Tài liệu trình bày quá trình hình thành loài người và sự phát triển của các chủng tộc trên thế giới. Nội dung phân tích nguồn gốc sinh học của con người từ vượn người đến Homo Sapiens, giải thích sự khác biệt hình thái giữa các chủng tộc do ảnh hưởng của môi trường, lai tạo và sống biệt lập. Bên cạnh đó, tài liệu bác bỏ các quan điểm sai lệch về chủ nghĩa chủng tộc, khẳng định mọi chủng tộc đều bình đẳng và thuộc cùng một loài người duy nhất. Đây là một nghiên cứu có giá trị giáo dục về sự đa dạng nhưng thống nhất của nhân loại.
Trang 1MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, con người đã có những nhận thức cơ bản về nguồn gốc của bản thân Thông qua các phương tiện như: Truyền miệng, các câu chuyện Dân gian, tác phẩm Sử thi, Thần thoại, Huyền thoại, Kinh thánh,… Những tác phẩm ấy phác họa lại sự ra đời của con người trên Trái Đất Tuy nhiên, tính thuyết phục của nó không cao, không có căn cứ cụ thể và không có bằng chứng xác thực
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của con người cũng như việc phân loại các đại chủng tộc, tiểu chủng của loài người Các nhà khảo cổ học
và các nhà khoa học đã đặt ra giả thuyết về nguồn gốc con người không ngừng nghiên cứu, tìm kiếm những hóa thạch để chứng minh giả thuyết đó Họ phát hiện có một loài vượn khá giống người đã xuất hiện, được gọi là Vượn người Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ họ đã tìm thấy được nhiều đặc điểm loài Vượn người ấy trong quá trình tiến hóa tương đồng với con Người hiện
đại ngày nay Tới đây lại xuất hiện một giả thuyết rằng: “ Nếu cùng là loài Vượn người thì tại sao lại có sự khác biệt về chiều cao và ngoại hình giữa người Châu
Á – Âu – Phi ? ” Câu trả lời được đưa ra là sự khác biệt ấy có liên quan đến các
chủng tộc con người Sự hình thành các chủng tộc, nguồn gốc và đặc điểm của các chủng tộc sẽ là vấn đề chính của bài tiểu luận Bằng phương pháp phân tích
và tổng hợp từ những dữ liệu có sẵn tiến hành nghiên cứu, chỉ ra rỏ những đặc điểm cụ thể của từng chủng tộc, phân biệt chủng tộc này với chủng tộc khác Cấu trúc tiểu luận gồm:
PHẦN 1: CÁC CHỦNG TỘC LOÀI NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI
PHẦN 2: CÁC CHỦNG TỘC LOÀI NGƯỜI Ở VIỆT NAM
PHẦN 3: KẾT LUẬN
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: CHỦNG TỘC 8
1.1 Định nghĩa chủng tộc 8
1.2 Bản chất của chủng tộc 8
1.3 Nguồn gốc – thời gian – sự hình thành nên chủng tộc 9
1.3.1 Nguồn gốc hình thành loài người 9
1.3.2 Thời gian – không gian hình thành 9
1.3.3 Sự hình thành chủng tộc trên thế giới 13
1.4 Đặc điểm các chủng tộc trên thế giới 14
1.4.1 Các đặc điểm hình thái để xác định chủng tộc 14
1.4.1.1 Màu da 15
1.4.1.2 Màu và dạng tóc 15
1.4.1.3 Màu và hình dạng mắt 15
1.4.1.4 Hình dạng mũi 16
1.4.1.5 Hình dạng đầu 16
1.4.1.6 Hình dạng mặt (trắc diện mặt) 16
1.4.1.7 Mức độ nhiều hay ít của lớp lông thứ ba 17
1.4.1.8 Hình dạng môi 17
1.4.1.9 Tầm vóc 17
1.4.1.10 Tỉ lệ thân hình 17
1.4.1.11 Răng 17
1.4.1.12 Vân tay 18
Chương 2: Các chủng tộc loài người trên thế giới 19
2.1 Các đại chủng tộc 19
2.2 Đặc điểm các đại chủng tộc trên thế giới 19
Chương 3: Chủ nghĩa chủng tộc 23
3.1 Nguồn gốc chủ nghĩa chủng tộc 23
3.2 Nội dung của chủ nghĩa chủng tộc 23
Chương 4: Nguồn gốc chủng tộc ở Việt Nam 25
Trang 34.1 .Nguồn gốc dân tộc Việt 25 4.2 Chủng tộc phổ biến ở Việt Nam 25
Tài liệu tham khảo 28
Trang 4PHẦN 1: CÁC CHỦNG TỘC LOÀI NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI
Trang 5CHƯƠNG 1: CHỦNG TỘC
Chủng tộc là một trong những vấn đề phức tạp trong khoa học nhân học, mặc dù
đã có sự trợ giúp của các thiết bị máy móc hiện đại, sự phát triển của công nghệ sinh học, di truyền học, nhưng những câu hỏi, như chủng tộc là gì? Bản chất của chủng tộc? Chủng tộc hình thành từ bao giờ? Không gian hình thành chủng tộc ở đâu? Nhân tố nào dẫn đến hình thành chủng tộc? Những câu hỏi này vẫn chưa có câu trả lời một cách thống nhất
1.1 Định nghĩa chủng tộc
Theo quan điểm của nhân học hiện đại thì về mặt sinh học, toàn thể nhân loại hiện nay trên trái đất làm một loài duy nhất – loài Homo Sapiens dưới loài là chủng tộc
Chủng tộc là một quần thể ( hay tập hợp các quần thể còn được gọi là những nhóm người ) đặc trưng bởi những đặc điểm di truyền về hình thái – sinh
lí mà nguồn gốc và quá trình hình thành của chúng liên quan đến một vùng khu vực nhất định Nói một cách khác thì chủng tộc là những nhóm người có một số đặc trưng hình thái giống nhau, những đặc trưng đó được di truyền lại Chủng tộc
là yếu tố sinh vật học, không phải là yếu tố xã hội Chủng tộc và quốc gia không liên quan với nhau, nhiều chủng tộc có thể ở trong một quốc gia
Khái niệm “Chủng tộc” là một khái niệm khoa học phản ánh sự tồn tại khách quan của một thực tại sinh học hoàn toàn xác định Nhận thức chủng tộc trên cơ sở quần thể ( chứ không phải là cá thể ) là một bước tiến quan trọng trong lý thuyết nhân chủng và sinh học Các chủng tộc loài người rất phong phú ngoài ra những dạng trung gian do hỗn chủng sinh ra ngày càng nhiều, có thể làm thay đổi và xóa nhòa ranh giới giữa các chủng tộc đã được hình thành
1.2 Bản chất của chủng tộc
Bản chất của chủng tộc thể hiện ở:
- Các quần thể người sống cách biệt trong những khu vực địa lý và điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ có đặc điểm hình thái khác nhau Ví dụ như về màu da vùng nhiệt đới ở châu Phi đã tạo điều kiện hình thành chủng tộc da đen, vùng ôn đới ở Địa Trung Hải, Tây Á và Trung Á đã tạo điều kiện cho đại chủng da trắng xuất hiện, vùng nhiệt đới châu Á đã tạo điều kiện hình thành đại chủng da vàng
- Chủng tộc ra đời trong buổi đầu sơ khai của loài người Theo đó, thời gian hình thành các chủng lớn gắn với sự ra đời con người hiện đại Homo Sapiens
- Chủng tộc mang những đặc trưng sinh lý học hình thái nhất định, như màu da, màu tóc, màu mắt, hình dáng cơ thể, cấu trúc hộp sọ, vành môi
- Những đặc trưng sinh lý học hình thái thấm vào gen di truyền, ổn định, lưu truyền từ đời này sang đời khác, về cơ bản không có biến đổi
Trang 6Tóm lại, chủng tộc là một quần thể người rộng lớn, mang những đặc trưng di truyền về cấu trúc sinh lý học hình thái, mà nguồn gốc và quá trình hình thành của chúng gắn với một vùng địa lí nhất định, trong buổi đầu sơ khai của loài người
Đã từ lâu người ta quan tâm tới một vấn đề: Vậy các chủng tộc loài người tương đương với cấp loài hay cấp chủng trong hệ phân loại sinh học ? Cho tới nay, chiếm ưu thế trong các nhà nghiên cứu đều cho rằng con người hiện tại, trong mối quan hệ sinh học, là một loài thống nhất là loài Homo Sapiens và được chia ra các đơn vị nhỏ hơn là chủng tộc Điều đó được khẳng định dựa trên rất nhiều luận chứng khoa học:
1 Tất cả chủng tộc loài người, khi hỗn chủng với nhau đều hoàn toàn có khả năng sinh sản Số liệu sinh sản cao ở cư dân các vùng Nam Á, quần đảo Mã Lai, ở Nam Mĩ ( là những vùng hỗn chủng ) là những bằng chứng
2 Mặc dù các chủng tộc rất khác nhau theo các đặc điểm hình thái bên ngoài Nhưng các chủng tộc đều có liên hệ với nhau bởi một loại những loại hình trung gian có thể chuyển hóa từ loại hình này vào loại hình kia
3 Ngày nay, con người là một loài sinh vật có khả năng sống ở mọi nơi trên trái đất ( trừ Châu Nam Cực vì điều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt, chỉ có các nhà khoa học ở lại để nghiên cứu ) Điều đó chứng minh về một khả năng thích nghi lớn của con người, đó cũng đồng thời biểu hiện một sự thống nhất của con người
1.3 Nguồn gốc – thời gian – sự hình thành nên chủng tộc
1.3.1 Nguồn gốc hình thành loài người
Hiện nay, trên thế giới còn 4 loài vượn có thể liên quan đến nguồn gốc loài người là: Gíp bông (Gibbon) vượn tay dài, Ôrăngôtăng (Orangutan) đười ươi, Simpangiê ( vượn đen ) và Gôrila Trong đó loài Simpangiê về cấu tạo cơ thể là giống người nhất
Các nhà nhân học và khảo cổ học đã căn cứ vào sự biến đổi các đặc điểm trên cơ thể con người qua từng giai đoạn, thời kì đã chia quá trình hình thành con người như sau:
- Tổ tiên trực tiếp của loài người là vượn người Phương Nam
Australopithecus Africanus
- Người khéo léo (Homo Habilis)
- Người đứng thẳng (Homo Erectus)
- Người hiện đại (Homo Sapiens)
Việc hình thành loài người dẫn đến hình thành xã hội nguyên thủy từ đó sự phân chia các thị tộc – bộ lạc dẫn đến sự hình thành chủng tộc
Trang 71.3.2 Thời gian – không gian hình thành
- Thời gian
Chủng tộc hình thành vào thời kỳ sơ khai của loài người, gắn với quá trình tiến hóa từ những bầy vượn người đến con người hiện đại Homo Sapiens, cách ngày nay khoảng trên dưới 10 vạn năm
Tuy nhiên, đối với các nhóm chủng tộc, thời gian hình thành có thể muộn hơn do quá trình lai tạo và sống biệt lập Ví dụ như trường hợp các nhóm chủng tộc Nam
Á, hay nhóm chủng tộc Anhdonediens ở Đông Nam Á
- Không gian
Dựa vào những tài liệu cổ sinh học, khảo cổ học, nhân chủng học mà các nhà khoa học đã chia quá trình hình thành con người thành các giai đoạn, như vượn người Homohabilia, người tối cổ Pitecanthrop, người cổ Neanderthal và người hiện đại Homosapiens Quá trình chuyển biến từ vượn thành người cách ngày nay khoảng trên dưới 2 triệu năm Đến hậu kỳ đá cũ, khoảng trên 10 vạn năm, người cổ Neanderthal đã dần tiến hóa thành con người hiện đại
Homosapiens
Vấn đề đặt ra ở đây là quá trình chuyển biến từ người cổ Neanderthal tiến hóa thành con người hiện đại Homosapies diễn ra ở đâu? Từ một trung tâm hay nhiều trung tâm diễn ra quá trình tiến hóa đó? Hiện nay, trong khoa học tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về không gian tiến hóa thành con người hiện đại và kéo theo các quan điểm khác nhau về không gian và quá trình hình thành các chủng tộc
Thứ nhất, thuyết Một trung tâm: Thuyết này do các nhà khoa học Xô Viết
đề xướng, như Lêvin, Rôghinxki Thuyết này chủ trương lúc đầu con người hiện đại Homosapies chỉ xuất hiện ở một khu vực nhất định, rồi từ đó thiên di đi các châu lục khác Khu vực đầu tiên diễn ra quá trình tiến hóa con người hiện đại là vùng giáp nhau giữa ba châu lục: Châu Phi, Châu Âu, Châu Á Trên địa bàn phân
bố ban đầu của con người hiện đại đó đã xuất hiện hai nhóm chủng tộc: nhóm Đông Bắc Phi gắn với sự hình thành đại chủng Môngôlôit và nhóm Tây Nam Á gắn với đại chủng Ơpôpôit và đại chủng Nêgrô-Ôxtralôit Hai nhóm chủng tộc này bị phân cách bởi các dãy núi kéo dài từ đông Hymalaya xuống phía nam
Trang 8Chúng ta có thê cụ thê hóa quan điểm Một trung tâm qua sơ đô sau đây:
Hình 1.3.2 Sơ đồ Một trung tâm
Thứ hai, thuyết Hai trung tâm: Thuyết này do các nhà khoa học Xô Viết đề xướng, như Alecxêep, Trêbôcxarốp Thuyết này chủ trương ngay từ thời đá cũ,
đã xuất hiện hai trung tâm hình thành chủng tộc, gắn với quá trình tiến hóa từ
người cổ Neandectan người hiện đại Homosapies Đó là nhóm Đông Bắc Phi và muộn hơn là Đông Nam Á, gắn với sự hình thành đại chủng Môngôlôit, Ôxtralôit
và nhóm Tây Nam Á gắn với đại chủng Ơpôpôit và đại chủng Nêgrôit
Quan điểm của thuyết Hai trung tâm có thê cụ thê hóa qua sơ đồ sau đây:
Thứ ba, thuyết Nhiều trung tâm: Thuyết này do các nhà khoa học Mỹ đề
xướng, như Vâyđenrích (1939), Cun (1936) và sau đó là H Tôma Thuyết này
chủ trương là bốn trung tâm xuất hiện tiến hóa từ người cổ Neandectan lên người hiện đại Homosapiens Đó là Đông Nam Á và Đông Á gắn với sự hình thành
chủng tộc Môngôlôit, Tây Nam Á gắn với chủng tộc Ôxtralôit, Nam Phi gắn với
Hình 1.3.2 Sơ đồ Hai trung tâm
Trang 9chủng tộc Nêgrôit Thuyết nhiều trung tâm chủ trương các chủng tộc không phải
là kết quả của một sự tiến hóa từ một giống vượn người tối cổ duy nhất mà là kết quả tiến hóa đồng thời và biệt lập của từng loài người tối cổ khác nhau Theo đó, mỗi đại chủng được tiến hóa từ các loại vượn người tối cổ riêng biệt, ở những vùng riêng biệt, để hình thành nên con người hiện đại Homosapiens, tổ tiên của các chủng tộc
Chúng ta có thể cụ thể hóa quan điểm Nhiều trung tâm qua sơ đồ sau đây:
Hình 1.3.2 Sơ đồ Nhiều trung tâm
Những luận thuyết trên đều đề cập đến sự hình thành các chủng tộc gắn với con người hiện đại Homosapiens, nhưng chỉ khác nhau quan điểm thuyết Một trung tâm cho rằng, quá trình tiến hóa từ các bầy vượn người đến người cổ Neandectan chỉ diễn ra ở một trung tâm, sau đó quá trình tiến hóa lên con người hiện đại mới diễn ra ở hai nơi, gắn với hai nhánh chủng tộc Trong lúc đó, thuyết Hai trung tâm lại cho rằng, từ thời đá cũ đã diễn ra hai trung tâm hình thành chủng tộc, nhưng không đề cập đến trước khi hình thành chủng tộc gắn với sự xuất hiện con người hiện đại Homosapiens quá trình tiến hóa từ các bầy vượn người thành người tối cổ Nêandectan đã diễn ra ở đâu? Còn thuyết Nhiều trung tâm chủ
trương có 4 trung tâm xuất hiện tiến hóa từ người cổ Neandectan lên người hiện đại Homosapies Đó là Đông Nam Á và Đông Á gắn với sự hình thành chủng tộc Môngôlôit, Tây Nam Á gắn với chủng tộc Ơrôpôit, Nam Phi gắn với chủng tộc Nêgrôit (cả châu Đại Dương gắn với chủng tộc Ôxtralôit) Thuyết Nhiều trung tâm chủ trương các chủng tộc không phải là kết quả của một sự tiến hóa từ một giống vượn người tối cổ duy nhất mà là kết quả tiến hóa đồng thời và biệt lập của từng loại người tối cổ khác nhau Theo đó, mỗi đại chủng được tiến hóa từ các
Trang 10loại vượn người tối cổ riêng biệt, ở những vùng riêng biệt, để hình thành nên con người hiện đại Homosapiens, tổ tiên trực tiếp của các chủng tộc Với những cứ liệu khoa học hiện nay, chưa đủ để chúng ta có kết luận đồng ý hay phản bác luận thuyết nào
1.3.3 Sự hình thành chủng tộc trên thế giới
Về cơ bản các học giả tương đối thống nhất về nguyên nhân hình thành các chủng tộc trên thế giới Theo đó, có ba nguyên nhân chính là: Môi trường sinh sống, lai tạo và sống biệt lập Trong đó, môi trường là nguyên nhân quyết định
Có thể khẳng định rằng, trong quá trình hình thành chủng tộc hoàn cảnh tự nhiên
đã đóng một vai trò quan trọng Có nhiều đặc điểm của chủng tộc xuất hiện là do quá trình tự nhiên và sự thích nghi với môi trường Điều này thể hiện rõ nhất qua các đặc điểm về hình thái của từng chủng tộc, như màu sắc của da, tóc, màu mắt, hình dáng khuôn mặt Theo những kết quả nghiên cứu hiện nay có thể kể đến ba nguyên nhân cơ bản hình thành các chủng tộc:
- Thứ nhất, sự thích nghi với hoàn cảnh địa lí tự nhiên Môi trường sống
về cơ bản có các yếu tố, như vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, nguồn lợi thiên nhiên Môi trường sống vừa là không gian sinh tồn đồng thời vừa là không gian sản xuất, tận dụng môi trường để cung cấp thức ăn, nguồn năng lượng nuôi sống con người Trong buổi đầu khi con người sức sản xuất thấp kém,
họ nghèo đói, thiếu thốn mọi mặt, vì vậy, các nhân tố tự nhiên đã tác động đến cơ thể con người Trước hết là yếu tố khí hậu, bức xạ mặt trời, độ ẩm không khí, nhiệt độ, tác động trực tiếp đến cơ thể con người để hình thành nên những dấu hiệu cơ bản làm đặc trưng của chủng tộc với các đặc điểm hình thái bề ngoài cơ thể mang tính di truyền Trong những đặc điểm đó, màu da là một minh chứng rõ ràng nhất về sự thích nghi với môi trường tự nhiên Màu da con người trắng hay đen là do lượng sắc tố mêlanin trong da quyết định, sắc tố mêlanin có khả năng hấp thụ tia tử ngoại mặt trời, để bảo vệ các kết cấu quan trọng của da Người da đen sống ở vùng xích đạo, lục địa sâu châu Phi và Tây Thái Bình Dương quanh năm phải chịu tác động của bức xạ mặt trời lớn, nên lượng mêlanin trong da nhiều và tất yếu da phải đen Ngược lại, người sống ở vùng ôn đới, bức xạ mặt trời ít nên lượng mêlani trong da không nhiều, vì vậy da họ trắng Theo đó tóc của người sống ở vùng bức xạ mặt trời lớn, như người da đen, tóc thường xoăn làm thành mũ đội đầu cũng là một hình thức thích nghi để ứng phó với môi trường nóng bức khắc nghiệt Ngược lại, cư dân sống ở vùng bức xạ mặt trời ít, tóc của họ thường mềm và nâu sẫm, hay cư dân sống ở vùng nóng bức họ phải hít thở không khí để điều hòa thân nhiệt nên gốc mũi to, sống mũi dẹt, ngược lại
cư dân sống ở vùng lạnh, phải ngăn bởi hơi lạnh của môi trường vào cơ thể, nên gốc mũi nhỏ, sống mũi thẳng là điều tất yếu Cũng như vậy, cư dần ở vùng lạnh, lớp lông thứ ba (lớp lông thứ nhất trong bụng mẹ, lớp lông thứ hai trước tuổi trường thành, lớp lông thứ ba thời kỳ trường thành và ổn định) ở bụng và ngực phát triển cũng chính là sự thích nghi với môi trường của cơ thể Theo đó, cũng giống như cư dân Mônggôlôit, điển hình là người Mông cổ, khe mắt nhỏ, tạo
Trang 11thành mắt một mí Đặc điểm đó có liên quan đến điều kiện sống trong vùng nhiều gió cát ở Trung Á Tuy nhiên, những đặc điểm của điều kiện tự nhiên chỉ có tác động để hình thành các đặc trưng chủng tộc vào thời kỳ nguyên thủy, sơ khai của loài người, khi đó sức sản xuất thấp kém, con người nghèo đói thiếu thốn Còn khi điều kiện sống phát triển, con người không còn lệ thuộc, chịu sự tác động mọi mặt của tự nhiên thì môi trường không còn là nguyên nhân hình thành chủng tộc nữa
- Thứ hai, quá trình lai tạo cũng là nguyên nhân tham gia vào việc hình thành chủng tộc Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, những cuộc thiên di đến các châu lục mới tạo nên quan hệ hỗn chủng giữa chủng tộc này với chủng tộc khác Điều này hình thành nên các nhóm chủng tộc trung gian mang hai đặc trưng chủng tộc Thời kỳ đầu những đặc điểm chủng tộc hình thành do sự thích nghi với môi trường địa lý nhưng về sau các điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, yếu tố xã hội càng được tăng cường, sự lai tạo đẩy mạnh, đóng vai trò để hình thành chủng tộc mới
- Thứ ba, sống biệt lập cũng là nguyên nhân của việc hình thành chủng tộc Từ một chủng tộc gốc, các nhóm khác nhau của chủng tộc đó thiên di đến những khu vực địa lý khác nhau, có những nhóm chủng tộc sống tách biệt, lâu dài và chịu sự tác động của môi trường sống biệt lập đã hình thành nên những đặc trưng sai biệt so với chủng tộc gốc
Theo các nhà dân tộc học, do sống biệt lập nên họ tiến hành nội hôn trong nhóm Điều này ảnh hưởng đến việc hình thành những khác biệt so với chủng tộc gốc
Di truyền học cho biết, nếu lấy nhau trong nội bộ trong khoảng 50 thế hệ/ mỗi thế hệ 25 năm/ 1.250 năm có thể làm biến đổi một số đặc điểm chủng tộc gốc về màu da, dạng tóc, hình dạng hộp sọ, sống mũi, môi, tầm vóc
1.4 Đặc điểm các chủng tộc trên thế giới
Hiện nay, việc xác định các chủng tộc chủ yếu dựa vào đặc trưng hình thái bên ngoài cơ thể, như màu da, màu mắt, màu và hình dạng tóc, sự phát triển lớp lông thứ ba, chỉ số hộp sọ, chiều cao thân, hình dáng của mặt Ngoài ra, người ta còn tính đến nhóm máu, đường vân trên lòng bàn tay, hình thái răng Những đặc trưng hình thái chủng tộc này có cấu trúc di truyền phức tạp, nó được quy định nhiều gen và thường xuất hiện các hiện tượng biến dị Trong giai đoạn đầu hình thành chủng tộc, khả năng biến dị ít, chủ yếu các đặc trưng chủng tộc do cơ thể con người thích nghi với môi trường tự nhiên Nhưng về sau, do môi trường xã hội sống biệt lập, nội hôn và quá trình lai tạo, nên hiện tượng biến dị di truyền các đặc trưng chủng tộc xuất hiện nhiều hơn
Việc xác định các đặc trưng chủng tộc là vấn đề phức tạp, về cơ bản có thể dựa vào một số đặc điểm hình thái riêng của từng chủng tộc tạo thành một tập hợp các đặc trưng cho phép ta có thể phân biệt được một người thuộc chủng tộc này hay chủng tộc khác; các đặc điểm hình thái chủng tộc có thể chia thành các loại
cơ bản, như màu da, hình dáng và màu tóc, hình dáng và màu mắt, các hình dáng của mũi, các hình dáng đầu, mặt
Trang 121.4.1 Các đặc điểm hình thái để xác định chủng tộc
Khi nêu lên các đặc điểm để xác định chủng tộc, các nhà khoa học thường đưa ra các đặc trưng hình thái bên ngoài cơ thể, như màu da, màu mắt, màu tóc, lớp lông thứ ba, sự biểu hiện của hình dạng cơ thể, đầu, mặt Cụ thể, các đặc điểm hình thái để xác định chủng tộc được thể hiện, như sau:
1.4.1.1 Màu da
Màu da, cũng như màu tóc, màu mắt là những dạng biểu hiện của sắc tố Chung quy lại, nhân loại có 3 dạng: da sáng màu (da trắng), da màu đen (da đen),
da màu vàng (màu trung gian)
Màu da bị ảnh hưởng bởi khí hậu, thời tiết Những người sống ở môi trường nhiệt đới nhiều ánh nắng mặt trời gay gắt, da phải sẫm lại để bảo vệ cơ thể chống lại các tia từ ngoại của ánh sáng mặt trời Ngược lại, những người sống ở vùng xa xích đạo, những miền ôn đới thì màu da sáng ra để dễ hấp thụ được nhiều ánh sáng mặt trời
Hình 1.4.1.1 Vùng Nhiệt đới
Ngoài ra, màu da cũng thay đổi tùy theo tình trạng sức khỏe và bệnh tật, tùy vào môi trường xã hội và nghề nghiệp của mỗi người Những người sống gần biển da sẫm hơn những người sống ở miền núi, những người làm công việc phải tiếp xúc nhiều với lửa và than bụi cũng có màu da sẫm hơn, người đau yếu da bủng beo, vàng nhạt
Tuy nhiên, những ảnh hưởng của môi trường như khí hậu, xã hội và tình trạng sức khỏe đối với màu da không quan trọng và những ảnh hường ấy không di truyền cho thế hệ sau
Tóm lại, màu da vẫn là một đặc điểm có tính chất chủng tộc và đặc trưng cho từng chủng tộc nhất định