1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

iu anh 5

54 123 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cá sấu có xu hướng sinh sống ở những vùng sông và hồ có nước chảy chậm, thức ăn của chúng khá đa dạng, chủ yếu là động vật có vú sống hay đã chết cũng như cá.. Mặc dù có vẻ ngoài chậm ch

Trang 2

Cuộc thi “Cùng PETRONAS khám phá thế giới” năm 2010

Câu hỏi tuần 6 (từ ngày 5 đến ngày 18 tháng 4 năm 2010)

Trang 3

1 Bóng đèn nào dưới đây là sáng nhất? Bóng đèn A không sáng bằng bóng đèn B Bóng đèn B

sáng hơn bóng đèn C

A Bóng B

B Bóng C

C Bóng A

Đáp án của nhóm Dolphin Blue là A Bóng B

Vì ta có sơ đò so sánh như sau:

Trang 5

Cá sấu

Thời điểm hóa thạch: Hậu Creta - nay

Cá sấu sông Nin

Phân loại khoa học

Trang 6

Cá sấu là bất kỳ loài nào thuộc về họ Crocodylidae (đôi khi được phân loại như là phân họ

Crocodylinae) Thuật ngữ này cũng được sử dụng một cách lỏng lẻo hơn để chỉ tất cả các thành viên

của bộCrocodilia (bộ Cá sấu): bao gồm cá sấu đích thực (họ Crocodylidae), cá sấu mõm ngắn ¹ (chi

Alligator, họ Alligatoridae) và cá sấu caiman (các chi Caiman, Melanosuchus ², Paleosuchus ², cùng

họ Alligatoridae) và cá sấu sông Hằng (họ Gavialidae)

Cá sấu là các loài bò sát lớn ưa thích môi trường nước, chúng sống trên một diện tích rộng của khu

vực nhiệt đới của châu Phi, châu Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Đại Dương Cá sấu có xu hướng sinh

sống ở những vùng sông và hồ có nước chảy chậm, thức ăn của chúng khá đa dạng, chủ yếu là động

vật có vú sống hay đã chết cũng như cá Một số loài, chủ yếu là cá sấu nước lợ ở Úc và các đảo trên

Thái Bình Dương, được biết là có khả năng bơi ra xa ngoài biển

Những loài cá sấu lớn có thể rất nguy hiểm đối với con người Cá sấu nước lợ và cá sấu sông Nin là

những loài nguy hiểm nhất, chúng đã giết chết hàng trăm người mỗi năm ở các khu vực Đông Nam Á

và châu Phi Cá sấu mõm ngắn và có thể cả cá sấu caiman đen (là loài đang nguy cấp trong sách đỏ

của IUCN) cũng là những loài gây nguy hiểm cho con người

Cá sấu rất nhanh nhẹn khi khoảng cách là ngắn, thậm chí là ngoài môi trường nước Chúng có quai

hàm cực khỏe và bộ răng sắc nhọn để xé thịt, nhưng chúng không thể há miệng nếu nó bị khép chặt, vì

thế có một số câu chuyện về việc người sống sót khỏi những con cá sấu sông Nin mõm dài bằng cách

khép chặt quai hàm của chúng Tất cả những con cá sấu lớn cũng có vuốt sắc và khỏe Cá sấu là những

kẻ đi săn kiểu mai phục, chúng chờ đợi cho cá hay động vật sống trên đất liền đến gần, sau đó tấn công

chớp nhoáng Sau khi dùng cú đớp trời giáng của mình, con cá sấu kéo nạn nhận xuống con sông để

nhấn chìm tới ngạt thở Sau đó, để xé mồi, nó ngoạm chặt miếng thịt rồi xoay người nhiều vòng để dứt

thịt ra Thoạt nhiên, bạn có thể cho rằng điều này thật khó khăn vì không kiếm được điểm tựa, nhưng

những con cá sấu thì không phải lo điều đó: ngay khi đánh hơi được mùi máu, năm sáu chú cá sấu

cùng bơi đến tỏ ý muốn chia sẻ bữa ăn, và thường thì con mồi bị xé ra thành hàng trăm mảnh nhỏ bởi

những bộ hàm to khỏe và cú xoay người mãnh liệt

Là động vật ăn thịt có máu lạnh, chúng có thể sống nhiều ngày không có thức ăn, và hiếm khi thấy

chúng cần thiết tích cực đi săn mồi Mặc dù có vẻ ngoài chậm chạp, nhưng cá sấu là những kẻ săn mồi

thượng hạng trong môi trường của chúng, và người ta còn thấy một số loài cá sấu dám tấn công và giết

cả sư tử, động vật móng guốc lớn và thậm chí cả cá mập Ngoại lệ nổi tiếng là chim choi choi Ai Cập

(tên khoa học: Pluvianus aegyptius) là loài có quan hệ cộng sinh, trong đó chim choi choi có thức ăn là

các loài ký sinh trùng sinh sống trong miệng cá sấu và cá sấu để cho chim tự do làm việc này Áp lực

của quai hàm cá sấu đạt tới 3000 pao trên một inch vuông (3000 psi, xấp xỉ 144 kPa), so sánh với chỉ

100 psi đối với một con chó to

Cá sấu đực là những kẻ khá ầm ỹ Vào mùa sinh sản, chúng phát ra những âm thanh có thể so sánh với

động cơ của những chiếc máy bay cỡ nhỏ, âm thanh này có thể lan truyền nhiều km trong làn nước

Chúng thu hút những con cái và tất nhiên, những con đực khác đang đố kị Rất nhanh chóng, hàng

chục con đực khác kéo đến và thi nhau cất lên những lời ca trầm hùng, đôi khi còn làm rung động mặt

nước phía trên tấm lưng chúng, khiến nước bắn lên cao một cách đáng kinh nhạc Tất nhiên, chú sấu

nào khỏe hơn sẽ có tiếng ca lớn hơn Ở môi mỗi con cá sấu đều có một bộ phận cảm nhận những rung

động của mặt nước, đối với con cái là để tìm được người chồng ư ý, còn đối với những chàng ca sĩ

khác là để đánh giá đối thủ Nếu cảm thấy kẻ to mồm kia mạnh hơn mình, những con cá sấu sẽ tự rời

bỏ cuộc tranh đua, còn nếu không thì trận chiến thực sự giữa những hàm răng sắc nhọn sẽ nổ ra

Trang 7

Các loài cá sấu lớn nhất, cũng là các loài lưỡng cư lớn nhất trên Trái Đất là cá sấu nước mặn, sinh

sống ở khu vực miền bắc Úc và trong suốt khu vực Đông Nam Á Một điều gây nhầm lẫn là ở miền

bắc Úc đôi khi người ta gọi cá sấu nước mặn là alligator (cá sấu alligator) trong khi nó không phải là

như thế và loài cá sấu nước ngọt nhỏ hơn thì gọi là crocodile (cá sấu) Điều này có lẽ là do cá sấu nước

ngọt có mõm dài nhìn rất giống cá sấu sông Nin thu nhỏ, trong khi cá sấu nước mặn có thể rất giống

với cá sấu alligator Mỹ ít nguy hiểm hơn nhiều Vì thế khi người Úc nói Alligator Rivers để chỉ cá sấu

ở vùng lãnh thổ phía bắc thì trên thực tế nó là cá sấu nước mặn Đây là giải thích cho việc những

người Mỹ đôi khi cho rằng cá sấu alligator là những động vật nguy hiểm chứ không phải cá sấu

Cá sấu trong thiên nhiên được bảo vệ ở một số nơi trên thế giới, nhưng chúng cũng được chăn nuôi vì

mục đích thương mại, và da của chúng được thuộc làm da cá sấu có chất lượng cao để sản xuất túi,

ủng, cặp v.v, trong khi thịt cá sấu được coi là đặc sản đối với những người sành ăn Các loài có giá trị

thương mại chủ yếu là cá sấu nước mặn và cá sấu sông Nin, trong khi con lai của cá sấu nước mặn và

cá sấu Xiêm cũng được chăn nuôi trong các trang trại ở châu Á Việc chăn nuôi đã làm tăng số lượng

cá sấu nước mặn ở Úc, do trứng thông thường được thu hoạch từ tự nhiên, vì thế những chủ sở hữu đất

đai có động cơ thúc đẩy để bảo tồn môi trường sống của cá sấu

Cá sấu có lẽ có quan hệ họ hàng gần với chim và khủng long hơn là với tất cả các động vật khác đã

được phân loại như là lưỡng cư (mặc dù tất cả các động vậtlưỡng cư này được cho là có quan hệ họ

hàng gần với nhau hơn) và có các đặc điểm bất thường đối với các loài lưỡng cư, chẳng hạn như tim

o Cá sấu mũi dài, Crocodylus johnstoni

Cá sấu mũi dài

Cá sấu mũi dài

Trang 9

Bản đồ phân bổ

Cá sấu mũi dài (tiếng Anh gọi là cá sấu Johnston Johnston's crocodile, cá sấu mũi dài long-nosed

crocodile hay cá sấu nước ngọt Freshwater crocodile) sinh sống ở khu vực miền bắc Úc Chúng được

tìm thấy ở các bang Tây Úc (Western Australia), Queensland và lãnh thổ phía bắc (Northern

Territory) Khu vực sinh trưởng chủ yếu là các vùng nước ngọt như các vùng đất lầy, ao tù, sông và

lạch Chúng cạnh tranh kém so với cá sấu nước mặn nhưng có thể sống trong môi trường nước lợ

Thức ăn của cá sấu mũi dài trưởng thành chủ yếu là chim, dơi, bò sát, cá và động vật lưỡng cư

o Cá sấu sông Nin, Crocodylus niloticus

Cá sấu sông Nin

Cá sấu sông Nin

Trang 10

Tình trạng bảo tồn

Ít quan tâm ( IUCN 3.1 )

Phân loại khoa học

Trang 11

Bản đồ phân bổ

Cá sấu sông Nin là loài cá sấuchâu Phi lớn nhất và là động vật ăn thịt thượng hạng trong khu vực

sinh sống của chúng, là khu vực bao gồm phần lớn miền nam sa mạc Sahara cũng như đảo

Madagascar Được biết đến như là động vật ăn thịt người, chúng vừa bị ghét vừa được sùng kính, đặc

biệt là ở Ai Cập cổ đại khi mà các con cá sấu đã được ướp xác và tôn thờ như là thánh thần Trong khi

chúng chưa bị đe dọa tuyệt chủng thì quần thể tại nhiều quốc gia vẫn đang bị nguy hiểm do số lượng

sụt giảm

Đặc điểm

Chuyên khảo lớn và hiện đại đầu tiên về cá sấu là Các kết quả khoa học về yêu cầu trong sinh thái học

và địa vị kinh tế của cá sấu sông Nin (Crocodilus niloticus) ở Uganda của Hugh B Cott Kích thước,

danh tiếng, phạm vi sinh sống rộng và quan hệ với loài người của chúng vẫn tiếp tục làm cho chúng

nổi tiếng hơn cả trong các loài cá sấu

Giống như mọi loài cá sấu khác, chúng là động vật tứ chi với 4 chân ngắn và bàn chân bẹt; đuôi dài và

rất khỏe; da có vảy với các hàng mai hóa xương chạy dọc theo lưng và đuôi của chúng; và các quai

hàm khỏe Chúng có màng nhầy để bảo vệ mắt của mình, và mặc dù có huyền thoại "về nước mắt cá

sấu" nhưng chúng có tuyến lệ và có thể làm vệ sinh mắt bằng nước mắt

Các lỗ mũi, mắt và tai nằm ở phần đỉnh của đầu chúng, vì thế các phần còn lại của cơ thể có thể che

giấu dưới nước Màu sắc cũng giúp chúng ngụy trang rất tốt: Những con non có màu xám, xanh ôliu

xẫm hoặc nâu, với các dải màu nằm ngang sẫm hơn tên cơ thể và đuôi Khi chúng trưởng thành thì

màu của chúng sẫm hơn và các dải màu nằm ngang mờ dần đi, đặc biệt là các dải màu trên cơ thể Lớp

da dưới bụng màu vàng và được sử dụng để chế tạo da cá sấu chất lượng cao

Cá sấu sông Nin thông thường trườn dọc theo bụng của chúng, nhưng chúng có thể "nhảy cao" Các cá

thể nhỏ hơn có thể phóng nhanh, và thậm chí cả các cá thể lớn hơn cũng có khả năng tăng tốc độ đột

biến đáng ngạc nhiên, đạt tới 12-14 km/h (7,5-8,5 dặm/h) Chúng có thể bơi khá nhanh bằng cách

chuyển động cơ thể và đuôi của chúng theo đường hình sin, và chúng có thể duy trì kiểu chuyển động

này khá lâu

Chúng có tim 4 ngăn, giống như chim, điều đó rất có hiệu quả trong việc chuyên chở và cung cấp ôxy

cho máu của chúng Thông thường chúng chỉ lặn trong vài phút, nhưng có thể ẩn mình dưới nước tới

30 phút nếu gặp nguy hiểm, và nếu chúng ngừng hoạt động thì có thể giữ cho hơi thở kéo dài tới 2 giờ

dưới nước Chúng có sự trao đổi chất thuộc hệ máu lạnh, vì thế chúng có thể sống rất lâu giữa hai lần

có thức ăn — vì thế khi ăn, chúng có thể ăn một khối lượng thức ăn bằng một nửa khối lượng cơ thể

Trang 12

Chúng có thể phát ra các âm thanh trong một khoảng rộng và có cơ quan thính giác tốt Trên da của

chúng có một loạt các giác quan mà con người vẫn chưa hiểu hết, giúp cho chúng có phản ứng kịp thời

với các thay đổi trong áp lực nước

Quai hàm của chúng có khả năng tạo ra một lực mạnh khi chúng bắt giữ con mồi Miệng của chúng có

tổng cộng 64 - 68 răng hình nón Trên mỗi hàm có 5 răng cửa, 13 hay 14 răng trên mỗi bên của hàm

trên, và 14 hay 15 răng trên mỗi bên của hàm dưới Cá sấu moiứ sinh nhanh chóng mất đi mảnh da

cứng trên đỉnh miệng của chúng (gọi là răng trứng, do chúng sử dụng cái này để phá vỡ vỏ trứng để

chui ra khi mới sinh)

Kích thước

Cá sấu sông Nin có thể dài tới 5 m (16 ft), ít khi thấy chúng dài tới 5,5 m (18 ft) Cá sấu trưởng thành

nặng khoảng 225 kg (500 lb), và có một số cá thể có thể nặng tới 700 kg (1.500 lb) Giống như các

loài cá sấu khác, chúng là lưỡng hình theo giới, với con đực thông thường to hơn con cái khoảng 30%,

mặc dù khác biệt này là nhỏ hơn so với các loài cá sấu khác, chẳng hạn cá sấu nước mặn

Người ta cũng thông báo là có các cá thể dài tới 7 m (23 ft) và lớn hơn, nhưng điều này bị nghi ngờ do

người ta thường hay thổi phồng các số liệu tổng thể Người ta vẫn chưa biết tại sao một số cá sấu sông

Nin to lớn hơn các cá sấu sông Nin khác, nhưng có lẽ là do chúng có môi trường sống thích hợp hơn

Vì thế cá sấu sông Nin ngày nay trong hoang dã khó có thể phá vỡ các kỷ lục: trước khi diễn ra các

cuộc săn bắt trên quy mô lớn trong những năm thập niên 1940 và 1950, các quần thể lớn hơn sinh sống

ở các môi trường đầm đất lầy có thể to lớn hơn bây giờ

Có một số chứng cứ cho thấy cá sấu sông Nin ưa thích khí hậu mát mẻ Các cá sấu sông Nin ở miền

nam châu Phi nhỏ hơn, và chỉ dài khoảng 4 m (13 ft) Cá sấu sông Nin lùn cũng tồn tại ở Mali và sa

mạc Sahara, chúng chỉ dài từ 2 - 3 m (6,5 - 10 ft) Chúng suy giảm kích thước có lẽ là do không có

môi trường sống lý tưởng, chứ không phải do di truyền

Trưởng thành và sinh sản

Con đực đạt đến độ tuổi trưởng thành sinh dục khi chúng dài khoảng 3 m (10 ft); trong khi con cái thì

khi chúng dài 2 - 2,5 m (6,5 - 8 ft) Điều này diễn ra vào khoảng năm thứ 10 cho cả hai giới trong các

điều kiện bình thường

Trong mùa sinh sản, con đực hấp dẫn con cái bằng cách gầm rống, đập mõm của chúng xuống nướcr,

phun nước ra từ mũi, và phát ra đủ mọi thứ tiếng động Các con đực to lớn có xu hướng thắng thế hơn

Khi con cái bị hấp dẫn thì cặp cá sấu này cọ xát mặt bên dưới của quai hàm của chúng với nhau Con

cái đẻ trứng khoảng 2 tháng sau khi giao phối

Việc làm ổ đẻ diễn ra trong tháng 11 hoặc tháng 12, là mùa khô ở miền bắc châu Phi, và là mùa mưa ở

miền nam Các chỗ ưa thích làm ổ là các bờ cát, bờ sông hay các chỗ khô ráo Con cái đào lỗ cách bờ

sông vài mét và sâu khoảng 50 cm (20 inch) và đẻ từ 25 đến 80 trứng Số lượng trứng dao động theo

từng quần thể, nhưng trung bình khoảng 50 quả Các ổ trứng cá sấu có thể rất gần nhau

Khi đẻ trứng xong, con cái phủ lấp trứng bằng cát và bảo vệ chúng khoảng 3 tháng của thời kỳ ấp

trứng Con đực thường nằm gần đó và cả hai sẵn sàng tán công bất kể người hay động vật nào đến gần

trứng của chúng Con cái chỉ rời ổ khi chúng cần điều chỉnh thân nhiệt bằng cách ngâm mình rất nhanh

Trang 13

xuống nước hay tìm chỗ có bóng râm Mặc dù các ổ trứng được cha mẹ chúng bảo vệ kỹ lưỡng nhưng

chúng vẫn bị con người hay các loài thằn lằn (các loài bò sát thuộc chi Varanus) hay các động vật

khác lấy đi khi con mẹ tạm thời vắng mặt

Trước khi chào đời con non bao giờ cũng phát ra các tiếng kêu nhỏ, đây là tín hiệu để con mẹ phá bỏ

ổ Cả hai con mẹ và cha có thể đưa trứng vào miệng và lăn chúng giữa lưỡi và vòm miệng trên của

chúng để giúp con sơ sinh phá vỡ lớp vỏ trứng để chui ra Sau khi chúng sinh ra, con mẹ sẽ dẫn chúng

xuống nước hoặc đem chúng xuống trong miệng của mình

Cá sấu sông Nin có sự xác định giới tính phụ thuộc nhiệt độ (TSD), có nghĩa là giới tính của con sơ

sinh sẽ không phụ thuộc vào di truyền mà phụ thuộc vào nhiệt độ trung bình trong khoảng giữa của

thời kỳ ấp trứng của chúng Nếu nhiệt độ trong ổ là thấp hơn 31,7 °C (89,1 °F), hay cao trên 34,5 °C

(94,1 °F), con non sinh ra sẽ là con cái Con đực chỉ có thể sinh ra khi nhiệt độ nằm trong khoảng hẹp

chỉ 2,8 độ (31,7 - 34,5)

Con non dài khoảng 30 cm (12 inch) khi mới sinh Con mẹ sẽ bảo vệ chúng cho đến khi chúng được 2

năm tuổi, và nếu có nhiều ổ trứng trong cùng một khu vực, các con mẹ có thể tạo ra crèche Trong thời

gian này, các con mẹ có thể bảo vệ các con của mình bằng cách cho chúng vào trong miệng hoặc trong

cổ họng Vào cuối năm thứ hai, con non sẽ dài khoảng 1,2 m (4 ft), và sẽ dời bỏ khu vực ổ, tránh xa

lãnh thổ của các con cá sấu già và lớn hơn

Tuổi thọ của cá sấu sông Nin chưa được xác định rõ, nhưng các loài to lớn như cá sấu sông Nin

thường sống lâu hơn và có tuổi thọ khoảng 70 năm

Thức ăn và thói quen ăn uống

Con sơ sinh ăn côn trùng và các loài động vật không xương sống nhỏ dưới nước, và nhanh chóng thích

nghi với các thức ăn từ động vật lưỡng cư, bò sát và chim Tuy nhiên, 70% thức ăn của cá sấu sông

Nin là cá, mặc dù những con cá sấu lớn có khả năng ăn thịt gần như bất kỳ động vật có xương sống

nào khi chúng đi uống nước, ngoại trừ chỉ có voi và hà mã trưởng thành Chúng cũng ăn thịt ngựa vằn,

hà mã non, trâu, linh dương như gnu (phát âm nu - các loài động vật thuộc chi Connochaetes, trông

giống như bò), và thậm chí cả các động vật lớn thuộc họ Mèo và các con cá sấu khác

Cá sấu sông Nin trưởng thành sử dụng thân hình và đuôi của chúng để dồn cá thành một bầy về phía

bờ sông để ăn thịt chúng với những cú cắn ngang đầu chúng Chúng cũng hợp tác để ngăn chặn cá di

cư bằng cách tạo ra các cung tròn ngang trên sông Những con cá sấu to lớn nhất được ăn đầu tiên

Khả năng ngụy trang bằng cách ngâm mình dưới nước cùng với tốc độ cao trong những khoảng cách

nhỏ giúp chúng có hiệu quả trong việc săn bắt các con mồi lớn Chúng ngoạm các con mồi như thế

bằng trong các hàm cực khỏe và kéo con mồi xuống nước, và cố gắng giữ con mồi ở đó cho đến khi

chúng bị chết đuối vì ngạt thở Chúng cũng sẽ ăn thịt các loài chết đã lâu, mặc dù chúng tránh không

ăn thịt thối rữa Các nhóm cá sấu sông Nin có thể bò hàng trăm mét xa nguồn nước để săn tìm thức ăn

tươi sống

Khi con mồi của chúng đã chết, chúng xé toạc và ăn từng tảng thịt to Khi nhóm cá sấu sông Nin chia

sẻ thức ăn, chúng sử dụng nhau như là đòn bẩy, cắn sâu vào cơ thể con mồi và sau đó vặn xoắn cơ thể

chúng để tách ra những lớp thịt lớn Chúng cũng có thể tạo ra đòn bẩy cần thiết bằng cách hãm con

mồi ở dưới các tảng đá hay cành cây, trước khi cắn xé và vặn mình

Trang 14

Cá sấu sông Nin còn nổi tiếng với quan hệ cộng sinh với một số loài chim như choi choi Theo các báo

cáo, cá sấu há miệng rộng và sau đó các con chim choi choi sẽ rỉa các miếng thịt nhỏ còn rắt trong

răng của cá sấu Điều này rất khó kiểm chứng, nó có lẽ không phải là quan hệ cộng sinh thực thụ

Khu vực sinh sống

Phân bổ của C niloticus

Khu vực sinh sống ưa thích của cá sấu sông Nin là dọc theo các con sông, trong các đầm lầy nước ngọt

hoặc trong các hồ; trong một số trường hợp chúng sinh sôi ở các vùng nước lợ chẳng hạn dọc theo các

cửa sông hay ở các vùng ngập lụt có đước mọc

Chúng được tìm thấy ở các vùng của châu Phi về phía nam sa mạc Sahara, ở Madagascar và dọc theo

lưu vực sông Nin Theo dòng lịch sử thì chúng đã từng tồn tại trên quần đảo Comoros (nằm giữa

Madagascar và Mozambique), nhưng ngày nay không còn Gần đây thôi cá sấu sông Nin còn hiện diện

ở Israel, Jordan và Algeria Sự vắng mặt của chúng ở nhiều nơi được quy cho là do sự mở rộng của khí

hậukhô cằn và tương ứng với nó là sự suy giảm của các vùng đất ẩm ướt Người ta gần như không còn

tìm thấy chúng ở vùng đồng bằng châu thổ sông Nin hay dọc theo các vùng ven bờ biển Địa Trung

Hải Khu vực sinh sống của chúng đã bị thu hẹp chỉ còn trong vùng sinh thái nhiệt đới châu Phi

Tình trạng môi trường

Từ những năm 1940 đến cuối thập niên 1960, cá sấu sông Nin đã bị săn bắn rất nhiều, chủ yếu để lấy

da cá sấu có chất lượng cao được ưa thích trên thị trường hàng tiêu dùng bằng da, ngoài ra còn để lấy

thịt và các chất làm thuốc chữa bệnh Quần thể cá sấu sông Nin đã bị suy giảm mạnh và loài này gần

như đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng Luật pháp các quốc gia trong khu vực cũng như các quy định

của thương mại quốc tế đã giúp cho loài này hồi sinh ở nhiều khu vực và loài này trên tổng thể đã

thoát khỏi họa diệt chủng

Hiện nay, người ta ước tính còn khoảng từ 250.000 đến 500.000 cá thể còn sống trong tự nhiên Cá sấu

sông Nin cũng phân bổ rộng rãi với các quần thể đã được xác định ở nhiều quốc gia ở miền đông và

nam châu Phi, chẳng hạn ở Ethiopia, Kenya và Zambia Các chương trình chăn nuôi cá sấu để lấy da

đã được thực hiện với kết quả tốt trong khu vực này và thậm chí các quốc gia có hạn ngạch cho xuất

khẩu cũng dịch chuyển sang việc chăn nuôi cá sấu Năm 1993, 80.000 cá sấu sông Nin đã được sử

dụng để sản xuất da, chủ yếu từ chăn nuôi ở Zimbabwe và Nam Phi

Trang 15

Tình trạng của cá sấu sông Nin ở miền tây và trung châu Phi là nguy ngập hơn, dù đây là 2/3 diện tích

khu vực sinh trưởng của chúng Quần thể cá sấu sông Nin ở đây thưa thớt hơn và vẫn chưa được khảo

sát chính xác Quần thể cá sấu sông Nin trong khu vực này có thể ít hơn vì điều kiện môi trường ít

thuận lợi hơn cũng như do có sự cạnh tranh của các loài cá sấu khác cùng khu vực sinh sống như cá

sấu mõm thon và cá sấu lùn, do vậy tình trạng tuyệt chủng có thể nguy cấp hơn so với các khu vực

khác Các yếu tổ bổ sung cho vấn đề này là sự suy giảm nghiêm trọng của các vùng đất ẩm ướt cũng

như sự săn bắn của con người trong những năm thập niên 1970 Các chương trình khảo sát sinh thái và

quản lý bổ sung là cần thiết cho vấn đề này

Cá sấu sông Nin là động vật ăn thịt hàng đầu trong môi trường của chúng và chúng duy trì quần thể

các loài khác chẳng hạn cá da trơn có râu (cũng là động vật ăn thịt có thể ăn thịt hết các loài cá khác),

cũng như các loài chim Cá sấu sông Nin còn ăn cả động vật đã chết, mà nếu không thì các xác chết

này có thể gây ô nhiễm môi trường nước Đe dọa chủ yếu đối với cá sấu sông Nin lại là con người

Trong khi việc săn bắn trộm không còn là vấn đề chính thì chúng lại bị đe dọa bởi ô nhiễm, săn bắn

cũng như bị mắc vào các lưới đánh cá

Phần lớn lý do săn bắn chúng nảy sinh từ tiếng tăm của chúng như những động vật ăn thịt người, điều

này vẫn chưa lý giải được hoàn toàn Không giống như các loài cá sấu "ăn thịt người" khác, chẳng hạn

cá sấu nước mặn, cá sấu sông Nin sinh sống gần với các tụ điểm dân cư, vì thế sự va chạm với chúng

cũng là thường xuyên Tuy chưa có con số chính xác, nhưng cá sấu sông Nin có thể đã giết chết vài

trăm người trong một năm, con số này lớn hơn so với tất cả các loài cá sấu khác cộng lại

Tình trạng bảo tồn của cá sấu sông Nin theo sách đỏ năm 1996 của liên minh bảo tồn thế giới (IUCN)

là "ít nguy cấp" Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật đang nguy cấp (CITES) liệt

kê cá sấu sông Nin vào Phụ lục I (đe dọa tuyệt chủng) ở phần lớn các khu vực sinh sống của chúng

cũng như vào Phụ lục II (không bị đe dọa, nhưng cần kiểm soát việc buôn bán) ở các khu vực còn lại,

điều này hoặc là cho phép chăn nuôi hay thiết lập hạn ngạch hàng năm về sản lượng da thu hoạch từ cá

sấu sống hoang dã

Thánh thần, xác ướp và bùa chú

Trang 16

Sobek ở đền thờ Kom-Ombo

Những người Ai Cập cổ đại tôn thờ Sobek, một vị thần liên quan đến độ màu mỡ của đất đai, bảo vệ

và sức mạnh của Pharaôn (vua Ai Cập) Họ có quan hệ nước đôi với Sobek, giống như họ đối xử với

cá sấu sông Nin; đôi khi họ săn bắt cá sấu sông Nin và chửi rủa Sobek, nhưng đôi khi họ lại coi ông

ngư là người bảo vệ và là nguồn sức mạnh của Pharaôn

Sobek được miêu tả như một con cá sấu, cũng như là một con cá sấu đã ướp xác, hoặc như là một

người với đầu là đầu cá sấu Trung tâm thờ cúng ông là thành phố Arsinoe của Ai Cập cổ đại (khoảng

từ năm 1986 TCN đến năm 1633 TCN) ở ốc đảo Faiyum (hiện nay là El Faiyûm), được người Hy Lạp

cổ đại biết đến như là "Crocodopolis" Một đền thờ lớn của Sobek khác ở Kom-Ombo và các đền thờ

khác nằm rải rác khắp nước này

Theo Herodotus (thế kỷ 5 TCN), một số người Ai Cập cổ đại giam hãm cá sấu như là con vật nuôi

Trong đền thờ Sobek ở Arsinoe, cá sấu được nuôi giữ trong ao của đền thờ, chúng được cho ăn, được

trang sức và thờ cúng Khi các con cá sấu chết, chúng được tẩm chất thơm và ướp xác cũng như đặt

vào trong quan tài đá, và sau đó được hỏa thiêu trong hầm mộ thánh thần Rất nhiều xác ướp cá xấu đã

được tìm thấy trong các hầm mộ Ai Cập, thậm chí còn tìm thấy cả trứng cá sấu

Bùa chú được sử dụng ở Ai Cập cổ đại bằng các xác ướp cá sấu thậm chí cả những ngư dân Nubia cận

đại cũng nhồi xác các con cá sấu và đặt ở cửa ra vào để phòng ma quỷ

Cá sấu đôi khi cũng được gắn liền với Sutekh (tên khác: Set, Setesh), vị thần của ma quỷ

Truyện viễn tưởng

Trang 17

Cá sấu cũng xuất hiện trong các phim ảnh và truyện kinh dị Ví dụ, một kẻ xấu trong phim loại B

Crocodile (sản xuất năm 2000) là một con cá sấu sông Nin 100 năm tuổi dài 9 m (30 ft) được gọi là

"Flat Dog" (con chó bẹp), chuyên môn ăn thịt những đứa trẻ từ 13 đến 19 tuổi (tuổi teen)

Trong thế giới viễn tưởng Discworld, được miêu tả trong sách của Terry Pratchett, một trong những vị

thần của Discworld là Offler là vị thần cá sấu Ông được thờ cúng chủ yếu Tên gọi khác

Cá sấu sông Nin được gọi là Mamba ở Swahili, Garwe ở Shona, Ngwenya ở Ndebele và Olom ở

Nubia

tên gọi khoa học Crocodylus niloticus có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp kroko ("đá cuội"), deilos ("bọ",

hay "người"), để chỉ tới lớp da sần sùi của chúng; và niloticus, có nghĩa là "từ sông Nin".

Phân loại

Cá sấu là các archosaur; được hình thành sớm từ sự chia tách ra khỏi phần còn lại của lớp bò sát

khoảng 230 triệu năm trước đây, trong thời kỳ của kỷ Triassic Họ hàng gần nhất của chúng còn tồn tại

đến ngày nay là hậu duệ duy nhất còn sống sót của archosaur: chim Giống như chim, chúng có mề và

tim 4 ngăn Không giống như chim, (là hậu duệ của khủng long (dinosaur)), hình dạng cơ thể cơ bản

của cá sấu thay đổi rất ít theo thời gian

Crocodylus niloticus sinh sống trong một khu vực rộng lớn và vì thế có nhiều khác biệt giữa các quần

thể của loài này Tuy nhiên, không có phân loài chính thức, mặc dù có ít nhất 7 phân loài đã được đưa

ra Đó là:

C n africanus: Cá sấu sông Nin ở Đông Phi

C n chamses: Cá sấu sông Nin ở Tây Phi

C n corviei: Cá sấu sông Nin ở Nam Phi

C n madagascariensis: Cá sấu sông Nin ở Malagasy, cá sấu alligator Malagasy, hay Croco Mada

C n niloticus: cá sấu sông Nin ở Ethiopia

C n pauciscutatus: cá sấu sông Nin ở Kenya, cá sấu alligator Kenya hay cá sấu caiman Kenya

C n suchus: cá sấu sông Nin ở Trung Phi

o Cá sấu Cửu Long, cá sấu đầm lầy, cá sấu Iran hoặc cá sấu Ba Tư, Crocodylus palustris

o Cá sấu nước lợ, cá sấu nước mặn, cá sấu bông, cá sấu lửa, cá sấu hoa cà hay cá sấu cửa sông

Crocodylus porosus

o Cá sấu Xiêm, cá sấu Thái Lan, hay cá sấu nước ngọt, Crocodylus siamensis

Trang 19

Cá sấu Xiêm (Crocodylus siamensis), còn gọi là cá sấu Thái Lan hay cá sấu nước ngọt, là loài

sấu nước ngọt có nguồn gốc ở Borneo, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Thái Lan và Việt Nam

Trong điều kiện tự nhiên chúng thích sống ở các vùng nước chảy chậm như đầm, sông và hồ Phần lớn

cá sấu trưởng thành không dài quá 3 m (10 ft), mặc dù trong điều kiện chăn nuôi có những con lai có

thể dài hơn

Vì bị săn bắt cực kỳ thái quá nên loài cá sấu này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và nó được xếp

vào trong danh sách các loài đang cực kỳ nguy cấp Trong tháng 3 năm 2005, các nhà bảo tồn đã tìm

thấy ổ các cá sấu Xiêm nhỏ ở tỉnh miền nam của Lào là Savannakhet và ở khu vực xã Ea Lâm (Sông

Hinh, Phú Yên)[1] Điều này làm tăng hy vọng cho loài gần như tuyệt chủng này có cơ hội sống sót

Cá sấu là động vật cao cấp nhất trong tất cả các loài lưỡng cư Cá sấu có tim 4 ngăn, cơ hoành và vỏ

não Đặc điểm này làm nó được đánh giá là tiến hóa hơn những loài lưỡng cư khác Cá sấu ăn thịt và

là tay đi săn cừ khôi Thân thể chúng thuôn dài giúp bơi nhanh hơn Khi bơi chúng ép sát chân vào

người để giảm sức cản của nước Chân cá sấu có màng, không phải dùng quạt nước mà để sử dụng cho

những cử động nhanh đột ngột hoặc lúc bắt đầu bơi Chân có màng giúp cá sấu có lợi thế ở những chỗ

nước nông, nơi mà các con vật trên cạn thường qua lại

Tuổi

Không có 1 phương pháp chính xác nào đo đạc được tuổi thọ của cá sấu, mặc dù có 1 vài kỹ thuật đưa

ra được những phỏng đoán khá chính xác Phương pháp chung là đo những vòng tuổi trong xương và

Trang 20

mưa, khí hậu ẩm Loài [cá sấu porosus] trung bình sống khoảng 71 năm, nhưng có những cá nhân vượt

qua con số 100 Một trong những con cá sấu sống thọ nhất được ghi lại là con cá sấu sống ở vườn thú

Nga, 115 tuổi Tuy nhiên tài liệu ghi chép không nói rõ nó thuộc giống cá sấu nào

Một con cá sấu nước ngọt giống đực sống ở vườn thú Austraylia đã 130 tuổi Nó được Bob và Steve

Irwin cứu sống sau khi đã bị bắn 2 lần

Kích thước

Kích thước của cá sấu thay đổi đáng kể, giữa loài cá sấu lùn và loài cá sấu nước mặn khổng lồ Một số

loài cá sấu có thể dài từ 5 đến 6 mét và nặng khoảng 1.200 kg Tuy nhiên, lúc mới sinh ra cá sấu chỉ

khoảng 20 cm Loài cá sấu lớn nhất là cá sấu nước mặn sống ở Bắc Úc và Đông Nam Á Theo một số

nhà khoa học, không một con cá sấu nào có thể vượt qua kích thước 8,64 m Ở việt nam co loài cá sấu

nước lợ có thể nặng tới 2800kg kơ thể chúng có thể dài tới 8 đến 12 mét[cần dẫn nguồn] Hiện nay chúng

đang nằm trong sách đỏ Việt Nam và số lượng cá thể còn lại rất ít chỉ khoảng 1 đến 3 con Ngày 15

tháng 2 năm 2008 1 người đi lấy mật ong tại U Minh Thượng đã bắt được 1 con và nộp cho kiểm lâm

và đang được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và theo đánh giá sơ bộ thì con cá sấu nay có tuổi

thọ vào khoảng 189 tuổi và nó thuộc họ MU

3 Vì sao lại có động đất?

A Do những vụ nổ trong lòng đất

Trang 21

B Do bên trong trái đất quá nóng

C Do sự chuyển động của vỏ trái đất

Câu trả lời của nhóm Dolphin Blue là C Do sự chuyển động của vỏ Trái đất.

Động đất

Những chấn tâm động đất toàn cầu, 1963–1998

Động đất hay địa chấn là một sự rung chuyển hay chuyển động lung lay của mặt đất Động đất

thường là kết quả của sự chuyển động của các phay (geologic fault) hay những bộ phận đứt gãy trên

vỏ của Trái Đất hay các hành tinh cấu tạo chủ yếu từ chất rắn như đất đá Tuy rất chậm, mặt đất vẫn

luôn chuyển động và động đất xảy ra khi ứng suất cao hơn sức chịu đựng của thể chất trái đất Hầu hết

mọi sự kiện động đất xảy ra tại các đường ranh giới của các mảng kiến tạo là các phần của thạch

quyển của trái đất (các nhà khoa học thường dùng dữ kiện về vị trí các trận động đất để tìm ra những

ranh giới này) Những trận động đất xảy ra tại ranh giới được gọi là động đất xuyên đĩa và những trận

động đất xảy ra trong một đĩa (hiếm hơn) được gọi là động đất trong đĩa

Đặc điểm

Động đất xảy ra hằng ngày trên trái đất, nhưng hầu hết không đáng chú ý và không gây ra thiệt hại

Động đất lớn có thể gây thiệt hại trầm trọng và gây tử vong bằng nhiều cách Động đất có thể gây ra

đất lở, đất nứt, sóng thần, nước triều giả, đê vỡ, và hỏa hoạn Tuy nhiên, trong hầu hết các trận động

đất, sự chuyển động của mặt đất gây ra nhiều thiệt hại nhất Trong rất nhiều trường hợp, có rất nhiều

trận động đất nhỏ hơn xảy ra trước hay sau lần động đất chính; những trận này được gọi là dư chấn

Năng lực của động đất được trải dài trong một diện tích lớn, và trong các trận động đất lớn có thể trải

Trang 22

hết toàn cầu Các nhà khoa học thường có thể định được điểm mà các sóng địa chấn được bắt đầu

Điểm này được gọi là chấn tiêu Hình chiếu của điểm này lên mặt đất được gọi là chấn tâm

Nhiều trận động đất, đặc biệt là những trận xảy ra dưới đáy biển, có thể gây ra sóng thần, hoặc có thể

vì đáy biển bị biến dạng hay vì đất lở dưới đáy biển

Có bốn loại sóng địa chấn được tạo ra cùng lúc Tuy nhiên, chúng có vận tốc khác nhau và có thể ghi

nhận được theo thứ tự đi đến trạm thu như sau: sóng P, sóng S, sóng Love, và cuối cùng là sóng

Rayleigh

Độ Richter

1–2 trên thang Richter

Không nhận biết được

2–4 trên thang Richter

Có thể nhận biết nhưng không gây thiệt hại

4–5 trên thang Richter

Mặt đất rung chuyển, nghe tiếng nổ, thiệt hại không đáng kể

5–6 trên thang Richter

Nhà cửa rung chuyển, một số công trình có hiện tượng bị nứt

6–7 trên thang Richter

7–8 trên thang Richter

Mạnh, phá hủy hầu hết các công trình xây dựng thông thường, có vết nứt lớn hoặc hiện tượng sụt lún

trên mặt đất

8–9 trên thang Richter

Rất mạnh , phá hủy gần hết cả thành phố hay đô thị , có vết nứt lớn , vài tòa nhà bị lún

>9 trên thang Richter

Rất hiếm khi xảy ra

>10 trên thang Richter

Cực hiếm khi xảy ra

Độ Richter

Thang đo Richter là một loại thang để xác định sức tàn phá của các cơn động đất (địa chấn)

Lịch sử

Thang đo này được Charles Francis Richter đề xuất vào năm 1935 Đầu tiên nó được sử dụng để sắp

xếp các số đo về cơn động đất địa phương tại California Những số đo này được đo bằng một địa chấn

kế đặt xa nơi động đất 100 km

Báo chí không chuyên môn về khoa học thường nói ra độ lớn động đất "theo thang Richter" Tuy

nhiên, phần nhiều độ lớn được tính ngày nay thực sự là tính toán theo thang độ lớn mô men, tại vì

thang Richter cũ hơn không thích hợp với các độ lớn hơn 6,8 Trung tâm Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ

(USGS) không sử dụng thang này đối với các trận động đất có cường độ nhỏ hơn 3,5

Trang 23

Nguyên tắc

Thang đo Richter là một thang lôgarit với đơn vị là độ Richter Độ Richter tương ứng với lôgarit thập

phân của biên độ những sóng địa chấn đo ở 100 km cách chấn tâm của cơn động đất Độ Richter được

tính như sau:

M L = lg(A) − lg(A0)

với A là biên độ tối đa đo được bằng địa chấn kế và A0 là một biên độ chuẩn

Theo thang Richter, biên độ của một trận động đất có độ Richter 6 mạnh bằng 10 lần biên độ của một

trận động đất có độ Richter 5 Năng lượng được phát ra bởi trận động đất có độ Richter 6 bằng khoảng

31 lần năng lượng của trận động đất có độ Richter 5

Các mức độ

Thang Richter là một thang mở và không có giới hạn tối đa Trong thực tế, những trận động đất có độ

Richter lớn hơn hoặc bằng 9 là những trận động đất kinh khủng Thí dụ trận động đất tại Chile ngày 22

tháng 5 năm 1960 với độ Richter bằng 9,5

động đất thật nhỏ, không cảm nhận được

khoảng 8.000 mỗi ngày

thật

thường không cảm nhận nhưng đo được

khoảng 1.000 mỗi ngày

cảm nhận được nhưng ít khi gây thiệt hại

khoảng 49.000 mỗi năm

4,0-4,9

rung chuyển đồ vật trong nhà Thiệt hại khá quan trọng

khoảng 6.200 mỗi năm

trung

bình

5,9

5,0-có thể gây thiệt hại nặng cho những kiến trúc không theo tiêu chuẩn phòng ngừa địa chấn Thiệt hại nhẹ cho những kiến trúc xây cất đúng tiêu chuẩn

khoảng

800 mỗi năm

Trang 24

vùng đông dân trong chu vi 180

rất

mạnh

7,9

7,0-có sức tàn phá quan trọng trên những diện tích to lớn

khoảng

18 mỗi năm

cực

có sức tàn phá vô cùng quan trọng trên những diện tích to lớn trong chu vi hàng trăm

km bán kính

khoảng 1 mỗi năm

cực kỳ

mạnh

9,9

9,0-Sức tàn phá vô cùng lớn

khoảng 1 mỗi 20 nămKinh

Có thể gây ra Ngày Tận Thế

Có thể không xảy ra

Mỗi trận động đất có một độ Richter duy nhất xác định sức tàn phá của nó trong khi cường độ thì thay

đổi tùy theo khoảng cách xa hay gần đối với chấn tâm Có thể so sánh với một cây pháo: kích thước

của cây pháo nói lên sức mạnh lúc nổ (tương ứng với độ Richter) và tiếng nổ nghe được (tương ứng

với cường độ của trận động đất)

Các thang đo khác

• Thang độ lớn mô men (Mw)

Thang độ lớn mô men (tiếng Anh: moment magnitude scale) là một cách đo mạnh động đất được

phát triển năm 1979 bởi Tom Hanks và Kanamori Hiroo để kế tiếp thang Richter (thang độ lớn địa

phương), và được sử dụng bởi các nhà địa chấn học để so sánh năng lượng được phát ra bởi động đất

Độ lớn mô men Mw là số không thứ nguyên được tính theo công thức

trong đó, M0 là mô men địa chấn Ký hiệu của thang độ lớn mô men là Mw, trong đó, chữ w tiểu là

công cơ học được thực hiện Năng lượng được phát ra bởi một trận động đất có độ 8 theo thang lôgarit

này bằng 101,5 = 31,6 lần năng lượng của một trận có độ 7, và một trận có độ 9 mạnh bằng 103 = 1.000

lần của một trận có độ 7

Các hằng số trong công thức được chọn để cho những độ lớn mô men ước lượng gần ứng với các

thang khác, như là thang Richter Một thuận lợi của thang độ lớn mô men là, khác với các thang độ lớn

kia, nó không bão hòa đối với các độ lớn, tức là không có một giá trị mà các động đất mạnh hơn gần

như cùng độ lớn Ví thế, độ lớn mô men mới là cách phổ biến nhất để ước lượng độ lớn của trận động

đất lớn

Trang 25

Báo chí không chuyên môn về khoa học thường nói ra độ lớn động đất "theo thang Richter" Tuy

nhiên, phần nhiều độ lớn được tính ra ngày nay thực sự tính theo thang độ lớn mô men, tại vì thang

Richter cũ hơn không thích hợp với các độ lớn hơn 6,8 Trung tâm Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS)

không xài thang này đối với các trận động đất có độ lớn ít hơn 3,5

• Thang Rossi-Forel (viết tắt là RF)

Thang đo Rossi-Forel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Thang Rossi-Forel)

Bước tới: menu, tìm kiếm

Thang đo Rossi-Forel là một loại thang cổ để phân loại cường độ của các cơn động đất dựa trên

những thiệt hại mà nó gây ra Tuy nhiên loại thang đo này ngày càng trở nên thiếu chính xác nên đã

được thay thế bằng thang Mercalli

Thang Rossi-Forel được chia ra làm 10 mức:

Mức 1: rung động rất nhỏ, gần như khó có thể nhận ra bởi các địa chấn kế thông thường.

Mức 2: rung động vô cùng yếu, cũng rất khó để có thể nhận biết được.

Mức 3: rung động rất yếu, có thể nhận ra được và ước lượng được phương và thời gian của cơn địa chấn

Mức 6: rung động khá mạnh, có thể cảm nhận được ngay cả khi đang ngủ, hay sự dao động mạnh của

con lắc đồng hô hay chiếc đèn chùm

Mức 7: rung động mạnh, có thể thấy qua sự dịch chuyển của các thiết bị cầm tay hay quả chuông ở nhà

thờ, nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các ngôi nhà có kiến trúc kiên cố

Mức 8: rung động rất mạnh,có thể tạo ra các vết nứt trên đường và tường nhà.

Mức 9: rung động vô cùng mạnh, có thể phá hủy toàn bộ hay một phần của các ngôi nhà.

Mức 10: rung động với cường độ khủng khiếp, phá hủy mọi ngôi nhà thậm chí làm sạt lở đường và các

mỏm đá

• Thang Medvedev-Sponheuer-Karnik (viết tắt là MSK)

• Thang Mercalli (viết tắt là MM)

Trang 26

Thang đo Mercalli là một loại thang để phân loại các cơn động đất dựa trên những thiệt hại nhìn thấy

được của chúng

Các mức cường độ

Thang Mercalli có 12 mức:

Mức 1: Không một rung động nào có thể nhận ra

Mức 2: Một vài người có thể cảm nhận được khi họ đang nằm nghỉ hoặc trên một tòa nhà cao tầng

Mức 3: Một vài người có thể cảm nhận được nếu đang ở trong nhà; ngược lại, họ sẽ không thấy gì nếu

đang ở bên ngoài

Mức 4: Một số đồ vật nhỏ như đĩa, bát có thể bị dịch chuyển.

Mức 5: Phần lớn mọi người đều có thể cảm nhận được ngay cả khi đang ngủ Những cánh cửa sẽ bị

đóng sập lại, bình hoa bị vỡ

Mức 6: Mọi người sẽ cảm thấy được cơn địa chấn này khiến cho việc đi lại khó khăn, đồ vật hư hỏng,

thậm chí phá hủy các ngôi nhà có kiến trúc tồi

Mức 7: Gây ra trở ngại trong việc di chuyển, thậm chí ngay cả khi đang trong ô tô, rất nguy hiểm đối

với các ngôi nhà tồi

Mức 8: Phá hủy các ngôi nhà có nền yếu và một số công trình như cầucống

Mức 9: Khá nguy hiểm đối với những tòa nhà cao tầng, phá hủy các công trình giao thông dưới lòng

đất

Mức 10: Phần lớn các ngôi nhà đều bị phá hủy, có thể gây ra các hiện tượng như sạt lở đường.

Mức 11: Hầu hết các công trình trên đường lẫn dưới mặt đất đều bị hư hỏng nặng.

Mức 12: Gần như mọi thứ đều bị phá hủy, mặt đất dịch chuyển theo những đường cong, có thể làm sạt

lở các mỏm đá

• Thang Shindo của cơ quan khí tượng học Nhật Bản

• Thang EMS98 tại châu Âu

Nguyên nhân

• Nội sinh: liên quan đến vận động phun trào núi lửa, vận động kiến tạo ở các đới hút chìm, các hoạt động

đứt gãy

• Ngoại sinh: Thiên thạch va chạm vào Trái Đất, các vụ trượt lở đất đá với khối lượng lớn

• Nhân sinh: Hoạt động làm thay đổi ứng suất đá gần bề mặt hoặc áp suất chất lỏng, đặc biệt là các vụ thử

hạt nhân dưới lòng đất

Ngoài ra còn phải kể đến hoạt động âm học, đặc biệt là kỹ thuật âm thanh địa chấn

Trang 27

Nên làm gì khi có động đất

Động đất là một thiên tai khó có thể dự báo trước được [1], cho nên những người sống ở một nơi gần

những nơi thường có động đất không thể tránh nó được Tuy nhiên, có một số điều ta có thể làm để

trước, trong lúc, và sau động đất để tránh thương tích và thiệt hại do động đất gây ra

Trước động đất

• Những vật dụng trong nhà nên được đứng vững chắc Những thứ như tivi, gương, máy tính, v.v nên

được dán chặt vào tường để khi lung lay cũng không rớt xuống đất gây ra thương tích Tranh, gương,

v.v nên được đặt xa giường ngủ

• Đặt các đồ đạc nặng trong nhà như kệ sách, tủ chén, v.v xa khỏi các cửa và những nơi thường lui tới để

khi chúng ngả vẫn không làm chướng ngại lối ra Chúng cũng nên được dính chặt vào tường

• Vật dụng nhà bếp nên được dính chặt vào mặt đất, tường, hay mặt bàn

• Những vật nặng hay dễ bể nên để gần mặt đất

• Tại một nơi dễ đến, dự trữ nước uống, đồ ăn đóng hộp, đèn pin, pin, rađiô, băng, thuốc men Thay đổi

chúng thường xuyên khi hết hạn

• Chọn một nơi tụ họp gia đình nếu mọi người không ở cùng nơi khi động đất xảy ra

Trong lúc động đất

• Nếu động đất xảy ra trong lúc trong nhà, chui xuống một gầm bàn lớn hay giường nếu nó có thể chịu

được nhiều vật rớt Như thế khi nhà sập vẫn có khí thở Nếu bàn chuyển động, đi theo bàn

• Nếu không có gầm bàn thì tìm góc phòng hay cửa mà đứng Tránh cửa kính

• Tránh xa những vật có thể rơi xuống

• Che mặt và đầu để khỏi bị các mảnh vụn trúng

• Nếu điện cúp, dùng đèn pin Đừng dùng nến hay diêm vì chúng có thể gây hỏa hoạn

• Nếu động đất xảy ra trong lúc ở ngoài đường, tránh xa các tòa nhà và dây điện Tìm chỗ trống mà đứng

• Nếu động đất xảy ra trong lúc lái xe, ngừng xe ở lề đường Tránh các cột điện, dây điện, và đường cầu

Đăc biệt, nếu đang ở trong các tòa nhà cao tầng:

• Tuyệt đối không được dùng thang máy vì khi có động đất thì hay kèm theo mất điện và nếu dùng thang

máy thì sẽ bị kẹt

• Cũng nên tránh xa các khu vực có cửa kính, đèn điện treo

• Nghiên cứu cho thấy có khá nhiều người bị thương là do cố ra khỏi tòa nhà cao tầng ngay lập tức hoặc

chạy sang các chỗ khác cùng tòa nhà Hầu hết thương vong liên quan tới động đất do bị tường đổ, các

mảnh kính bị vỡ và văng vào người

Sau động đất

Ngày đăng: 05/07/2014, 00:00

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w