm cách định nghĩa "Minh triết là gì?", một cách đặt câu hỏi khác: "Minh triết không

là gì?" sẽ giúp ích cho việc chỉ ra các đặc điểm mà vẫn giữ được tính Không và tính Mờ rất đặc trưng của Minh triết, đồng thời thấy được những hạn chế của Minh triết trong việc thúc đy sự phát triển >> Bài 1: Minh triết - Cô gái đồng trinh

Minh triết không lịch sử

Minh triết, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, là sự thông thái trong cuộc sống Minh triết thường gắn với những trải nghiệm, tri thức và lựa chọn của cá nhân và Nn vào cách sống, cách cư xử chứ ít khi kết thành tư tưởng trong trước tác của nhà hiền triết để đời sau có thể nghiền ngẫm, nghiên cứu như một thực thể tự nó Sự kế thừa của Minh triết là sự bắt chước, học hỏi của các cá nhân những điều mà cá nhân đó cho là khôn ngoan nhất, thích hợp nhất với mình chứ bản thân Minh triết như một thực thể không có tính tự kế thừa và do đó, không có lịch sử Khi nhà hiền triết mất đi, Minh triết của nhà hiền triết đó cũng mất đi theo, dù tư tưởng của nhà hiền triết đó, nếu có, vẫn có thể được lưu truyền trong đời sống Trong thực tế, có những nhà hiền triết không tư tưởng

Minh triết gắn liền với sự sống và sự lựa chọn trong cách ứng xử với cuộc sống, bao gồm cả ứng xử với thiên nhiên, xã hội và bản thân mình, nên Minh triết chỉ tìm thấy trong thì hiện tại, gắn liền với đời sống của một cá nhân

Vì không có lịch sử, và chỉ sống ở thì hiện tại, nên Minh triết như một thực thể tự nó không có tương lai Nói cách khác, không thể phỏng đoán những diễn tiến tương lai của Minh triết như của Triết học, Toán học, Vật lý, Sinh học dựa trên quá khứ của nó Vì đơn giản, những con người tương lai vẫn chưa ra đời để sống và thực hành Minh triết tương lai đó

Minh triết không cấu trúc

Khác với Triết học, Minh triết không có cấu trúc, không kết thành một hệ thống lý luận chặt chẽ Lý

do là Minh triết luôn gắn liền với đời sống của một cá nhân Mà mỗi cá nhân một khác, không có những cá nhân giống hệt nhau Nên Minh triết của các cá nhân cũng khác nhau, dù có cùng một phông nền đời sống Do đó, Minh triết của các cá nhân không kết nối thành một hệ thống có cấu trúc xác định

Minh triết do đó chỉ là những mảnh rời tri thức và trải nghiệm của cá nhân về tự nhiên, xã hội và bản thân mình Minh triết chỉ là một kho vật liệu về cuộc sống, chứ không phải là một tòa nhà tư tưởng về cuộc sống

Triết học, khác với Minh triết, được xây dựng một phần lớn từ những khái niệm được định nghĩa chính xác và quá trình suy luận logic, nên có tính lặp lại với những cá nhân khác nhau, miễn sao các

cá nhân đó đều thống nhất về ý nghĩa của các khái niệm và quá trình suy luận đó, nên Triết học là một

nh: chungta.com

Trang 4

bộ môn khoa học, có lịch sử, có kế thừa, có cấu trúc, trái ngược với Minh triết nhấn mạnh vào trải nghiệm và trực giác nên có hơi hướng của huyền học

Minh triết không lý tính

Minh triết gắn liền với đời sống và nghiệm sinh của cá nhân, lại chủ yếu là những nghiệm sinh đời thường của các cá nhân đời thường, nên Minh triết nặng về trực giác và cảm tính thay vì lập luận logic

và lý tính như Triết học hay các ngành khoa học cụ thể

Minh triết có xu hướng sử dụng trải nghiệm và tri thức sao cho khôn ngoan nhất, có lợi nhất chứ không nhằm mục đích tạo ra tri thức Sự thiếu hụt một hệ thống khái niệm được định nghĩa rõ ràng và một quá trình tư biện, suy luận logic cũng làm cho lý tính của Minh triết vốn đã yếu lại càng yếu hơn

Sự không lặp lại giữa các cá nhân, không thể kiểm chứng lại một cách chính xác thông qua suy luận hoặc thực nghiệm, làm cho phần lý tính của Minh triết bị nhòe đi do bị điều chỉnh chủ quan khi truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác dưới dạng học hỏi, bắt chước

Do sự nhòe đi như thế, và do sự lấn át của trực giác so với logic, cảm tính so với lý tính, cộng với việc thiếu hụt một bộ khung logic và khái niệm chính xác chống đỡ, nên so với Triết học - nếu được coi là động vật có xương sống - thì Minh triết có vẻ giống một loại động vật thân mềm

Minh triết không hướng ngoại

Minh triết chủ yếu hướng sự quan tâm của mình vào những cách cư xử, những lựa chọn được cho là thông thái nhất cho cá nhân trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, nên chủ yếu tập trung vào phục vụ đời sống con người, chứ ít khi đi xa hơn con người Nếu có, thì cũng để thu lượm những cảm xúc, trải nghiệm hoặc tri thức để trở lại với con người Vì thế, Minh triết hầu như không hướng tới thế giới tự nhiên như một đối tượng để tìm tòi nghiên cứu Mà ngược lại, Minh triết luôn quanh quNn với đời sống con người

Sự thiếu hụt lịch sử tự thân, cấu trúc và lý tính càng hạn chế Minh triết hướng ra thế giới tự nhiên Vì

sự rộng lớn của giới tự nhiên đòi hỏi một hệ thống khái niệm và lý thuyết đồ sộ để diễn giải, điều mà Minh triết không có

Minh triết vì thế, gắn liền với những vấn đề của con người như trật tự xã hội, ứng xử, đạo đức, văn hóa với mục đích làm cho cuộc sống của con người tốt hơn thông qua việc kiểm soát và điều phối những vấn đề của con người mà hầu như bỏ qua việc tìm hiểu thế giới tự nhiên bên ngoài Nói cách khác, Minh triết luôn hướng về con người và đặt con người vào trung tâm sự quan tâm của mình

Minh triết không cố định

Minh triết gắn liền với cuộc sống đời thường Mà cuộc sống đời thường thì không cố định bao giờ Nên Minh triết, về bản chất, lưu tâm và chú trọng cái thay đổi, cái biến động, cái "thời" trong cuộc sống

Sự thiếu hụt một bộ khung lý tính càng làm cho Minh triết dễ dịch chuyển, đôi khi chỉ bằng một cái chặc lưỡi cá nhân Còn Triết học, do đặt giới tự nhiên - một thực thể tương đối ổn định trong khoảng thời gian dài - vào trung tâm của sự suy tưởng, nên Triết học ổn định và yên tĩnh hơn nhiều

Cũng có thể dùng một hình ảnh khác để diễn tả sự mềm mại, linh hoạt của Minh triết, đó là nước Nước mềm mại, nước luồn lách vào mọi ngõ ngách, nước luôn hướng về chỗ trũng giống như Minh triết luôn hướng về đời sống con người

Những điều này tạo ra tính Không và tính Mờ rất đặc trưng của Minh triết phương Đông mà Minh triết Việt là một bộ phận cần được khám phá

Tuy nhiên, tính Không và tính Mờ này có ý nghĩa về mặt bảo tồn Văn hóa nhiều hơn là thúc đy Phát triển, nên việc xây dựng Minh triết như một chủ thuyết phát triển cần phải hết sức thận trọng, nếu không muốn nói là không thể, để tránh sa vào những bẫy ngôn ngữ, bẫy giá trị và bẫy thời gian

Sự thận trọng và tỉnh táo này còn giúp cho bản thân Minh triết không bị bóp méo thành nơi trú n của những hủ lậu, những ám ảnh của quá khứ, làm tổn hại đến sự phát triển của đất nước Vì sự phát triển có được, suy cho cùng là dựa trên những cái Có và Rõ, chứ không phải là cái Không và Mờ

Trang 5

Minh triết của đời thường

Tác giả: Trần Sáng – Bài đã được xuất bản: 13/11/2009 06:10 GMT+7

Nếu triết học là thứ gia bảo trân quí giành cho các học giả thông thái truy tìm các câu hỏi về bản thể luận, nhận thức luận, phương pháp luận về sự vật hiện tượng, thì minh triết là của đời thường, của quảng đại chúng sinh

Duy danh định nghĩa bất kỳ một sự vật hiện tượng nào luôn luôn là một sự khó “vật phải có tên” Quán tính tư duy đó dường như đã ăn sâu vào tiềm thức của chúng ta Theo lối kinh nghiệm, dường như chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy những câu trả lời tùy theo các cách tiếp cận khác nhau Đó là một thực tại tối hậu của đời sống? một suối nguồn của tư tưởng, hay chân lý của chân lý v.v

Nếu bằng lòng với cách minh giải theo lối chiết tự, thì minh triết là một cái nhìn thông thái, sáng suốt về đời sống Tư duy khái niệm sẽ lập tức lên tiếng, đòi hỏi sự phân tích về các khái niệm “thông thái” “sáng suốt”, nếu tiếp tục, đương nhiên, chúng ta sẽ phải tham gia vào trò cút - bắt không tiền khoáng hậu với những danh từ, tính từ những khái niệm hàn lâm Đó quả là một thực tế đầy mâu thuẫn, bởi trong khi thực hiện thao tác đó thì dường như chúng ta lại đang

đi ngược lại lời dạy của một bậc thánh triết phương đông là Lão Đam tiên sinh,“đạo khả đạo, phi

thường đạo - danh khả danh, phi thường danh - vật có thể gọi ra tên thì đâu còn là nó nữa”.

Ngôn ngữ, trong rất nhiều trường hợp rất hữu dụng thì cũng có khi nó lại tỏ ra bất lực ngay ở chức năng mô tả thông thường nhất Song, vấn đề ở đây lại không phải nằm ở ngôn ngữ Mà ở phương pháp luận, bởi nếu tiếp tục khai triển theo những hướng đó, e càng ngày chúng ta càng xa rời cái đích minh triết mà chúng ta đang tìm kiếm Trường hợp thứ nhất, nó sẽ bị tư duy tư biện của triết học làm khô đét đi trong một cuộc tìm kiếm khôn cùng với mê hồn trận các thuật ngữ và trường hợp thứ hai trở lại với trạng thái uyên nguyên “vô danh, vô hình, vô thủy, vô chung” theo lối bản thể luận Cả hai trường hợp trên, ngẫm cho cùng, đều ít nhiều mang trong nó một tinh thần “phi minh triết”

Vậy minh triết là gì? Theo tôi, minh triết là một trạng thái hợp lý của đời sống, diễn tả theo một cách

khác thì nó nằm ở giữa chân lý và phi lý Khổng Tử nói: “một bậc minh triết thì vô ý” Theo tinh thần này thì mọi sự thái quá hoặc bất cập đều xa lạ với tinh thần minh triết

Cũng theo tinh thần này, thì nếu triết học là thứ gia bảo trân quí giành cho các học giả thông thái truy tìm các câu hỏi về bản thể luận, nhận thức luận, phương pháp luận về sự vật hiện tượng, thì minh triết

là của đời thường, của quảng đại chúng sinh Nó giúp cho cái thực tại siêu việt vượt qua tầm kiểm soát của ngôn ngữ trở về dưới hình dạng chất phác giản dị Nó như một thái độ sống, cNn mực, khoan hòa, thuận thảo, trên hợp với lẽ trời, dưới thuận lòng người Nó kết hợp được nghĩa lý của cả hai lẽ âm dương, cả đức kiên, cương, hoạt, mãnh của dương và đức khiêm, nhu thuận, trầm, của âm Để tạo sinh vạn vật, để giữ cho sự vật được thái hòa giữa vũ trụ huyền vi

Nó giúp cho sự vật hiện tượng trở về với chữ Hòa, vốn dĩ đã bị lãng quên từ lâu

Chúng ta đã có quá nhiều các triết thuyết, học thuyết, tư tưởng, giáo lý nhằm giải thích, cải tạo thế giới và an ủi động viên con người Nếu như ở cực này nó khuyên con người ta nên đặt niềm tin ở một

cá thể thần thánh sáng tạo ra thế giới (ví như đạo Ki-Tô chẳng hạn), thì ở một cực khác nó lại phủ nhận tất cả những điều đó và khuyên con người trở về với cõi uyên nguyên Trong một diễn biến khác, trong khi học thuyết xã hội này được xây dựng trên cơ sở công nhận quyền công hữu và kiên định tiên lượng viễn cảnh về một một xã hội tốt đẹp trong tương lai (CNXH) thì học thuyết khác lại bài bác nó

và kiên quyết khẳng định chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (CNTB)

Lịch sử tư tưởng đã có hàng nghàn năm tuổi Đã có hàng trăm triết thuyết, học thuyết xã hội ra đời, với tham vọng giải thích và thay đổi thế giới Nghiệt thay, song hành với tư tưởng, chiến tranh cũng đã

có mặt trên hành tinh này hàng nghìn năm nay Truy tìm đến căn cội của vấn đề, chúng ta sẽ thấy, thật phi lý, bởi dường như trạng thái hỗn loạn của thế giới này lại có một nguồn cội sâu xa chính từ sự mâu thuẫn, xung đột, bài xích lẫn nhau của các tư tưởng, triết thuyết, học thuyết xã hội kia Những bạo chúa khét tiếng trong lịch sử loài người như: Tần Thủy Hoàng, Pol Pot, A.Hitler thì chắc hẳn là không

ai không biết, nhưng ít ai để tâm rằng, đằng sau Tần vương Doanh Chính hung bạo, đốt sách, chôn học

nh: Gettyimages

Trang 6

trò chính là Lý Tư, mà đằng sau Lý Tư là Tuân Khanh, cha đẻ của thuyết Pháp Gia Ở một diễn biến khác, Pol Pot, kẻ diệt chủng cuồng bạo độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người, kẻ gây ra cái chết cho 1,7 triệu người Cambodia vào cuối thập niên 70 TKXX, lại chính là một sinh viên của trường đại học danh tiếng Sorbonne (France), từng được thụ giáo bởi nhà triết học nổi tiếng Jean Paul Sactre, và đã từng là lãnh tụ một đảng cộng sản (Khme đỏ)

Trong bài báo “What Darwin taught Hitler?” (Darwin đã dạy Hitler cái gì?) của Grenville Kent, trên tạp chí SIGNS of the Times của Mỹ-Úc, số tháng 10 năm 1996

(thông tin này được trích từ bài báo khoa học “Từ học thuyết bệnh hoạn đến Swastika của quỷ dữ” của tác giả Phạm Việt Hưng đăng trên website VietSciences ngày 04/01/2007), tác giả bài báo đã chỉ ra mối liên hệ về mặt tư tưởng giữa Darwin với Hitler, qua một phát biểu của Darwin trong tác phNm “nguồn gốc các

loài” đó là “Trong một tương lai không xa lắm, có thể đo bằng số thế kỷ, các chủng tộc văn minh của loài người hầu như sẽ tiêu diệt và thay thế các chủng tộc dã man trên thế giới”.

Sẽ là võ đoán, nếu cho rằng những tư tưởng của Khổng Tử, Tuân Khanh, S.Darwin, Karx Marx v.v

có lỗi trong những tội ác của Tần Thủy Hoàng, của những lò thiêu người khủng khiếp như Auschwiz của Hitler Nhưng đương nhiên cũng không ai biết được điều gì xảy ra khi các tư tưởng kia, lọt vào não trái các nhà độc tài đó, và biến thành những quyết định vô nhân! Sự xảo biện của thứ ngôn ngữ quan phương chắc chắn sẽ đưa ra nhiều lý lẽ để gọi tên hiện thực trên Song từ góc nhìn minh triết, tôi xin được gọi tên hiện thực khủng khiếp đó là một hiện thực “phi minh triết”

Khi nói tới sự khác biệt giữa văn hóa đông - tây người ta thường hay khái quát “đông chủ toàn - tây chủ biệt” Cái sự chủ “biệt” của văn hóa phương tây thì sinh ra cách tư duy lý tính, logique, khúc triết, thiên về đào sâu, phân tích sự vật Kết quả là nền văn minh tây phương đã đạt được những thành tựu khổng lồ, đặc biệt là trong công cuộc chinh phục tự nhiên (ngoại vật) Tuy nhiên, tính chất vật chất - máy móc, mạnh mẽ, quyết liệt của nó, đã khiến cho nền văn minh này tha hóa trong sự ngạo mạn của khoa học tự nhiên với những hệ lụy thật khủng khiếp, cụ thể là: Nhiều triệu ha rừng đã bị phá trụi, nhiều triệu ha đất đai đang bị sa mạc hoá, Mà căn nguyên sâu sa là việc chúng ta phá hỏng hệ sinh thái của thiên nhiên, bằng nhiều triệu tấn khói thải, đang ngày đêm khoan thủng tầng Ô-giôn (o3) gây ra những hệ luỵ tất yếu như: Hiệu ứng nhà kính, băng tan mũ cực.v.v Những vùng đất rộng lớn đang bị nhiễm độc và dần biến thành tử địa, hàng chục nghìn loài sinh vật đang biến mất

Ở cực kia cái sự “chủ toàn” của văn hóa phương đông đã chiết xuất ra lối tư duy trầm tĩnh, mềm dẻo, thụ động, hướng nội, thiên về trực giác, từ trực giác mà tiến vào khám phá cõi nội giới thăm thẳm của con người, hợp nhất chủ thể và đối tượng vào cùng một hệ qui chiếu Lối tư duy nhất nguyên này tuy giữ được cái tổng thể để đi sâu giải mã những vấn đề bản thể luận, ngõ hầu mà đạt Đạo Tuy nhiên, mặt khác nó lại khiến cho chủ thể vong trầm vào trong quĩ đạo vận động của một chuyển động tròn quanh quất, “động” thì có “động” đó Nhưng chẳng nhúc nhích được là bao Đến đây, xin được trở lại với chữ Hòa, như một biểu hiện sinh động cho hiện thực minh triết, mà chúng ta hướng tới

Vẫn biết, vạn pháp vốn vô thường trụ, song dù có biến thiên đến đâu cũng không qua khỏi lẽ

âm-dương, vốn là căn cội của cái mà chúng ta gọi tên là minh triết Âm quá thành âm thác, quá dương thành dương sai Âm, Dương chủ quí ở sự hòa Vật bất hòa, sự tắc loạn và chúng ta đang sống trong

thế giới của sự bất hòa đó

Một thế giới của sự tồn tại cùng lúc của một nền kinh tế quật khởi, tốc độ phát triển cao (7-9%), với những làng Ung thư mọc lên khắp nơi, với những dòng sông bị nhiễm độc đang ngày đêm kêu cứu, với các cô bảo mẫu dạ xoa vả “bôm bốp” vào mặt bé thơ vô tội, bằng bàn tay hộ pháp, với một cô thôn

nữ đi làm mướn bị chủ hành hạ để lại đến hơn 424 vết sẹo trên người, của những nghiệt tử lôi mẹ đẻ ra trước pháp đình, kiện đòi công phụng dưỡng, với những lương y kiêm “đồ tể” nhận phong bao giỏi hơn hành y thuật, đúng trước nỗi đau người bệnh, không hề mảy may động tâm, của những một nền giáo dục đang báo động đỏ, bởi sự thống trị của chủ nghĩa hình thức, của một nền hành chính công đang tha hóa nặng nề bởi nạn, quan liêu, tham nhũng, của những đứa trẻ vị thành niên bỏ nhà để sống quần hôn như bầy người nguyên thủy và hằng hà sa số những sự “của” khác mà chúng ta không thể thống kê hết ra đây Trên bình diện văn nghệ, một hàn thử biểu rất nhạy cảm của xã hội, chúng ta cũng

có thể bắt gặp không ít những điều đó, chúng ta thấy gì khi được “mục kích sở thị” cảnh, Một họa sĩ

nh: Chungta.co

Trang 7

đổ cả thùng màu lên Toan, những áng thơ tối tăm như hũ nút, một cuộc trình diễn nghệ thuật sắp đặt với hầm bà lằng nhằng những sắt, thép, dây thừng, dây chão và cả giẻ rách nữa và hằng hà sa số những hiện tượng tương tự Đó không đơn giản chỉ là sự điệu đàng, chơi trội, hay làm mình làm mNy của một vài kẻ lập dị Phải chăng đó không phải là tín hiệu báo “đau” của cơ thể xã hội đang “nhiễm” nặng thứ vi rút duy lý Ở một diễn biến khác, tại phương tây, cách đây gần một thế kỷ, sự ra đời của trào lưu nghệ thuật phi lý, liệu có phải chăng chính là cú “hắt hơi” đầu tiên cảnh báo cơn “đột qụy” của thế giới trước cơn cuồng phong bạo lực thế chiến thứ II, một cơn đột qụy khủng khiếp đã cướp đi sinh mệnh của hơn năm chục triệu người

Khi kẻ sáng tạo ra chiếc xe bị chính nó cán gãy chân, thì anh ta mới ngộ rằng, ngoài tính năng của một phương tiện hữu dụng ra, thì nó còn là một cỗ máy giết người

Tuy nhiên đó không phải là một hiện thực không lối thoát, trí tuệ minh triết phương, dường như đã lập trình từ lâu lời giải cho hiện thực này

Trong Kinh Dịch, một kỳ thư bậc nhất của nền văn hóa phương đông, chúng ta có thể tìm thấy ở đây,

từ hình ảnh của một gia đình thuận thảo, con cháu hiếu kính, ông bà, cha mẹ mẫu mưc, đến hình ảnh một xã hội trung chính, đến các hành vi dù nhỏ nhất mà ngay cả một con người đang sống trong thời đại công nghiệp cũng không thể bỏ qua Tỷ dụ những nhỏ nhặt như: việc ăn uống, Nuôi thân thể, quẻ

Di khuyên phải tiết thực (vì bệnh tòng khNu nhập) đừng vì miếng ăn mà mang nhục Nhưng lại khuyên, nuôi thân thể không quan trọng bằng nuôi tinh thần: ba hào cuối quẻ Di có nghĩa là nuôi tinh thần, đều được cho là “cát” Bậc hiền nhân nuôi tinh thần dân chúng có công lớn nhất, ngang với công trời đất nuôi vạn vật Cho nên xem cách một người tự nuôi mình và nuôi người mà biết được tốt hay xấu

Quẻ Ly dạy ta cách ở đời, con người nên giữ vững bản thiện, giữ đường chính, đừng tự phụ, phải thận trọng, như vậy cho tới suốt đời

Phải biết trau giồi tài đức (quẻ Đại Súc), biết sửa lỗi (quẻ Phục), nhưng đừng ham tiến mau quá, mà nên dần mà chắc, như con chiêm hồng trong quẻ Tiệm Tới tột bực thì thành một hạng xuất thế, khí tiết thanh cao, thoát phàm Muốn nuôi tinh thần thì phải nhóm bạn tìm thầy: quẻ Tỉ Trong việc nhóm bạn, phải cNn thận từ lúc đầu, thành tín, vì đạo chứ không vì lợi, nhất là phải trọng sự tự do của nhau:

ai muốn tới với mình thì niềm nở đón, ai chống mình thì cứ rút lui, không ép ai cả Nuôi tinh thần để giúp đời như nước giếng trong quẻ Tỉnh, thức ăn trong quẻ Đỉnh; để biết cách tiếp xúc với tiểu nhân: quẻ Lâm, để giúp quân tử thắng tiểu nhân: quẻ Cấu, quẻ Quải

Một trong những vấn đề Dịch quan tâm tới nhất là vấn đề nam nữ, vợ chồng Vì nó là cái “thiên địa chi đại nghĩa” Có âm dương, nam nữ thì mới có vợ chồng, gia đình và xã hội Trong việc dạy trẻ, quẻ Mông khuyên phải ngăn ngừa trước lỗi của trẻ, phải nghiêm, đừng quá dùng hình phạt mà sẽ ân hận (hào 1); nhưng thà quá nghiêm còn hơn là quá dễ dãi để tới nổi trẻ luông tuồng mà nhà sẽ suy, loạn Cũng lại là luật tuần hoàn: cương quá thì trở lại nhu, nhu quá thì trở lại cương, giữ mực trung là hơn

cả Trong quẻ Quán: người trên nêu gương cho người dưới

Cha mẹ có bổn phận dạy dỗ, nêu gương cho con; ngược lại con cũng có bổn phận can ngăn cha mẹ để cha mẹ khỏi làm một điều trái đạo lý Phục hưng các giá trị minh triết, không có nghĩa là hoài cổ, nệ

cổ Mà chính là sự trở về với bản tính giản dị, hồn nhiên, chất phác của con người, nói như Lão -Trang

Trang 8

là “Bão phác qui chân” Một giá trị đang dần bị xã hội công nghiệp tước bỏ Khi chủ trương xây dựng

xã hội hài hòa trong công cuộc đổi mới, chắc Trung Quốc đã nghĩ đến điều này

Ở một diễn biến khác chủ nghĩa tư bản, và CNXH trước sự mất – còn của những cơn khủng hoảng, cũng đang phải nỗ lực tìm kiếm một lối thoát khả dĩ!? Ngay như Châu Âu, cái nôi của triết học duy lý, cũng đã nhận ra mặt trái của triết lý chinh phục và hiếu chiến và đang hồi hướng trở lại với nếp sống chậm của những giá trị văn hóa phương đông Rõ ràng, “giá trị văn hóa phương đông” như một chân

lý đó vẫn và đang tồn tại đâu đó quanh chúng ta với muôn mặt đời thường Vấn đề còn lại là chúng ta làm sao để biến chân lý đó thành minh triết của chúng ta mà thôi

Minh triết của hiện đại hóa

Tác giả: Nguyễn Lương Hải Khôi – Bài đã được xuất bản.: 25/01/2010 11:30 GMT+7

tiễn đương đại với các giá trị đã được lịch sử nhân loại chứng minh là đúng

LTS: Khơi dòng từ bài viết "Xây danh dự cho dân tộc Việt" của tác giả Nguyễn Lương Hải Khôi,

hàng loạt bài viết, ý kiến đã gửi về tranh luận quanh chủ đề Thoát Á hay Thoát Thân Dù có những quan điểm khác nhau về mặt học thuật song đa số các ý kiến đều cùng chia sẻ rằng: Đã đến lúc Việt Nam cần phải có một chủ thuyết phát triển phù hợp để vượt thoát khỏi những lạc hậu đã kìm chân, khai phóng mạnh mẽ sức sáng tạo và hội nhập vào thế giới hiện đại.

Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết dưới đây để tạm khép lại cuộc tranh luận thú vị và sôi nổi này.

"Thoát Á luận" và "Tiến hóa luận"

"Thoát Á luận" của Fukuzawa Yukichi dù ra đời đã hơn một thế kỷ, nhưng vẫn còn nguyên giá trị

"Thoát Á luận" là minh triết, vượt qua những hiện tượng đơn lẻ, nhất thời, đi đến một quy luật

Minh triết của "Thoát Á luận", nói một cách ngắn gọn, là: Dân tộc nào một khi còn cắm rễ trong những thiết chế văn hóa lạc hậu, dân tộc đó sẽ không thể hiện đại hóa thành công. Dễ hiểu, nhưng khó làm Đó là đặc trưng của minh triết Cách diễn đạt "Thoát Á luận", hay khNu hiệu "Thoát Á nhập Âu", thì tương đương với cách diễn đạt sau đây, trong ngôn ngữ minh bạch ngày nay:

- Là chủ thuyết về tái cấu trúc quốc gia, từ cấu trúc lạc hậu sang cấu trúc hiện đại

- Là chủ thuyết về sự tiến hóa của quốc gia, theo cách nhìn "Tiến hóa luận" của Chales Darwin: Hiện

đại hóa có nghĩa là tái cấu trúc chính mình thành một hệ thống khác, để những tệ lậu của chính mình không còn đất dung thân, và các giá trị văn hóa hiện đại có thể nảy nở, sinh tồn và vận hành

"Thoát Á", theo Fukuzawa, không phải là vứt bỏ các "giá trị Châu Á" Đương thời, Fukuzawa, cũng như các trí thức khác của Nhật, luôn đề cao khNu hiệu "Wakon Yousai", tức "和魂洋才", âm Hán Việt là "Hòa hồn Dương tài", nghĩa là kết hợp giữa linh hồn văn hóa cố hữu của Nhật Bản với trí tuệ, tri thức, công nghệ, kỹ thuật phương Tây

Ý thức về "tính hiện đại" là ý thức do văn minh Phương Tây, tiêu biểu là ba dân tộc Pháp, Anh và Đức, khai mở từ thời Phục hưng trở đi Do đó, trong ý thức của Fukuzawa đường thời, Phương Tây là

hệ hình của "tính hiện đại" cho phần còn lại của thế giới

Mặt khác, "Thoát Á luận" còn phản ánh một cách tư duy để đi đến cái đích ấy: phương pháp luận của hiện đại hóa chính là cách tư duy của Chales Darwin trong "Tiến hóa luận"

Giải thích "Thoát Á luận" bằng "Tiến hóa luận" không phải là một sự "liên tưởng ngẫu nhiên" mà có

cơ sở lịch sử của nó Đương thời, "Tiến hóa luận" của Darwin ảnh hưởng lớn ở Nhật, vượt ra ngoài

Trang 9

phạm vi của Sinh vật học Người ta áp dụng cách nhìn đó vào vào mọi lĩnh của đời sống, như kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống cá nhân của con người, thậm chí, cả trong tiến trình hiện đại hóa văn chương nghệ thuật

Trong "Thoát Á luận", chúng ta có thể thấy, tư duy của Charles Darwin trong "Nguồn gốc của các loài" (năm 1858), được thể hiện rõ ở hai điểm

Một là, tư duy theo tiến hóa luận của Darwin, khi một loài sinh vật di cư từ môi trường này sang môi

trường khác, hoặc, bản thân môi trường đang sống bị thay đổi đi, thì loài ấy phải tiến hóa sao cho cơ thể của mình thích ứng với điều kiện mới, nếu không, nó cũng sẽ bị tự nhiên đào thải

Một quốc gia cũng tương tự như vậy Trong "Thoát Á luận", Fukuzawa cho rằng, trong thời đại mà nền văn minh Châu Âu có sức mạnh bành trướng "nhanh như bệnh sởi", bất kỳ dân tộc nào đứng ngoài dòng chảy văn minh đó, tức không tiến hóa để thích ứng, tiêu biểu là Trung Quốc và Triều Tiên, đều bị "đào thải tự nhiên"

Ngày nay, chúng ta vẫn có thể nghĩ như vậy, trong thời đại của một nền kinh tế - khoa học mà sự phát

triển đích thực phụ thuộc vào sáng tạo Dân tộc nào không khai phóng được năng lực sáng tạo cho mình, cũng sẽ bị "tiêu diệt", dĩ nhiên không thành thuộc địa như trước đây nhưng với một hình thức khác, đau đớn không kém về mặt danh dự

Hai là, phương thức tiến hóa trong sinh giới, theo cách tư duy của Darwin, là sự thay đổi dần dần từng thành tố trong cấu trúc của sinh thể, và tùy theo mức độ áp lực của môi trường tự nhiên, mà thông qua đột biến gen, cũng có thể dẫn đến thay đổi hoàn toàn cấu trúc đó, hình thành nên loài mới

Thao tác của tiến hóa, do đó, là tái cấu trúc cơ thể của chính mình: bước đầu là mọc thêm vây, thay

đổi cấu tạo của đuôi, sau đó xuất hiện những bộ phận giúp thở ở cả trên cạn lẫn dưới nước, rồi tiến tới vứt bỏ phổi, thở luôn bằng mang

Hiện đại hóa của một quốc gia, theo cách nghĩ "Thoát Á luận" của Fukuzawa, cũng tương tự như vậy Trong "Thoát Á luận", ông chỉ ra rằng, với cấu trúc nhà nước đương thời của Nhật Bản, một nhà nước

phong kiến hết lòng ủng hộ canh tân nhưng vẫn là một cấu trúc nhà nước phong kiến, các giá trị hiện

đại không thể lan truyền, nghĩa là Nhật Bản sẽ là một "sinh vật" không thể trụ vững trước quy luật

"đào thải tự nhiên" trong làn sóng thực dân hóa

Do đó, "cơ thể" của Nhật Bản cần phải tiến hóa, có nghĩa là, cần phải tái cấu trúc Và đương thời, Nhật Bản đã tái cấu trúc rất mãnh liệt: xây dựng Quốc hội độc lập để giám sát Nhà nước, giáo dục về các giá trị của văn hóa dân chủ và triết học khai sáng của văn minh Châu Âu thay thế cho tư duy Nho giáo vốn đề cao sự phục tùng

KhNu hiệu "Thoát Á nhập Âu", trong ý nghĩa chính xác nhất của nó, là một minh triết về "phát triển":

"Phát triển" là tái cấu trúc chính mình để thích ứng với hoàn cảnh. Và "hiện đại hóa", trong tinh thần

của "Thoát Á luận", là giải cấu trúc cái hệ hình lạc hậu để tái cấu trúc theo một hệ hình hiện đại Hệ

hình đó không thể gì khác là Phương Tây Do đó, hiện đại hóa là Tây Phương hóa

Hiện đại hóa, Sáng tạo và Bản sắc

Ý thức về "hiện đại hóa", trong "Thoát Á luận", hoàn toàn đồng nghĩa với "Phương Tây hóa"

Điều này là một tất yếu bất khả kháng Vì toàn bộ nội hàm của khái niệm "hiện đại" đều là sáng tạo của Phương Tây, cả trong tư duy lẫn thực tiễn

Nhịp độ trưởng thành của các nước Châu Á song hành với nhịp độ Tây

Phương hóa, trước hết là trong tư duy Tuy vậy, cái mới không phải là cái khác với hôm qua, mà là cái

mang một sức sống mới, một sự sống mới Châu Á có những giá trị dẫu ra đời từ thuở bình minh của

Trang 10

lịch sử nhưng đến nay vẫn luôn là mới Khi Phương Tây hóa, Nhật Bản đã đánh mất rất nhiều "giá trị mới" ấy

Có một nghịch lý Hiện đại hóa thì phải Tây phương hóa, mà muốn Tây phương hóa thì phải "Thoát Á", tức vượt thoát khỏi chính truyền thống lạc hậu cổ hủ và kìm hãm sự tiến bộ của mình Nhưng khi

ấy, chúng ta lại rơi vào một bi kịch khác, bi kịch vong bản, đánh mất bản sắc, trở thành "Một" với nơi truyền bá

Như vậy, cần có một cách nhìn đúng, để sao cho chiến lược "giữ gìn bản sắc", tức chống lại "Tây

Phương hóa", và các loại "hóa" khác, ở phần còn lại của thế giới, không biến thành bảo thủ, thủ cựu, thành sự phòng thủ và kìm hãm sự tiến bộ.

Để "hiện đại hóa" và "bản sắc" không còn là hai cực đối lập, chúng ta phải nhìn quá trình tái cấu trúc

để hiện đại hóa như là một dạng thức của tiến trình sáng tạo Một dân tộc hiện đại hóa là một dân tộc

đang đi trên con đường sáng tạo nên chính bản thân mình, ở từng mảng khác nhau của cuộc sống

Ở đây, có một điều cần thức nhận Bản sắc, đó là nỗi ám ảnh của kẻ yếu Những dân tộc có sức sáng

tạo lớn không có nhu cầu băn khoăn về bản sắc, người ta chỉ trở nên bối rối với nó, khi đứng vào vị thế của kẻ kém cỏi trong khả năng sáng tạo, thiên về thâu nhận những sáng tạo của người khác mà hiếm hoi những hiến dâng.

Nói rõ hơn, khi đứng ở vị thế của kẻ sáng tạo, kẻ cống hiến, kẻ truyền bá, người ta có khả năng in hình ảnh của dân tộc mình lên trái tim và khối óc kẻ khác Khi đó, không có lý do gì để lo lắng cho bản sắc

cả Ngược lại, người ta chỉ xuất hiện nhu cầu về bản sắc khi đứng ở vị thế của kẻ thâu nhận, vì khi ấy, phải đối mặt với nguy cơ trở thành "Một" với kẻ sáng tạo

Đó là lý do vì sao, trong suốt nhiều thế kỷ, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản luôn nghĩ về "bản sắc" khi đứng trước Trung Quốc Ngày nay, chúng ta cũng đang nhìn hiện tượng toàn cầu hóa với một nỗi ám ảnh tương tự Và không chỉ chúng ta, cả những dân tộc từng góp phần chủ chốt định hình khái niệm

"hiện đại" cho nhân loại như Pháp và Đức, đến hôm nay, trong thời đại mà "toàn cầu hóa" gần như là

"Mỹ hóa", cũng bắt đầu có một nỗi lo "đánh mất"

Nỗi lo ấy là chính đáng và cần thiết Chỉ có điều, nó bị lệch hướng ở một điểm: người ta biến cuộc kiếm tìm bản sắc thành cuộc kiếm tìm một cái gì như là cốt lõi tận cùng bên trong, cái cốt lõi bất biến, được hiểu như là "linh hồn" hay là "bản thể" độc nhất của dân tộc mà chỉ mình có còn kẻ khác không

Đây sẽ vĩnh viễn là một cuộc kiếm tìm vô vọng Bởi nếu nhìn văn hóa dưới góc nhìn của sáng tạo, chúng ta sẽ phải bối rối mà thừa nhận rằng, mọi nền văn hóa, mọi giá trị văn học và nghệ thuật, hay cả những thành tựu kỹ thuật thúc đNy sự phát triển của lịch sử, không có cái gì có một bản thể của riêng

nó mà cái khác không có, ngược lại, tất cả những điều ấy chỉ sinh thành khi xuất hiện nơi mối liên hệ với kẻ khác, và chỉ tồn tại trên giao điểm của các giá trị khác Điểm giao thoa này mất đi, nó sẽ tiêu vong.

Nhìn vào mỗi một thành tố của văn hóa Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, các nền văn hóa Châu Âu, hay nền văn hóa có sức sáng tạo khổng lồ ngày nay, văn hóa Mỹ, nếu chúng ta kiếm tìm một cái hồn cốt duy nhất mà không dân tộc nào có, chúng ta sẽ không thể tìm thấy

Bởi lẽ, nếu bóc từng lớp cấu trúc của nó, vượt qua từng mặt của thế giới hiện tượng mà ta có thể trực

quan, và truy nguyên đến tận cùng bản chất của nó, chúng ta sẽ không thể tìm thấy một cái gì chỉ là nó

mà không là cái khác Mổ xẻ đến tận cùng thì còn lại một hư vô

Ngay cả những giá trị nổi tiếng của nền minh triết cổ đại của Hán tộc như Kinh Dịch và Nho giáo, nếu không nằm trên giao điểm với những cảm quan về thế giới của văn hóa Bách Việt thì không thể định hình một diện mạo như người ta đã thấy

Nhưng điều đó không có nghĩa là các dân tộc này không có một bản sắc, hay thậm chí không tồn tại

"bản sắc" trên thế gian này

Chỉ có điều, bản sắc không phải là cái hồn cốt biệt lập và cố hữu truyền lại từ cội nguồn Tư duy theo

cách của "Tiến hóa luận" Chales Darwin, thì trong con linh dương trên thảo nguyên có hình ảnh của cá

Trang 11

voi ngoài đại dương, trong bản chất của mỗi loài đều có một phần của loài khác, nhưng, loài người hiển nhiên là khác loài vượn, loài chim khác loài khủng long, dẫu cho mỗi loài hình thành dựa trên loài khác nhưng vẫn có bản sắc riêng, không hề nhập nhằng

Hơn thế nữa, bản sắc, một mặt, là cái chỉ định hình trên những giao điểm, và mặt khác, là cái người ta sống với nó như là chính mình. Chẳng hạn, đối với Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Phật Giáo là ngoại lai, nhưng đã trở thành bản sắc của mỗi dân tộc Nói chung, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc đều chịu ơn dân tộc khác

Ngày nay, bên cạnh tinh thần Thiền tông, cách tư duy của nền văn hóa dân chủ Châu Âu thấm đẫm trong tinh thần người Nhật, ít nhất là ở mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân Cách tư duy này, tương tự như Thiền trước đó, cũng là cái Nhật Bản du nhập, nhưng đã trở thành một nét bản sắc của

họ, bởi họ đã sống trọn vẹn tinh thần của mình với giá trị đó, ở những mảng thiết yếu của cuộc sống Bản sắc, do đó, không phải là cái có sẵn, mà còn là cái phải được sáng tạo ra Khi Thiền sư Thích Nhất Hạnh cắm một cội rễ Thiền Việt Nam trên mảnh đất tinh thần Phương Tây, hoặc ngay cả khi người Nhật đưa Thiền từ truyền thống vào cuộc sống hiện đại của chính họ, đó cũng là những quá trình sáng tạo, bởi người ta phải làm cho Thiền tiến hóa trong bối cảnh mới, tương tự như những giống loài trên mặt đất muốn vươn lên trời xanh thì phải mọc thêm cánh, không thể dùng đến tứ chi

Quá trình hiện đại hóa, nếu hiểu như cách hiểu của "Thoát Á luận" sẽ gồm hai bước Bước một, mô phỏng tính hiện đại của Phương Tây Bước hai, sáng tạo nên những giá trị hiện đại theo tiêu chí Phương Tây

Để giải quyết nghịch lý của "hiện đại hóa" và "bản sắc", chúng ta cần đi đến một bước thứ ba Đó là, đứng bên ngoài "chiếc hộp Phương Tây" để tư duy về tính hiện đại, và từ đây, làm cho chính mình trở

thành một trong những tiêu chí của giá trị hiện đại, sáng tạo thêm một nội hàm độc lập của tính hiện

đại , một tính hiện đại phi Phương Tây

Đối với "bản sắc", nhiệm vụ của mỗi dân tộc không phải là "giữ gìn" mà là "sáng tạo" ra nó, để loại bỏ

vị trí độc quyền đại diện cho "tính hiện đại" của những người tiên phong

Cái bản sắc mà các dân tộc ở Châu Á cần tìm kiếm không phải là những gì mà tổ tiên đã tạo ra trong

quá khứ, mà là bản sắc của tính hiện đại, trong thế tương giao với những kẻ tiên phong Nếu muốn

"hiện đại hóa" mà không "Tây Phương hóa", muốn không "Tây Phương hóa" mà vẫn không rơi vào

thủ cựu, đó là con đường duy nhất

Vì thế, văn hóa Việt Nam, thay vì tự ám ảnh về bản sắc như là cái cố hữu truyền lại từ cội nguồn, cần phải ám ảnh về sáng tạo Không tìm kiếm trong quá khứ cái mà kẻ khác không có, không có nghĩa là trở thành kẻ khác Ngược lại, sáng tạo, trong bản chất của nó, là kiến thiết cho đối tượng mới một bản sắc, để mình trở thành chính mình trong thế phân biệt với kẻ khác

Cần thoát khỏi tâm thế phòng thủ khi nhìn thế giới toàn cầu hóa, tư duy như kẻ mạnh, coi bản sắc là cái mình sống như là nó, không là những nhãn hiệu mình dán lên trán mình và trán kẻ khác; là cái đến cùng với sáng tạo, không nằm ở cái cố hữu; là cái sinh thành nơi những giao thoa, không phải là cái hồn cốt bất biến và biệt lập

Minh triết Việt trong sự tích Ông Táo (Phần 1)

Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Bài đã được xuất bản: 06/02/2010 07:30 GMT+7

Rất nhiều người quan niệm rằng tục cúng ông Táo là của người Hán du nhập vào văn hóa Việt Thậm chí nó được các học giả nói một cách rất nghiêm túc Nhưng nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh lại có quan điểm hoàn toàn ngược lại

Ông Tuấn Anh cho rằng: Chính nền văn hiến Việt trải gần 5000 huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử là nguồn gốc của phong tục cúng ông Công Ông Táo Khi nền văn minh này sụp đổ ở Nam Dương Tử và

bị Hán hóa trải hàng ngàn năm; khiến ngày nay người ta ngộ nhận tục cúng ông Công Ông Táo của người Hán

Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết của ông để bạn đọc tham khảo và tiếp tục thảo luận

Trang 12

Ông Táo trong truyền thuyết và phong tục Việt

Cứ mỗi khi năm hết Tết đến thì nhà nhà Việt Nam theo phong tục lại làm lễ cúng Ông Táo về trời Đây là một phong tục thuần Việt có từ thời Hùng Vương dựng nước và còn giữ lại trong truyền thống văn hóa Việt đến ngày nay

Bằng chứng gián tiếp cho điều này là từ thời Hùng vương thứ VI, vua Hùng đã chấm giải nhất cho hoảng tử Lang Liêu là người kế vị và bánh chưng bánh dày do hoàng tử Lang Liệu được đặc biệt dùng cúng tổ tiên trong ngày Tết

Từ đó, chúng ta dễ dàng suy ra rằng: Lễ Tết nguyên đán có từ thế kỷ XV trước CN - tương đương thời vua Bàn Canh của Ân Thương Từ đó chúng ta dễ dàng đặt vấn đề với lễ cúng Ông Táo về trời liên hệ đến ngày giáp Tết phải là phong tục của người Việt từ thời xa xưa Bởi vì, khi nền văn minh Hoa Hạ tiếp quản được nền văn minh ở Nam Dương Tử, đã Hán hóa những giá trị văn hóa Việt trong hơn

1000 năm và tiếp tục duy trì đến bây giờ, ở vùng đất cũ của Văn Lang xưa, khiến không ít người ngộ nhận tục cúng ông Táo của người Hán Nhưng chính vì nguồn gốc tục cúng Ông Táo trong văn hóa Hán chỉ là sao chép lại từ văn hiến Việt Nên nó chỉ là một tín ngưỡng thuần túy và không mang tính minh triết liên hệ với nội dung của nó Ngược lại, truyền thuyết của dân tộc Việt với hình ảnh Táo quân "Hai ông, một bà" và nội dung của nó lại trùng khớp hoàn toàn về nội dung với những giá trị minh triết Đông phương của chính cái mà người ta gọi là có nguồn gốc Hán

Chúng ta hãy xem lại truyền thuyết có dấu ấn cổ xưa nhất về ông Táo còn lưu truyền trong văn hóa Việt Tóm lược như sau:

Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ Khi đi tìm vì tiền bạc

đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin

Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng

Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao n trong đống rơm ngoài vườn Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo

Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ

Ngọc Hoàng cảm động trước mối chân tình của cả ba người, (2 ông, 1 bà), và cũng cảm thương cái chết trong lửa nóng của họ, ngài cho phép họ được ở bên nhau mãi mãi bèn cho ba người hóa thành

"ba đầu rau" hay "chiếc kiềng 3 chân" ở nơi nhà bếp của người Việt ngày xưa

Từ đó, ba người ấy được phong chức Táo Quân, trông coi và giữ lửa cho mọi gia đình, đồng thời có nhiệm vụ trông nom mọi việc lành dữ, phm hạnh của con người Táo Quân, còn gọi là Táo Công, là

vị thần bảo vệ cho cuộc sống gia đình, thường được thờ ở nơi nhà bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp

Theo tục lệ cổ truyền, người Việt tin rằng, hàng năm, cứ đến ngày 23 tháng Chạp âm lịch, Táo Quân lại cưỡi cá chép bay về trời để trình báo mọi việc xảy ra trong gia đình với Ngọc Hoàng Cho đến đêm Giao thừa Táo Quân mới trở lại trần gian để tiếp tục công việc coi sóc bếp lửa của mình

Vị Táo Quân quanh năm ở trong bếp nên biết hết mọi chuyện hay dở tốt xấu của mọi người Cho nên để Vua Bếp "phù trợ" cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa Ông Táo

về chầu Ngọc Hoàng rất trọng thể Người ta thường mua hai mũ Ông Táo

có hai cánh chuồn và một mũ dành cho Táo Bà không có cánh chuồn, ba cái áo bằng giấy cùng một

Tranh dân gian Việt - bản khắc gỗ

Trang 13

con cá chép (còn sống hoặc bằng giấy, hoặc cũng có thể dùng loại vàng mã gọi là "cò bay ngựa chạy")

để làm phương tiện cho "Vua Bếp" lên chầu trời

Ông Táo sẽ tâu với Ngọc Hoàng về việc làm ăn, cư xử của mỗi gia đình dưới hạ giới Lễ cúng thường diễn ra trước 12h trưa, sau khi cúng xong, người ta sẽ hóa vàng đồ lễ, nếu có cá sống thì sẽ đem thả xuống sông, hồ, biển hay giếng nước, tùy theo khu vực họ sinh sống

Càng tiến dần vào trong Nam thì tục cúng ông Táo về trời có một chút thay đổi Nhưng lễ cúng Táo Quân ở miền Bắc với một nghi lễ không thể thiếu là Cá Chép là mang tính nguyên thủy hơn cả

Qua truyền thuyết của dân tộc Việt truyền lại, chúng ta thấy rằng hình ảnh hai ông một bà - tức một

Âm hai Dương hoàn toàn trùng khớp với quẻ Ly trong Kinh Dịch

Vết lõm trên ông đầu rau trong bếp Việt xưa

Ba vị Táo quân trong phong tục Việt cũng phù hợp với thực tế cái bếp xưa của Việt tộc cũng chỉ có ba miếng đất gọi là: Ông Đầu rau

Một trong những nét độc đáo khi tạo ba ông đầu rau để nấu bếp là khi nặn bao giờ người thợ nặn cũng lấy ngón tay ấn nhẹ vào giữa một trong ba ông này, tạo thành một vết lõm tròn Và ông đầu rau có vết lõm đó bao

giờ cũng đặt vào giữa

Bây giờ, bếp ga, bếp dầu ầm ầm Xưa nhất cũng là cái kiềng ba chân bằng sắt

phổ biến ở thành thị Ông Đầu rau bằng đất dù ở vùng sâu, vùng xa cũng chắc

không còn nữa Huống chi một vết nhấn tròn giữa một ông đầu rau, chắc chẳng

ai còn nhớ Cho nên, điều mà người viết nói ở đây, may ra chỉ còn trong ký ức

của những người cao niên, ở một miền quê xa xôi nào đó Ý nghĩa của vết lõm

này chính là dấu hiệu của tính bao trùm mà tiếng cổ Việt ngày xưa gọi là "Cái'

Tức Táo bà Quẻ Ly thuộc Dương, nhưng lại ở phía dưới Hà Đồ, nên tính Âm

mới bao trùm lên tất cả Bởi thế tính Âm mới làm cái trong ba ông Đầu rau

Chính vì vậy, Ly là Trung Nữ

Trong bức tranh dân gian Việt mà các bạn thấy ở trên táo bà ngồi giữa hai ông

thì trong quẻ Ly hào Âm cũng đứng giữa Quẻ Ly thuộc Hỏa nên biểu tượng cho

bếp cũng thuộc Hỏa Biểu tượng trong truyện dân gian "cả ba người cùng chui trong đống lửa" đấy chính là hình tượng của ba ông đầu rau trong bếp mỗi nhà

Lạc Thư Chu Dịch trong phong tục cúng Táo Quân của người Việt Một hình ảnh gắn liến với lễ Táo Quân chính là con cá chép Tại sao về trời mà Táo quân lại cưỡi cá chép? Sao không phải là cưỡi chim? Ông cha ta có lầm lẫn gì không? Hoàn toàn không! Khi mà tổ tiên người Việt đã để lại cho hậu thế một nền văn hiến vĩ đại Con cá chép thuộc hành thủy Trong những di sản văn hóa phi vật thể là những bức tranh dân gian Việt chúng ta thấy trang đàn lợn với một lợn mẹ

và năm lợn con Đây chính là hình tượng của "Thiên Nhất sinh thủy - Địa lục thành chi" Chúng ta cũng thấy hình tượng này trong tranh cá chép làng Đông hồ: Một con cá mẹ với năm con cá con

Cá thuộc hành Thủy, tượng của quẻ Khảm:

Và hình tượng Táo quân cưỡi cá chép, chính là biểu tượng của quẻ Hỏa Thủy Vị tế trong kinh Dịch Đây là quẻ cuối cùng kết

thúc một chu kỳ 64 tư quẻ Dịch Biểu tượng cho chu kỳ tuần hoàn của tạo

hoá trong một năm đã kết thúc và chuyển sang một chu kỳ mới và mọi việc

vẫn còn tiếp tục để một năm mới tốt lành Đó là tinh thần của quẻ Vị Tế

Minh triết Việt trong sự tích Ông Táo (Phần 2)

Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Bài đã được xuất bản.: 07/02/2010 07:00 GMT+7

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế

Biểu tượng Táo Quân (Hỏa)

cưỡi trên lưng cá chép (Thủy).

Trang 14

Tại sao Ông Táo lại về trời lại là ngày 23 tháng Chạp mà không phải là ngày 30? Theo lý học

Ngày 23 tháng Chạp, Ông Táo về trời

Sách cổ chữ Hán chỉ ghi nhận mùng 5, 14, 23 là ngày Nguyệt kỵ và không một lời giải thích Trong truyền thuyết dân gian Việt thì cho rằng "Đó là những ngày vua đi, nên kiêng ra đường"

Tôi đã chứng minh trong một tiểu luận rằng: Đây chính là phép du niên phiên tinh ngày, tính theo tháng Ngày của sao Ngũ Hoàng nhập trung theo chu kỳ cửu cung "Vạn vật qui ư thổ" hay nói theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì đây chính là ngày kết thúc chu kỳ của Ngũ Hành vào tháng cuối cùng trong Năm

Kết thúc chu kỳ Ngũ hành vào ngày 23, đồng thời cũng là kết thúc chu kỳ của 64 quẻ Dịch Hành thổ thuộc trung cung thuộc ngôi Hoàng cực chi phối Ngũ Hành - Theo Lý học Đông phương - thuộc về Hoàng tộc, nên là ngày của Vua Bếp - Táo Quân về trời

Y phục của Táo Quân và vì sao Táo Quân không mặc quần?

Bức tranh dân gian Việt ở trên vẽ ba vị Táo Quân, đều mặc quần nghiêm chỉnh, với những hàng chữ Hán phía trên Bức tranh này hẳn được sáng tác kể hàng ngàn năm sau khi nền văn minh Văn Lang sụp đổ ở miến Nam sông Dương Tử Bởi vì, trong phong tục còn giữ lại được đến ngày nay trong dân gian Việt thì Táo Quân không mặc quần Điều này cũng giống như hàng ngàn năm trôi qua, những con rối nước trong văn hóa dân gian Việt được vẽ cái vạt áo bên phải vậy Hiếm lắm, trong kho tàng chất những con rối nước cổ bỏ đi, may ra còn những con rối xưa cài vạt áo bên trái Vậy Táo Quân không mặc quần có ý nghĩa gì trong truyền thống Việt?

Lịch sử Trung Hoa ghi lại: Chính cái quần là của các dân tộc phía Bắc Trung Hoa và không thuộc về y phục Hán cổ Vào cuối thời Xuân Thu, đầu thời Chiến Quốc, Triệu Vũ Vương mới đưa cái quần vào làm y phục chính thức của nước Triệu Và y phục này thích hợp với các chiến binh trong các cuộc chiến liên miên giữa các quốc gia so với vải quây che phần thần dưới trước đó Sau này chiếc quần mới phổ biến trong thất Quốc và do các chiến binh mặc và trở thánh y phục của Trung Hoa Nhưng Người Việt, với tư cách là một nhà nước độc lập ở Nam Dương

Tử, tất nhiên không thể tiếp thu một cách nhanh chóng y phục quần của các dân tộc phi Hán ở Phương Bắc Trung Quốc Điều này cho thấy rằng: Phong Tục thờ Táo Quân phải có từ rất lâu, trước cả khi dân tộc Hán bị xâm nhập văn hóa mắc quần của các dân tộc phái Bắc này và còn giữ đến bây giờ Và điều này như tôi đã phân tích ở trên: Nó phải có trước thời Vua Hùng Vương Thứ VI quyết định dùng bánh Chưng bánh dầy vào lễ Tết của dân tộc Việt Còn nếu như thời Hùng Vương chỉ ra đời vào Thiên Niên kỷ thứ nhất trước CN và Tết Việt Nam là văn hóa Hán là chủ nhân đích thực của văn hóa Đông phương thì ông Táo Việt đã mặc quần như bức tranh dân gian sáng tác về sau này mà bạn đọc đã nhìn thấy ở trên Qua sự minh chứng và phân tích ở trên, chúng ta cũng nhận thấy rằng: Đằng sau một phong tục cổ truyền của dân tộc Việt - tục cúng "Ông Táo về trời" là cả một sự minh triết liên quan chặt chẽ đến nền

Mũ Ông Công Ông Táo trên khắp

chợ cùng quê trong nền văn hiến

Việt còn đến ngày nay

Trang 15

Lý học Đông phương - mà từ lâu tôi đã minh chứng - thuộc về nền văn hiến huyền vĩ Việt, một thời huy hoàng ở miến Nam sông Dương Tử Có thể nói rằng: Không phải ngẫu nhiên mà có sự trùng khớp

hợp lý gần như toàn bộ nhứng nét chính của phong tục cúng ông Công, ông Táo với những quan niệm có tính nguyên lý của Học thuật cổ Đông phương Sở dĩ có sự trùng khớp hợp lý đến kỳ lạ này, chính vì nó là hệ quả của nền minh Đông Phương thuộc về nền văn hiến Việt được đưa vào cuộc sống văn hóa Việt qua phong tục cúng đưa "Ông Công, Ông Táo về trời"

Vấn đề cũng không chỉ dừng lại ở đây Khí chính chiếc mũ Ông Công, Ông Táo được bán đầy ở khắp kẻ chợ , thôn quê ngày nay lại là một hình tượng được cách điệu bằng giấy của

chiếc mũ các vua Hùng trên trống đồng Lạc Việt: Kỳ diệu thay nền văn hiến Việt Mong rằng các thế

hệ sau đừng vội quên đi nguồn cội của thời Hùng Vương dựng nước mở đầu cho tập Việt sử trải gần

5000 năm văn hiến

Minh triết Việt và minh triết Hồ Chí Minh

Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến – Bài đã được xuất bản: 14/02/2010 17:00 GMT+7

Trên đại thể, minh triết là “đạo lý đời thường” Đạo lý này có tính chất đời thường vì, cũng như tính Phật, nó sẵn có ở mọi người Nói cách khác, ai cũng có thể có minh triết

LTS: Bằng những suy nghĩ có liên quan đến chủ đề minh triết của hai học giả Việt Nam: Ngô Thời Sĩ (1740-1786) và Kim Định (1914- 1997)[i] độc giả Hoàng Ngọc Hiến đã có bài luận góp phần định nghĩa minh triết, xác định đa nguồn minh triết Việt và minh triết Hồ Chí Minh Theo tác giả, "minh triết là tính sáng khôn, thiên về diễn ngôn thoáng gọn, chủ yếu được sống và sống ở bình diện đạo lý đời thường, tuy vậy không xa lạ với đạo lý thánh hiền, thiên về cảm hóa lòng người hơn là quở trách thói đời" Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết bốn kỳ của ông để mọi người cùng suy ngẫm

Bài 1: Không phải cứ muốn là thành triết gia

Ngô Thời Sĩ có phân biệt "đạo lý thánh hiền" và "đạo lý đời thường": "Đem đạo thánh hiền để quở trách thói đời không bằng đem đạo đời thường để cảm hoá lòng người"

Trên đại thể, minh triết là "đạo lý đời thường" Đạo lý này có tính chất đời thường vì, cũng như tính Phật, nó sẵn có ở mọi người Nói cách khác, ai cũng có thể có minh triết Nhưng triết lý thì khác, triết luận đòi hỏi năng lực tư duy đặc biệt, không phải cứ muốn thì trở thành triết gia

Đời thường còn có nghĩa là kinh nghiệm trong cuộc sống thường nhật Trí khôn, trí tuệ, trí thức của minh triết bao giờ cũng gắn với kinh nghiệm sống đời thường, vốn nảy sinh từ những kinh nghiệm này Đây là một đặc tính quan trọng của minh triết Còn triết lý thì thiên về thuần lý và có xu hướng thoát ra khỏi "tính cục bộ", "tính cụ thể" của kinh nghiệm Đến đây dựa vào những đặc trưng của ý thức minh triết và nhất là tư tưởng hiền minh của Ngô Thời Sĩ, tôi mạnh dạn đưa ra một định nghĩa về minh triết như sau: "Minh triết là tính sáng khôn, thiên về diễn ngôn thoáng gọn, chủ yếu được sống và sống ở bình diện đạo lý đời thường, tuy vậy không xa lạ với đạo lý thánh hiền, thiên về cảm hóa lòng người hơn là quở trách thói đời" Dùng từ "tính sáng khôn", tôi muốn hiểu minh triết cũng như tính Phật là tính sẵn có trong lòng người, nói như Nhất Hạnh, nó là "hạt giống tốt" vốn có ở mọi người Cân nhắc giữa 3 từ: "trí khôn", "sự khôn ngoan", "tính sáng khôn", cuối cùng tôi chọn từ "tính sáng khôn", "tính sáng" như là một thuộc tính của "minh tâm" và Phật tính là một từ của nhà Phật được nhắc đến nhiều lần

Trong bài "Cư trần lạc đạo phú" nổi tiếng của Trần Nhân Tông (1258-1308)[ii], "tính sáng" là "đạo",

"khôn" là "đời", minh triết vừa là "đạo", vừa là "đời", nó là "tính sáng khôn" Tôi nhấn mạnh: "chủ yếu

Hình người trên trống Đồng Lạc Việt với mũ có hình

đầu rồng (bên phải) và hai dải mũ cao vút

Hình minh họa Nguồn ảnh: fineartamerica.com

Trang 16

được sống và sống" bởi lẽ lẽ sống của nhà hiền triết là "sống" và "sống" minh triết chứ không phải

"nói" và"nói" minh triết

Tôi nhấn mạnh thuộc tính "thiên về cảm hóa lòng người " vì ở trạng thái nhân thế hiện nay, ở xã hội

ta cũng như trên toàn thế giới, ý thức con người thiên về "phá" hơn là "xây", những thiện chí "cảm hóa lòng người" bị "lép vế", bị lấn át, thậm chí bị áp đảo trước những cơn cuồng nộ quở trách, chửi rủa vô tội vạ "thói đời" Cảm hứng chủ đạo của minh triết là "xây dựng" bằng "sự cảm hóa lòng người" Trong tiểu luận "Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây"( 1960) của Kim Định (1915-1997), tác giả đề nghi ước lệ phân biệt 3 ý niệm: triết lý, minh triết, triết học Cho đến nay vẫn lưu hành một thành kiến cho rằng chỉ phương Tây mới có triết lý, phương Đông có tư tưởng, có Đạo học, có minh triết nhưng không có triết lý Với một cách ước định riêng thuật ngữ "triết lý", Kim Định khẳng định: có triết lý phương Tây và có triết lý phương Đông ngay từ thời cổ (cổ đại và trung đại)

Tư duy triết lý phương Đông mang những đặc điểm của tư duy minh triết mà những nét tiêu biểu nhất là:

- "Lấy cứu cánh con người làm trọng tâm suy nghĩ, lấy sự thực hiện đến rốt ráo cái tính bản nhiên con người làm mục tiêu (tận kỳ tính) [réaliser l'humanité] " (xem tr.3)[iii]

- Những lời huấn đức minh triết được trình bày "tuy vắn tắt kiểu châm ngôn nhưng có hiệu lực muôn đời như: Pythagore, Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca v.v (H.N.H.tô đậm]" (xem tr.2)

- Những nhà hiền triết "lo sống cái minh triết hơn là nghĩ đến viết ra sách vở (H.N.H.tô đặm)" (xem tr.2); họ cố gắng thực hiện minh triết "không phải ngoài cõi nhân sinh mà ngay trong đời sống, trong lối cư xử, trong cử chỉ"

- Phương pháp của tư duy minh triết "là thể nghiệm, trực giác, không dùng đến lý luận, phân tích (H.N.H.tô đậm)", "lý chứng, luận bàn" (xem tr.3), đương nhiên là không xây dựng hệ thống

Tư duy triết lý phương Tây thiên về kiểu "tư duy triết học" mà những đặc điểm chính được Kim Định xác định như sau:

- "Không lấy con người mà lấy thiên nhiên sự vật làm trung tâm suy tư, con người chỉ được bàn đến một cách phụ thuộc, hay đúng hơn bằng những phạm trù của sự vật" (xem tr.4)

- "Triết Tây hầu hết là duy niệm, nghĩa là chỉ dùng có ý niệm suông, ngoài mọi tình cảm, ngoại lý (irrationnel) và tiềm thức Những khoản này mới được chú ý đến từ ít chục năm sau đây (H.N.H tô đậm)" (xem tr.22)

- "Phương pháp: theo lối khoa học phê phán và phân tách, cố tìm ra những ý niệm độc đáo và tích luỹ

sự kiện để kết thành những hệ thống mạch lạc chặt chẽ "

- "Mục tiêu lấy tri thức làm cùng đích."

- Trong khi minh triết "được giấu vào trong cử chỉ, thể hiện vào đời sống và trong cả sự im lặng " thì những hệ thống triết học "kiểu nhà trường" được quăng ra, nằm "chình ình bên cạnh đời sống."

Vài thế kỷ gần đây do sự tiếp xúc Đông - Tây ngày càng mở rộng và có chiều sâu, sự tương tác giữa triết học phương Tây và minh triết phương Đông ngày càng có hệ quả rõ rệt

Một mặt, "triết học Tây phương hiện phát động một phong trào di cư vĩ đại: di cư từ những nền móng

cũ đến định cư trên những nguyên lý mới" (tìm thấy ở minh triết Đông):

- "Nguyên lý biến dịch thay vào ý niệm bản thể im lìm"

- "Nguyên lý cơ thể [iv] thay vào ý niệm cơ khí "

- "Bớt chú trọng thiên nhiên để nhấn mạnh đến thân phận con người."

- Ngoài khái niệm duy lý, có chú ý đến "tình cảm, ngoại lý (irrationel), tiềm thức" (xem tr.7)

Mặt khác, "Đông phương chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Tây phương: 1) về phương diện lý luận trình bày và chú ý đến phần lịch sử hơn; 2) đưa vào một óc phê phán được thức tỉnh và không chấp thuận

Trang 17

dễ dàng mọi huấn điều tiền nhân; 3) dùng sự mổ xẻ phân tích dưới nhiều khía cạnh khác nhau để làm sáng tỏ vấn đề" (xem tr.7) Ngày nay, muốn bàn về minh triết Đông, không thể không biết triết học Tây, phải nghiên cứu những phạm trù và lịch sử của nó

(Còn nữa )

****************

Chú thích

[i] Kim Đinh, giáo sư, triết gia, linh mục Thiên chúa giáo

[ii] "Yêu tính sáng yêu hơn châu báu" (Hội thứ nhất, Cư trần lạc đạo phú)

"Gìn tính sáng tính mới hầu an" (Hội thứ hai)

"Di Đà là tính sáng soi" (Hội thứ hai)

"Gìn tính sáng, chớ lạc tà đạo" (Hội thứ ba)

[iii] Số trang của bài"Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây" PDF trên mạng

[iv] Tức là "nguyên lý hữu cơ"

Minh triết là trí tuệ được nhào nặn bởi kinh nghiệm

Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến – Bài đã được xuất bản: 15/02/2010 15:00 GMT+7

Tiểu luận về "hai nền triết lý Đông - Tây" của Kim Định nêu nhiều vấn đề đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự >>Minh triết Việt và minh triết Hồ Chí Minh

Tư trào phục hưng minh Triết mới đột khởi ở phương Tây cách đây mươi năm trong khi Kim Định cách đây nửa thế kỷ (bài tiểu luận được viết trong những năm 1956-1961) đã khẳng định con đường đế vương của minh triết trong lịch sử tư tưởng nhân loại thời quá khứ, hiện tại cũng như trong tương lai Rất tiếc do phạm vi của chủ đề, trong bài này, chúng tôi chỉ có thể nêu phần nào vài ba vấn đề

Trong lịch sử tư tưởng phương Tây, ngay từ đầu nguồn của triết học, triết lý đã được đặt trong tương quan với minh triết[i] Minh triết là bất cập với con người, chỉ Thượng đế mới có minh triết (sophia) Triết gia chỉ dám nghĩ đến sự vươn tới minh triết với tư cách là người quí mến minh triết, cũng có thể đây là một cách bày tỏ thái độ khiêm nhường, khỏi bị nghi oan là báng bổ, dám sánh ngang với Thượng đế Như vậy ở đầu nguồn của triết học, minh triết (sophia) là trên-triết học (philosophia) Triết học phương Tây phát triển qua các thời đại Đặc biệt đến t.k.XVIII, triết luận trở thành một hoạt động bộ môn quy củ chuyên sâu, đã có thể nói đến sự hình thành của giới triết gia chuyên nghiệp Cuối t.k.XVIII, đầu t.k XIX, những thành tựu rực rỡ của triết học cổ điển Đức phát huy thanh thế của triết học Có sự thay đổi trong tương quan giữa minh triết và triết học

Không ít triết gia phương Tây xem minh triết là người bà con nghèo của triết học Minh triết bị lép vế, không có sức thuyết phục chứng minh của tri thức khoa học, triết học, cũng không cú sự linh diệu thần khải của tín điều tôn giáo So với tư duy triết học có những bay bổng mê hồn thi những lời bàn của minh triết xem ra tẻ nhạt, u xìu, ngán ngNm, tủn mủn, không có góc cạnh "Minh triết -Wittgenstein, một triết gia Anh gốc Áo (1889-1951) viết:

là cái gì đó nguội lạnh và lNn thNn Cũng có thể nói như thế này: minh triết chỉ che đậy cuộc sống, làm cho ta không thấy được nó Minh triết giống như tro xám, nguội lạnh phủ lên than hồng" Sự phát triển lịch sử làm nổi bật một ưu thế lớn của triết học: triết học có lịch sử, nhiều lịch sử, nhưng chưa bao giờ có lịch sử minh triết (chỉ có lịch sử tư tưởng của một bậc minh triết).Với sự phát triển của triết học phương Tây hiện đại, dưới con mắt của nhiều triết gia phương Tây hiện đại, minh triết trở thành cái gì đó dưới triết học Nhưng theo quan niệm của nhà triết học Pháp Francois Jullien, minh triết không "dưới"(sous-) "triết học" mà là "hạ tầng"(infra-) của triết học"

Từ những năm cuối t.k.XX, ở phương Tây, đặc biệt ở Mỹ, có một trào lưu phục hưng minh triết ngày càng rộng lớn, nhằm trả lại cho minh triết địa vị và vai trò xứng đáng của nó trong đời sống tinh thần của nhân loại Có học giả đánh giá đây là một trào lưu Khai sáng thứ hai

Hình minh họa Nguồn ảnh: mjbell8.files

Trang 18

Chỉ cần mở trang Web "Wisdom Page" (Trang Minh triết) là có danh sách hàng trăm tiểu luận và công trình về Minh triết được giới thiệu nghiêm túc, có hệ thống, phân tích cặn kẽ Đặc biệt từ 2005 đến

2006, trên mạng số bài mục về minh triết tăng 600%, tổng số trang Web có từ wisdom (minh triết) lên đến 17 triệu trang Tôi đặc biệt chú ý đến mấy sự kiện sau đây:

- Càng ngày càng có nhiều học giả lên tiếng thay "kinh tế trí thức" bằng "kinh tế minh triết", thay

"giáo dục trí thức" bằng "giáo dục minh triết" Kinh tế trí thức đơn thuần không có minh triềt cũng như giáo dục trí thức đơn thuần không có minh triết đang đưa nhân loại đến bờ vực thẳm

- Để xây dựng xã hội cần có vốn Những năm 60 thế kỷ trước, vốn trước hết là tiền mặt Những năm

70, vốn là trí thức Những năm 80, có xu hướng đề cao vốn xã hội (tức là ý thức gắn bó với xã hội, với tập thể và cộng đồng) Ngày nay, có nhiều học giả đưa ra yêu cầu đặt vốn minh triết lên trên hết

- Một công trình đồ sộ có nhan đề Wisdom Bible (Kinh thánh Minh triết) đã được biên soạn, thu thập những viên ngọc "minh triết" của những nền văn minh cổ của nhân loại: Trung Quốc (Đạo đức kinh, Đại học, Trung dung ), Ấn Độ (Kinh Upanishad, Đạo Hin đu, Kinh Phật), Trung Đông (Đạo Do Thái, Đạo Hồi, Kinh Coran), Hy - La (Platon, Epicure, Epictete [chủ nghĩa khắc kỷ] , Boece [cổ La Mã] ) Điều đáng chú ý là có những văn bản của những triết gia đích thực cũng được đưa vào bộ Kinh Thánh Minh triết này (có nghĩa là sự phân biệt minh triết và triết học chỉ có tính chất tương đối)

Định nghĩa Minh triết là gì là một việc rất khó Một câu nói hóm của một học giả: "Tìm cách định

nghĩa minh triết, đó là bằng chứng của sự thiếu minh triết" Đại học tổng hợp Chicago vừa đưa ra Dự

án đề tài: Định nghĩa Minh triết với kinh phí trợ cấp 2.000.000$, học giả bất cứ nước nào đều có thể tham gia

Tôi bằng lòng với việc đưa ra một số ví dụ:

- Thời bom Mỹ, trong những láng giềng của tôi, có một cháu bé hơn mười tuổi, học lớp 3 Một lần đi

sơ tán về, cháu nói: "Bác ạ, mình cứ nói người nhà quê ra Hà Nội thì đần, cháu thấy người Hà Nội về nhà quê cũng đần Hôm đầu, cháu chịu không biết làm thế nào để rửa chân, mãi mấy hôm sau cháu mới biết cách"

Câu nói của cháu làm tôi sửng sốt, đây là một nhận xét minh triết Có những công trình học thuật giầy cộp mà không có nổi một nhận xét độc đáo, sâu sắc như của cậu bé Thường thì càng cao tuổi người ta càng hiền minh Nhưng không nhất thiết vậy Đối với sự phát huy minh triết, học vấn không phải là thừa Nhưng chỉ có trình độ tiểu học vẫn có thể có những suy nghĩ hiền minh Từ ví dụ này có thể thấy một sự khác biệt giữa triết học và minh triết: một học sinh lớp ba một dòng triết học cũng không hiểu nổi vẫn có thể nói một câu minh triết độc đáo và sâu sắc

- Tôi có đọc một công trình lý luận tác giả viết những trang rất hay về vấn đề tư hữu Nhưng vấn đề

chỉ sáng bừng lên khi tôi đọc đến câu của Balzac được tác giả, trích dẫn: "Người mà không có gì là kẻ không ra gì" Câu của Balzac là minh triết Mác đã viết những trang cứ liệu uyên bác, lập luận đanh thép để đi đến một kết luận quyết liệt: bãi bỏ tư hữu Giá như Mác có thêm được minh triết của Balzac chắc chắn ông suy nghĩ khác và học thuyết của ông không phải là chủ nghĩa Mác như chúng ta biết

- Tôi có hỏi Nguyên Ngọc về minh triết các dân tộc Tây nguyên, anh dẫn một câu "xanh rờn" từ một

bản trường ca: "Đàn ông là sấm, đàn bà mới là sét"

- Người Mông có câu: "Con ai không biết, vợ ta đẻ ra là con ta" Câu này làm vỡ tung những ước lệ

đạo đức và phong tục nhưng xét đến cùng thì minh triết của nó chứa đựng một tinh thần nhân văn rất cao

- Người Tày ở Ba Bể (Bắc Kạn) có tục lệ hễ trong nhà làm thịt gà thì bao giờ cũng cắt "hai đùi gà" dành phần cho trẻ con, nếu trong nhà không có trẻ con thì đem cho trẻ em hàng xóm Đó là minh triết Minh triết sống động của tục lệ tốt đẹp này có khi có sức thuyết phục hơn "trăm bài diễn văn tuyên truyền" "bảo vệ quyền lợi trẻ em"

- Hôm vừa rồi, đến thăm chùa Quang Ân (Hà Đông cũ) tôi thấy môt bức trướng ghi lai 14 lời khuyên

của Phật, do Thương tọa Kim Cương Từ sưu tầm Câu đầu tiên: "Kẻ thù lớn nhất đời người là chính mình " Câu cuối cùng: "An ủi lớn nhất đời người là làm bố thí" 14 câu, câu nào cũng hay Tôi nghĩ

Trang 19

bụng giá như học sinh của chúng ta ngay trên ghế nhà trường đã được học những câu này, những ý nghĩ minh triết giản đơn, không bao giờ cũ

- "Người là muối của đất Nhưng nếu như muối mất vị mặn, làm sao nó có thể mặn trở lại Chẳng còn cách nào khác là đem vứt đi, để rồi người ta dẫm đạp lên " Không thể nào quên được câu nói đậm đà minh triết này của thánh Matthew

- Troy Dunn có đưa ra một năng lực của minh triết: đó là "năng lực có những lựa chọn đúng và đưa ra những quyết định tối ưu trong khi chưa có thông tin đây đủ" Nhận xét này giúp chúng ta nhận ra những người minh triết thường gặp trong cuộc sống

- Trí, nhân, dũng, bộ ba phNm giá này hết sức quen thuộc với chúng ta, có thể xem đây là lý tưởng của minh triết Trong lý tưởng này, trí gắn với nhân là tuyệt đẹp nhưng không có dũng thì chỉ làm cảnh thôi Hành động ít nhiều đòi hỏi lòng dũng cảm Mà không hành động là không có gì Lòng dũng cảm

có khi còn quan trọng hơn sự hoàn thiện trí và nhân Trí gắn với nhân tức là gằn với những giá trị đạo đức, tinh thần Đây là một đặc tính hết sức quan trọng của minh triết

"Kinh tế trí thức" rất hấp dẫn nhưng hàm chứa nguy cơ trí thức và lý thuyết một khi "lộng hành" sẽ gạt phăng các giá trị tinh thần, đạo đức Do đó mới có sự đề xuất "kinh tế minh triết" "Giáo dục trí thức" cũng rất hấp dẫn nhưng cũng hàm chứa nguy cơ Xu thế càng ngày càng có tính chất áp đảo của giáo dục toàn thế giới là sự truyền đạt tri thức và kỹ năng hầu như trở thành mục tiêu duy nhất của giáo dục, làm lu mờ mục tiêu giáo dục những giá trị chi phối người sinh viên sử dụng những trí thức và kỹ năng đó như thế nào và làm gì Xu thế này cũng là một nguy cơ đáng lo ngại đối với nền giáo dục Việt Nam Hiện nay, hầu như không có triển vọng nào ngăn ngừa xu thế này Trên thế giới tiếng nói của những học giả đòi hỏi cải tạo một cách cơ bản nền giáo dục hiện nay thành nền "giáo dục minh triết" còn hết sức yếu ớt Không mấy ai quan tâm đến nguyên lý giáo dục của Gandhi được đề ra từ đầu thế

kỷ trước: "Giáo dục cơ sở phải lấy minh triết và lòng từ thiện làm nền tảng." Những biểu hiện của

minh triết có tính chất tổng thể: vừa là chân, mỹ, thiện; vừa là tri thức, kinh nghiệm; vừa là trí tuệ, tâm hồn, ý chí; vừa là vốn sống, lối sống, phương pháp tư duy ChuNn bị cho một định nghĩa thấu đáo và đầy đủ hơn về minh triết, tôi thử đưa ra mấy nét đặc biệt của minh triết như là nhận thức và lối sống:

- Minh triết gắn với nghiệm sinh

- Minh triết quan tâm đến sự cân bằng, hài hoà

- Minh triết thể hiện trong lối sống

Minh triết gắn với nghiệm sinh (le vécu) Jerry Ortiz y Pino đã nêu đặc điểm này thành một yêu cầu tất yếu: Minh triết không phải là cái gì đó bNm sinh Thông minh là bNm sinh Linh lợi là bNm sinh Năng động cũng vậy.Nhưng minh triết thì không Nó chỉ đến từ sự sống, từ sự phạm sai lầm - hoặc giả từ sự nghe những người khác đã phạm sai lầm và học hỏi được ở họ "

Yêu cầu này được tuyệt đối hoá trong một câu kinh Phật nổi tiếng: "Chớ có tin vào đức tin của những truyền thống, dù cho chúng đã được vinh danh lâu đời qua nhiều thế hệ và ở nhiều nơi Chớ có tin vào một điều nào chỉ vì có nhiều người nói đến nó Chớ có tin vào đức tin của những bậc hiền minh trong quá khứ Chớ có tin vào những gì mà anh tưởng tượng rằng Thượng đế truyền gợi cho anh Không tin

gì hết nếu như chỉ có uy tín của những bậc thầy của anh hoặc của những nhà sư của anh Sau khi xem xét hãy tin vào những gì chính anh đã thể nghiệm hoặc nhìn nhận là hợp lẽ, những gì phù hợp với phúc lợi của anh và của những người khác" (Siddârtha, Kâlâma sutta)

Minh triết là "trí tuệ được nhào nặn bởi kinh nghiệm".

"Những người tốt sở dĩ tốt vì họ đã đến với minh triết thông qua thất bại"

"Cuộc sống là người khuyên bảo dích thực duy nhất của chúng ta; minh triết chưa được lọc qua kinh nghiệm riêng tư thì chưa trở thành một phần trong cốt cách đạo đức "

Nhìn chung minh triết thuận cho sự tích hợp với nghiệm sinh hơn triết học Chủ nghĩa Freud, chủ nghĩa hiện sinh Pháp do còn gắn với nghiệm sinh nên đã có thời trở nên hết sức phổ cập Nhưng trên đại thể, do cách tiến hành của tư duy triết học thiên về thuần lý nên triết lý dễ tách rời nghiệm sinh

Trang 20

Học giả Alan Nordstrom nói đến tình trạng triết học hiện thời không tích hợp với nghiệm sinh nữa, đó

là nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng trầm trọng của triết học hiện nay, thậm chí ông còn nói đến "sự cáo chung của triết học"! Cũng từ tình trạng này ông giải thích xu hướng trở về với Cơ sở của Minh triết Mong rằng triết học chưa cáo chung và sự phục hưng của Minh triết tạo ra quan hệ bổ sung giữa minh triết trong bản chát gắn với nghiệm sinh và triết hoc do quán tính tư duy thuần lý dễ xa rời nghiệm sinh

Nhìn chung, minh triết là một kho báu những kinh nghiệm đối nhân xử thế Tuy nhiên, nghiên cứu minh triết không thể dừng lại ở sự tổng kiểm kê những kinh nghiệm này Cần đề ra những ý niệm, khái niệm của minh triết François Jullien từng đề nghị xem ý niệm "mặc hóa" ("biến hóa lặng lẽ", từ của Lão tử) như một ý niệm đặc thù của minh triết Trung Hoa

Bàn về cách tư duy của minh triết nhiều học giả nói đến nhu cầu cân bằng Robert Sternberg nói đến nhu cầu cân bằng giữa những lợi ích trong bản thân một cá nhân, giữa cá nhân này và cá nhân kia, giữa cá nhân và tập thể, cộng đồng; giữa cộng đồng này và cộng đồng kia,"giữa sự thích nghi với môi trường và sự cải tạo môi trường, sự lựa chọn những môi trường mới "

Joseph W.Meeker nói đến nhu cầu đồng bộ: "có ý thức về chỉnh thể nhưng không quên những cái cụ thể, những cái đặc biệt; "bán cầu phải" thống nhất với "bán cầu trái" cũng như tư duy lô-gích thống nhất với tư duy thơ, ý thức về mình không lủng củng với ý thức về những người khác "

Từ nhu cầu cân bằng tự nhiên có nhu cầu hài hoà: cá nhân hài hoà với xã hội, với thế giới, Đương nhiên không thể quên sự hài hoà với bản thân mình mà biểu hiển quan trọng nhất là hài hòa giữa lý và tình, hài hoà giữa trí óc (mind) và tâm hồn (soul), cùng một gốc nhưng là hai phương diện rất khác nhau: trí óc thiên về tìm tòi chân lý, hình thức, sự sáng sủa, sự hợp lý, hình mẫu,quy luật Còn tâm hồn thiên về tìm tòi cái đẹp, sự cân bằng, niềm vui, hạnh phúc, mê ly, hoà bình, sự thương cảm Trí óc khẳng định chân lý bất chấp nó đẹp hay xấu; tâm hồn cứ thấy xấu là giãy nảy, thiên về cái đẹp hơn chân lý Trí óc khẳng định và chối bỏ; tâm hồn yêu và ghét " (Glenn Shipley)

Nhằm duy trì hoặc lập lại cân bằng, hài hoà minh triết không thể không quan tâm đến cái Chỉnh thể, cái mà Lão tử gọi là Nhất (Một) hoặc Cao Xuân Huy gọi là Toàn (quan điểm chủ toàn) Thế giới hiện đại mải mê với sự phân tích, sự duy lý, sự thực dụng, có cơ mất hút cái toàn Đồng thời trong mọi lĩnh vực, mọi bình diện, cân bằng bị phá vỡ, nghiêm trọng nhất là sự mất cân bằng giữa nhu cầu tiêu dùng của con người tăng lên với một cấp số nhân khủng khiếp và sự bất lực của con người quản lý việc khai thác hành tinh quả đất dang bị tàn phá một cách man rợ và chúng ta đều biết hiểm hoạ: khí hậu quả đất thay đổi Phải chăng sự thức tỉnh của minh triết với nhu cầu cân bằng, hài hoà có liên quan đến sự mất cân bằng tận thế đương đe doạ sự sống còn của chúng ta trên hành tinh này? Mặt khác, sự thức tỉnh của minh triết đòi hỏi sự tỉnh táo nhìn thẳng vào những mâu thuẫn của cuộc sống, và nhu cầu cân bằng hài hòa được đặt ra trong quá trình tích cực giải quyết mâu thuẫn Với cái thói né tránh mâu thuẫn, chữ

"hòa" của phương Đông không khéo trở thành dễ dãi và dớ dNn, chỉ tạo ra những ảo tưởng về cân bằng, hài hòa, nhiều khi chữ "hòa" được đưa ra cốt để che đậy sự lười biếng của tư duy ngại mâu thuẫn, không có tinh thần tích cực giải quyết mâu thuẫn

Đã xuất hiện những trường Đại học Minh Triết (Wisdom University) Riêng bang Cali có vài ba trường như vậy Tiêu biểu nhất là Đại học Minh Triết có trụ sở ở San Fransisco Trường này được thành lập năm 1996, chỉ đào tạo trên đại học (Ma.A và Ph,D) Đối tượng đào tạo của Trường là

"những người đã có trình độ nghiệp vụ chín chắn muốn đặt mình vào một văn cảnh sống và học tập rộng lớn hơn" Trường giúp họ "vượt qua những biên giới của hiểu biết và hành vi ước lệ đặng đi vào một cuộc sống chân chính hơn", " có một ý thức bao trùm hơn về cái khả thể", phương châm giáo dục của trường là việc trau dồi học vấn"trong khuôn khổ học vị trên đại học" gắn liền với"đào sâu quá trình trưởng thành của tâm linh và phát triển nhân cách"

Môn học nghiên cứu "trí tuệ bản địa": (indigenous mind) được đặc biệt coi trọng: con đường cứu nguy cho nhân loại hiện nay là "đem những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại hòa vào tri thức, minh triết và những lề lối thực hành lành mạnh về sinh thái của những nhân dân bản địa và truyền thống"

Trang 21

[i] Khoảng hai chục năm nay, trên sách báo nước ta , từ " minh triết" được dùng để dịch từ tiếng Pháp "sagesse" , từ tiếng Anh "wisdom" và từ tiếng Nga "mudrost" ,từ này đã được dùng sớm hơn rất nhiều ở miền Nam trước đây (khoảng cuối những năm 50 thế kỷ trước)

Sự hẳn hoi của một chính khách lớn

Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến – Bài đã được xuất bản: 16/02/2010 07:00 GMT+7

Xã hội nào cũng có tôn ti trật tự, người hẳn hoi không gò mình vào trật tự này nhưng rất có ý thức về lẽ phải của thứ bậc >> Minh triết Việt và Minh triết Hồ Chí Minh >> Minh triết là 'trí tuệ được nhào nặn bởi kinh nghiệm

Trong một chuyến thăm Ấn Độ, một phóng viên nước ngoài đặt câu hỏi về Ngô Đình Diệm, cụ Hồ đã trả lời đại ý: Tôi đến đây không phải để nói xấu ông Ngô Đình Diệm, ông là người yêu nước nhưng theo cách của ông ấy…

Aristote có phân biệt “minh triết lý thuyết” và “minh triết thực tiễn” Minh triết thực tiễn thể hiện ở chỗ biết “suy tính những gì là tốt, là thiết thực…cho mình để có được một cuộc sống tốt, nói chung” (ở đây cần hiểu “cuộc sống tốt” một cách toàn diện:cả về vật chất và tinh thần, không chỉ có tư duy, ứng xử tốt mà ăn, ở, mặc cũng “tốt”, không những tốt trong việc công mà tốt trong cuộc sống riêng, với gia đình bạn bè và… với cả bản thân mình)

“Cuộc sống tốt” được hiểu một cách toàn diện như vậy, thì cái đầu “minh triết” của Aristote quả là vĩ đại! Chỉ có “minh triết lý thuyết” thì người minh triết dễ biến thành một kẻ hão huyền, gàn dở, ba hoa, nhảm nhí Trong tiếng Việt có một từ hết sức đích đáng để diễn đạt ý niệm “cuộc sống tốt” của

Aristote, đó là từ “hẳn hoi” Với từ này chúng ta có thể tóm gọn “minh triết” trong một câu: “Minh triết là biết làm thế nào sống hẳn hoi

“Hẳn hoi” không phải là một tiêu chuNn quá cao: Không phải thật giỏi mới hẳn hoi, không phải thật đàng hoàng, thật dũng cảm, thật “đạo cao, đức trọng” mới hẳn hoi… Và, “Hẳn hoi” là một phNm chất có thể đặt ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi bình diện: ăn mặc hẳn hoi, nhà cửa hẳn hoi, lời

lẽ hẳn hoi, một người thầy hẳn hoi, một người cha hẳn hoi, một người lãnh đạo hẳn hoi, học vấn hẳn hoi, làm ăn hẳn hoi… Xã hội nào cũng có

kỷ cương và lễ nghi, người hẳn hoi tiếp nhận tinh thần của kỷ cương và lễ nghi với/do lòng tự trọng chứ không bị lệ thuộc một cách mù quáng vào những quy ước của kỷ cương và lễ nghi

Xã hội nào cũng có tôn ti trật tự, người hẳn hoi không gò mình vào trật tự này nhưng rất có ý thức về

lẽ phải của thứ bậc Vài mươi năm trước đây với bộ phim nổi tiếng về người Hà Nôi Trần Văn Thuỷ

đã làm sống lại phNm chất “tử tế” trong ý thức đạo đức của xã hội Tuy nhiên, phNm chất này dường như vẫn chưa được chính thức công nhận, đạo đức và hành vi được kiểm điếm theo nhiều chuNn mực trừ chuNn mực “người tử tế” PhNm chất “hẳn hoi” cũng có số phận tương tự Một hiện tượng quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân loại là những gì không được người ta nhớ đến thì dần dà sẽ biến mất Xã hội không quan tâm dến “sự tử tế”, “sự hẳn hoi” thì dần dà những ngừơi tử tế, hẳn hoi sẽ biến mất; ngược lại, xã hội còn nhớ đến những phNm hạnh này, thì những người hẳn hoi, tử tế xuất hiện khắp nơi Ở những mục trên chúng tôi định nghĩa minh triết bằng cách nêu lên những đặc trưng của minh triết, phân biệt nó với triết lý Sau đây là một định nghĩa phổ thông về minh triết chúng tôi

cố gắng trình bày thật ngắn gọn

Theo cách hiểu thông thường nhất minh triét là khôn ngoan, nhưng khôn ngoan chưa phải là minh triết, chẳng hạn khôn ngoan để “ăn người” thì chưa phải là minh triết Minh triết là biết sống khôn ngoan và hẳn hoi, nói một cách khác, sự khôn ngoan của minh triêt thường gắn với những giá trị hướng thượng, hướng thiện Hẳn hoi là một từ rất Việt (chúng tôi chưa tìm được ở những ngôn ngữ khác từ tương ứng)

Trong xã hội Việt Nam, ở mọi nơi mọi thời, người hẳn hoi bao giờ cũng được nể trọng Hẳn hoi có gốc rễ ở những đức tính phổ quát: đó là sự hướng thiện, sự “liêm chính”, nhìn chung sự hẳn hoi của con người không ở ngoài bốn chữ “cần, kiệm, liêm, chính” của cụ Hồ Sự hẳn hoi có tính phổ quát,

Hình minh họa Nguồn ảnh: baoanhdatmui

Trang 22

tính “liêm chính” ở người hẳn hoi thể hiên ở việc to và việc nhỏ Bị vu oan là “làm hư hỏng thanh niên”, Socrate bị bức tử Khi sắp sửa uống cốc “cần độc” thì Socrate sực nhớ có mua chịu một con gà

và ông nhờ một người bạn trả tiền dùm cho ông, đây là một trong những lời trăng trối cuối cùng của

ông: Socrate là người hẳn hoi trong việc nhỏ Cũng như trong việc lớn: được tin Socrate bị án bức tử,

mấy người bạn của ông lập mưu kế cho ông chạy trốn, nhưng nhà hiền triết đã từ chối, lấy cớ bỏ trốn

là chống lại pháp luật mà tín niệm công dân của ông là tôn trọng luật pháp bằng mọi giá, Socrate đã coi trọng tư cách công dân hẳn hoi của ông hơn cả tính mạng của ông

Và, có một sự việc, tuy nhỏ, nhưng qua đó có thể thấy được sự hẳn hoi của Hồ Chí Minh Chuyện là, hoạ sĩ Dương Bích Liên được cấp trên điều động đến sống với Hồ chủ tịch một thời gian để vẽ chân dung Hoạ sĩ vẽ rất nhiều ký hoạ về bác Hồ Một vị lãnh đạo xem những ký hoạ của Dương Bích Liên không hài lòng và quyết định đưa họa sĩ trở về cơ quan chủ quản Dương Bích Liên ra đi mà Bác không hay Đến lúc biết việc ra đi đột ngột của người hoạ sĩ, bác liền cho người đuổi theo và đưa hoạ

sĩ trở về Người mời Dương Bích Liên dùng cơm thân mật rồi sau đó hai bác cháu mới chia tay (thuật theo lời của Hào Hải, một bạn vong niên gần gũi với Dương Bích Liên)

Còn sự việc sau đây là một sự kiện lớn: Sau Hiệp định Geneve, trong một chuyến thăm Ấn Độ, một phóng viên nước ngoài đặt câu hỏi về Ngô Đình Diệm, cụ Hồ đã trả lời đại ý: Tôi đến đây không phải

để nói xấu ông Ngô Đình Diệm, ông là người yêu nước nhưng theo cách của ông ấy… Trong cách trả lời này, có sự khôn ngoan, nhưng nổi lên vẫn là sự hẳn hoi của một chính khách lớn

"Nói đi đôi với làm" là căn cốt minh triết mọi thời

Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến – Bài đã được xuất bản: 17/02/2010 07:00 GMT+7

Có một giá trị căn cốt của minh triết mọi nơi và mọi thời: nói đi đôi với làm" Đây là giá trị của những giá trị: không có nó, tất cả những giá trị khác khó mà bền vững và dù cao siêu, tốt đẹp

đến đâu, dễ trở thành "nói suông", tức là số không "Nói đi đôi với làm" là một giá trị hằng hữu của minh triết Hồ Chí Minh >> Sự hẳn hoi của một chính khách lớn >> Minh triết là "trí tuệ được nhào nặn bởi kinh nghiệm" >> Minh triết Việt và minh triết Hồ Chí Minh

Minh triết trong vốn trí tuệ và tâm linh của chúng ta không tách rời minh triết nhân loại bao gồm minh triết của nhiều nền văn minh, nhiều khu vực văn hóa, tôn giáo Ngay trong bản thân minh triết lưu hành ở Việt Nam có thể tìm thấy nhiều vết tích vang vọng của minh triết những nền ván hoá, văn minh khác Người Việt không thể không tìm hiểu minh triết của những nền văn hoá khác Công việc này giúp chúng ta thấy được rõ hơn, tinh tế hơn bản sắc riêng của mình Đồng thời thấy được tính phổ quát của minh triết, thấy dược cái chung giữa ta và người, Cũng có thể xem đây là một sự chuNn bị tinh

thần đi vào con đường hội nhập

Nghiên cứu minh triết ở Việt Nam bắt đầu bằng sự tổng kiểm kê và sưu tầm bổ sung những viên ngọc quý của Minh triết hiện đương rải rác khắp nơi. Chỉ có những viên ngọc quý trong ca dao tục ngữ là được sưu tầm tương đối đầy đủ, tuy vậy chưa được nghiên cứu sâu sắc ở

"mặt cắt" minh triết, vả chăng vẫn còn sót ca dao tục ngữ của những dân tộc anh em

Minh triết của Đạo giáo đã được những học giả nghiên cứu khá sâu nhưng chưa được phổ cập Có một vốn minh triết nữa rất quan trọng:

đó là những suy nghĩ, những bài học minh triết được rút ra từ hoạt động của những người hoạt động chính trị và xã hội, những người làm công tác lãnh đạo, quản lý, những doanh nhân, những người hoạt động tôn giáo- họ là những người trực tiếp và thường xuyên vật lộn với thực tiễn Việt Nam

Minh triết văn hóa Việt trước hết là 3 nguồn Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo trong "tam giáo đồng nguyên" thời cổ Trong thời đại Hồ Chí Minh, minh triết Hồ chí Minh với sức thấm sâu, lan tỏa rộng trong lòng dân là một nguồn trung tâm trong đa nguồn minh triết Việt

Có lần kể 'lục giáo'của Nguyễn Khắc Viện cho họa sĩ Lê Bá Đảng, tôi hỏi 'giáo' nào là quan trọng hơn

cả Ông cười và trả lời: 'Việt giáo là quan trọng nhất' Không khỏi liên tưởng đến một câu nói của Hồ

Minh triết trong vốn trí tuệ và tâm linh của

chúng ta không tách rời minh triết nhân

loại bao gồm minh triết của nhiều nền văn

minh, nhiều khu vực văn hóa, tôn giáo

Trang 23

Chí Minh: 'Đảng của tôi là Đảng Việt Nam' Câu nói này góp phần làm sáng tỏ gốc nguồn của minh triết Hồ Chí Minh

Minh triết bao giờ cũng gắn với những giá trị Có một giá trị căn cốt của minh triết mọi nơi và mọi

thời: nói đi đôi với làm" Đây là giá trị của những giá trị: không có nó, tất cả những giá trị khác khó

mà bền vững và dù cao siêu, tốt đẹp đến đâu, dễ trở thành "nói suông", tức là số không "Nói đi đôi với làm" là một giá trị hằng hữu của minh triết Hồ Chí Minh.

Từ năm 1927, trong cuốn Đường cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, trong 23 điều phải có về tư cách của người cách mệnh thì điều thứ 10 là "Nói thì phải làm" Điều thứ 10 này đã được nhấn mạnh bằng mệnh lệnh thức Trong cuốn "Sửa đổi lối làm việc" (1947) quan hệ phải có giữa "nói và làm" được

khẳng định thông qua quan hệ phải có giữa " lý luận và thực hành".:

- "Lý luận phài đem ra thực hành "

- "Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn) Thực hành cũng như cái đích để bắn Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung thì cũng như không có tên"

- "Lý luận cốt áp dụng vào thực tế Chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích."

Giữa nói và làm Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào "làm":

- "miệng nói, tay làm" "Phải thật thà nhúng tay vào việc"

- "Nói ít, làm nhiều"

- "Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được."

- "Nói miệng, ai cũng làm được Ta cần phải thực hành "

- "Trong Đảng ta, có một số người chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác Nhưng một việc gì thiết thực không làm được Những người như thế cũng không thể dùng vào công việc thực tế "

Bác đã nói thì làm Và làm thực sự

Ngay sau Cách mạng tháng tám 1945, nạn đói vẫn đe dọa " Với cương vị Chủ tịch nước, Bác kêu gọi: " Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn

3 bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo

"Chuyện kể rằng có một lần Tiêu Văn - trung tướng trong quân đội Tưởng Giới Thạch - mời chiêu đãi Bác đúng vào bữa cơ quan nhịn ăn để cứu

đói Khi Bác dự tiệc về , anh em báo cáo với Bác rằng phần gạo của Bác

đã cho vào hũ gạo cứu đói rồi Vậy mà Bác vẫn quyết định "nhịn bù" một bữa vào ngày hôm sau"[1]

Hồ Chí Minh đăt cao yêu cầu làm gương mẫu cho mọi người noi theo:

"một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tr.253)

Chúng ta đều biết chỉ qua hành động, qua "nhúng tay vào việc", qua lăn lưng ra làm mới trở thành gương mẫu Xưa nay chưa có ai chỉ bằng "lời nói" mà trở thành gương mẫu Có một mối liên hệ sâu sắc giữa tư tưởng phát huy sức cảm hóa của những "tấm gương sống" và tư tưởng biểu dương "người tốt, việc tốt"của Hồ Chí Minh Những "tấm gương sống", những "người tốt" có sức thuyết phục hồn nhiên và sâu sắc vì họ là hiện thân của công việc, của lao động, của thực hành, của

"miệng nói tay làm", của " nói ít làm nhiều", họ là sự hiện thân của minh triết Hồ Chí Minh

Mục "Chân dung Người đương thời" trên VTV1 có sức hấp dẫn mạnh mẽ vì qua đây, khán giả tiếp

xúc với những con người sống động, mỗi người một vẻ, một cảnh ngộ nhưng tất cả đều bị cuốn hút

bởi công việc mình làm, đều mải mê tìm tòi, sáng tạo, đều kiên trì chí hướng, "có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được"

Minh triết văn hóa Việt trước hết là

3 nguồn Nho giáo, Phật giáo, Đạo

giáo Ảnh: dentutraitim.net

Trang 24

Minh triết Hồ Chí Minh được sáng tỏ trong mục Truyền hình này hơn đâu hết: "một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền" Để học tập tư tưởng, đạo đức của Bác trước

hết cần tìm hiểu con người, cuộc đời và những câu nói của Bác Nhưng không thể quên minh triết Hồ Chí Minh đương biểu hiện ngời sáng ở ngàn vạn "tấm gương sống"và "người tốt, việc tốt" đương xuất hiện khắp nơi trên đất nước ,không kể trước đây họ từng ở phía nào của chiến tuyến

Số đông trưởng thành và được tôi luyện trong thực tiễn của cuộc Cách mạng mà Hồ Chí Minh là người thiết kế và người đôn đốc gây dựng, họ phải giải quyết những nhiệm vụ mà lịch sử Việt Nam bốn ngàn năm chưa từng đặt ra, những hậu quả của những tai họa mà Lịch sử (hay là Số phận?), những nhiệm vụ mà họ phải chèo chống giữa phong ba bão táp của lịch sử trong khi Người thuyền trưởng lão luyện không còn nữa Họ giống như những Sisyphus phải vần lên đỉnh núi những tảng đá

nặng gấp ngàn lần sức lực của họ Hòn đá to Hòn đá nặng Một người không vần nổi thì 3 người , 3

trăm người , 3 vạn người , 3 triệu người Cuối cùng, khác với nhân vật huyền thoại, họ đã hoàn thành nhiệm vụ Có khi chính họ là Hồ Chí Minh mà không tự biết

Minh triết Tam Giáo trong văn hóa Việt

Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến – Bài đã được xuất bản: 19/02/2010 06:10 GMT+7

Thời nào cũng vậy, nội lực mạnh mẽ trong đời sống tinh thần và hoạt động xã hội, tinh thần tự xét mình và tự giác cao, bản lĩnh độc lập và tinh thần cầu thị trong sự xem xét và phán xét riêng, coi trọng dư luận của quần chúng nhưng không bị ràng buộc bởi bất cứ dư luận nào , những

thiếu những đức tính nói trên

LTS: Tiếp mạch bài luận bàn về Minh Triết Việt và Minh triết Hồ Chí Minh, Tuần Việt Nam giới thiệu

bài viết 3 kỳ của CTV Hoàng Ngọc HIến bàn về Minh triết Tam giáo trong văn hoá Việt Mời độc giả cùng suy ngẫm và thảo luận thêm.

Tôi hào hứng đi vào đề tài này sau khi đọc bài tiểu luận của Tỳ kheo Giới Đức "Phật giáo có thể đóng góp gì cho minh triết Việt?".[1] Tác giả đặt chủ đề của mình trong đề tài lớn mà ông hình dung được

chiều sâu và sự phong phú: minh triết Việt là " linh hồn của văn hiến, văn học, nghệ thuật, đạo lý sống, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng kể cả các lễ hội dân gian, ngôn ngữ, chữ viết, trang phục, nhạc lễ, các ngành nghề thủ công, điêu khắc và cả m thực nữa "; nó là "cái nguồn lực, cái tạo nên hồn sống có được từ Tam giáo đồng nguyên và cái đặc thù của bản sắc dân tộc được cộng hưởng bởi 54

cư dân anh em "

Trong bài tiểu luận Giới Đức lNy ra những viên ngọc quý minh triết Việt từ tư tưởng vô vi, tư tưởng vô ngã , những ý tưởng sâu sắc của Phật giáo mà tác giả tâm đắc Tôi mong đợi những Giới Đức trong các lĩnh vực văn hóa- tư tưởng chia sẻ tâm huyết và chí hướng gây dựng minh triết Việt của Tỳ kheo Giới Đức, mỗi người trong lĩnh vực của mình lNy ra được và gom vào một ít, dù chỉ là một hạt bụi ngọc Riêng với các bạn độc giả trẻ, những sinh viên, những giáo viên, những nhà báo , những nghiên cứu viên trẻ, tôi giới thiệu một số vấn đề minh triết Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) trong văn hóa Việt Nam, hy vọng rằng qua sự phân tích và lý giải những vấn đề này, các bạn có ý niệm về minh triết và minh triết Việt

Bài 1: Về "phản thân luận" đạo đức Khổng - Mạnh

Về tư tưởng "phản thân" (trở về bản thân mình) của đạo đức Khổng - Mạnh và "tứ vô" của Khổng Tử Đạo đức của cá nhân bao gồm hai loại quan hệ (hoặc trách nhiệm) đạo đức: quan hệ đạo đức của cá nhân với người khác, với những cộng đồng có liên quan đến mình và quan hệ đạo đức của cá nhân với bản thân mình Đạo đức cách mạng coi trọng sự giáo dục loại quan hệ đạo đức thứ nhất và trong những năm đầu cách mạng chúng ta đã chứng kiến sự khơi giậy và phát triển như vũ bão những cao trào tinh thần yêu nước, phục vụ nhân dân và nhân loại (đời sống xã hội trước sau được duy trì bởi

nguồn sống tinh thần này) Tuy nhiên, trong một thời gian dài chúng ta coi nhẹ loại quan hệ (hoặc trách nhiệm) đạo đức của cá nhân với bản thân mình. Trách nhiệm đạo đức này thể hiện ở những đức tính (trong tiếng Việt bắt đầu bằng chữ "tự"): tự trọng, tự tín, tự ái Hồ chủ tịch hết sức coi trọng sự

Trang 25

tự ý thức của cá nhân về đạo đức.Hồ chủ tịch đặc biệt coi trọng lòng "tự ái" ở con người (theo nghĩa

chân chính của từ này thì nó đồng nghĩa với tự trọng) " Không làm điều gì có hại cho danh dự của mình - Hồ chủ tịch viết - thế là chân chính và tự ái, mà ai cũng phải tự ái" (X.Y.Z Thuốc đắng dã tật

N.x.b Sự thật, 1960, tr.14)

Lòng tự ái, lòng tự trọng - trong quan niệm của Hồ chủ tịch - là một bề

chiều (dimension) quan trọng của nhân cách đạo đức "Ai cũng có lòng tự trọng, tự tín - Hồ chủ tịch viết - không có lòng tự trọng, tự tín là người vô dụng" Hồ chủ tịch viết tiếp: "Người lãnh đạo cần phải tôn trọng lòng tự

trọng, tự tín của các đồng chí mình" (Hồ Chí Minh Vấn đề cán bộ N.x.b

Sự thật.1975, tr 44) Không phải ngẫu nhiên người thanh niên cách mạng

ưu tú họ Lý được Bác đặt cho tên là Lý Tự Trọng Đầu thế kỷ này, Tản Đà- Nguyễn Khắc Hiếu bàn về nhân cách của con người "lấy mình làm

chủ" (là "con người mới" thời bấy giờ) cũng đề xuất ba đức tính: tự ái, tự trọng, tự tôn (Xem bài Ba đức riêng trong Nguyễn Khắc Hiếu Tản đà tản văn in lần thứ hai, Hương sơn, 1942)

Trong sinh hoạt đạo đức, tư tưởng cũng như trong công tác giáo dục những đức tính này ít được chú ý Đây là một lỗ hổng rất đáng được quan tâm trong đời sống đạo đức của chúng ta Phải chăng vì vậy xung quanh chúng ta có những người có những ưu điểm đáng quý nhưng nhân cách không đẹp Trong ngôn ngữ hàng ngày, "tự ái" bao giờ cũng được dùng với nghĩa xấu Hầu như không có ai nhớ đến nghĩa "chân chính" của từ này,như là ý thức về phNm giá cá nhân, như là một tình cảm cao quý khiến ta cố gắng, tìm mọi cách để xứng đáng với sự quý trọng của người khác

Nguyễn Khắc Hiếu và Hồ chí Minh ở trong số ít những nhà văn hoá hiểu "tự ái" như một phảm giá

cao thượng,một điều cốt yếu của nhân cách đạo đức Tự ái - Nguyễn Khắc Hiếu viết - là "chút lòng tự yêu mình, tự tiếc mình giữ cái tài ấy, cái đức ấy làm nên công đức ấy, sự nghiệp ấy"

"Tự trọng" là mình trọng mình, "tự tín" là mình tin ở mình, "tự ái" là mình biết yêu, biết quý mình Những đức tính này là biểu hiện của quan hệ mình với mình trong đời sống ý thức và sự hiện diện của quan hệ mình với mình có giá trị vô song đối với nhân cách và bản lĩnh con người Quan hệ mình với mình là tiền đề cho sự hình thành chủ thể, nó tạo ra sự đối lập giữa mình - chủ thể và mình - tồn tại, giữa "mình là"- chủ thể (être-sujet) và "mình là" (être)

Trong sách Mạnh Tử (và Luận Ngữ, Trung Dung ) có một vốn từ phong phú chỉ những thao tác trong quan hệ mình với mình: tự phản ((tự xét mình), xem Đ.T.C Mạnh Tử , t.hạ, tr.60; t.thượng, tr.86, phản thân (xét lấy mình), xem Đ.T.C Mạnh Tử, t.hạ, tr.22, phản cầu chư kỳ thân (xét trở lại cái nguyên do nơi mình ) xem Đ.T.C Đại học, Trung dung, tr 57, tự tỉnh (tự xét mình mà tỉnh ngộ) xem

Đ.T.C Luận ngữ, tr.59, nội tỉnh (tự xét từ bên trong bản thân ) xem Đ.T.C Luận ngữ, tr 183, tỉnh

ngô thân (( xét bản thân mình), xem Đ.T.C Luận ngữ, tr.4, bổn chư thân (lấy mình làm gốc) xem

Đ.T.C Đại học Trung dung, tr.87

Trong quan niệm của Mạnh Tử, tự xét mình (tự phản, phản thân) là thao tác cơ bản trong quan hệ mình với mình trong đời sống đạo đức, có thể nói đến tự phản luận hoặc phản thân luận như là một nét

quan trọng trong đạo đức học Mạnh Tử Sở dĩ việc "tự xét bản thân mình" được coi trọng vì Mạnh Tử

quan niệm "bản thân" là "gốc" của những cái gốc: "Gốc của thiên hạ là đất nước, gốc của đất nước là gia đình, gốc của gia đình là bản thân " (xem Mạnh tử, ch.VII, 5)

Cùng bản chất với tinh thần tự xét mình là sự coi trọng việc tự trách mình hơn là trách người "Khi xảy

ra việc chẳng phải, mình nên trách mình một cách đậm đà và trách người qua loa " (Xem Đ.T.C Luận ngữ, tr.245)

Đạo đức Khổng Mạnh đề cao lòng tự tín ở con người Bậc chí Thành "chỉ tin cậy ở sức mình, chớ

không nương nhờ ở nhân vật nào" xem Đ.T.C Đại học Trung dung, tr 93 "Người quân tử trông cậy

mình; kẻ tiểu nhân trông cậy ở người " xem Đ.T.C Luận ngữ, tr 24

Trong đời sống đạo đức, nội lực trước

hết là sức mạnh tinh thần bên trong, sự

giác ngộ bên trong Ảnh: bshohai.com

Ngày đăng: 05/07/2014, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình minh họa. Nguồn ảnh: fineartamerica.com - Minh triết: Cô gái đồng trinh pdf
Hình minh họa. Nguồn ảnh: fineartamerica.com (Trang 15)
Hình người trên trống  Đồng Lạc Việt với mũ có hình  đầu rồng (bên phải) và hai dải mũ cao vút - Minh triết: Cô gái đồng trinh pdf
Hình ng ười trên trống Đồng Lạc Việt với mũ có hình đầu rồng (bên phải) và hai dải mũ cao vút (Trang 15)
Hình minh họa. Nguồn ảnh: baoanhdatmui - Minh triết: Cô gái đồng trinh pdf
Hình minh họa. Nguồn ảnh: baoanhdatmui (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w