1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giao trinh KTCT T1 doc

139 1,3K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 748 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a Lực lượng sản xuất Sản xuất vật chất, như trên đã trình bày, là sự tác động của con ngườivào tự nhiên, biến đổi những vật liệu của tự nhiên để tạo ra các sản phẩmphù hợp với các nhu cầ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

GIÁO TRÌNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÁC - LÊNIN

TẬP I

HÀ NỘI - 2001

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 2

Khoa Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội là một trong số rất ít cơ sởđào tạo bậc đại học và sau đại học chuyên ngành Kinh tế chính trị Vì thế,theo lẽ tự nhiên, Kinh tế chính trị Mác-Lênin là môn học được đặc biệt coitrọng trong tất cả các chuyên ngành đào tạo của Khoa.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy và học tập của giáo viên

và sinh viên trong Khoa, đã từ lâu, Bộ môn Kinh tế chính trị đã tổ chức biênsoạn giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin Tuy nhiên, do tính chất phứctạp của môn học và do sự vận động không ngừng của sản xuất xã hội, nhiềuvấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ xung để giáo trình được hoàn thiệnhơn Do đó, việc biên soạn lại giáo trình môn học này là hết sức cần thiết

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chủ nhiệm Khoa kinh tế, Bộ mônKinh tế chính trị tổ chức biên soạn lại giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin Đây là giáo trình cơ sở, được biên soạn cho sinh viên Khoa Kinh tếvới thời lượng là sáu đơn vị học trình

Biên soạn giáo trình, một mặt chúng tôi căn cứ vào các luận điểm củacác nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm, đường lối củaĐảng cộng sản Việt Nam, giáo trình chuẩn quốc gia và mặt khác, chúngtôi cũng xuất phát từ thực tiễn để giải đáp những vấn đề do thực tiễn đặt ra

Trong phần thứ hai của giáo trình: Kinh tế chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, sau khi trình bày những nguyên lý kinh tế

chính trị Mác - Lênin, chúng tôi đưa ra những vấn đề có tính nguyên tắctrong việc vận dụng những nguyên lý đó Bởi vậy, các chính sách kinh tế

được trình bày dưới góc độ: vừa là công cụ mà nhà nước phải sử dụng để

giải quyết những vấn đề mà kinh tế chính trị đặt ra, vừa phải được hoạchđịnh trên cơ sở những nguyên lý của kinh tế chính trị

Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn giáo trình này khôngtránh khỏi những hạn chế Chúng tôi trân trọng cảm ơn mọi sự góp ý, phêbình của độc giả và xin tiếp thu để sửa chữa trong lần xuất bản sau

CN Lưu Khắc Thịnh

Trang 3

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC

NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC- LÊNIN

I SẢN XUẤT XÃ HỘI

1 Khái niệm

Để thoả mãn các nhu cầu như: ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, chữa bệnh,giải trí , con người không thể trông chờ vào những gì có sẵn trong tự nhiên,

mà phải tiến hành lao động sản xuất

Mức độ đáp ứng các nhu cầu của con người phụ thuộc vào trình độphát triển của sản xuất vật chất Sản xuất vật chất là sự tác động của conngười vào tự nhiên, biến đổi các vật liệu của tự nhiên để tạo ra các sản phẩmphù hợp với các nhu cầu của con người Sản xuất vật chất bao giờ cũngmang tính chất xã hội vì muốn tạo ra sản phẩm, con người không chỉ phảiquan hệ với tự nhiên, mà còn phải quan hệ với nhau

Sản xuất xã hội có lịch sử phát triển lâu dài, đã lần lượt trải qua cácphương thức sản xuất: Cộng sản nguyên thuỷ, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến,

Tư bản chủ nghĩa Theo C.Mác, sau phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

sẽ là phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa Những phương thức sảnxuất sau cao hơn các phương thức sản xuất trước cả về lực lượng sản xuất,

cả về quan hệ sản xuất Theo cách phân chia khác, cho đến nay, sản xuất xãhội lần lượt trải qua kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá

2 Vai trò của sản xuất xã hội

Các nhu cầu của con người về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, chữa bệnh,giải trí ngày càng tăng lên và đòi hỏi phải được thoả mãn thường xuyên.Phương thức và mức độ thoả mãn các nhu cầu đó phụ thuộc vào trình độphát triển của sản xuất xã hội Sự phát triển của sản xuất xã hội là nhân tố có

ý nghĩa quyết định đối với việc đáp ứng các nhu cầu của con người, cả về sốlượng và chất lượng

Con người có nhiều hoạt động khác nhau: hoạt động lao động sảnxuất, hoạt động chính trị, tôn giáo, khoa học, giáo dục, quân sự, thể dục thểthao Mỗi mặt hoạt động có tính độc lập tương đối nhưng đều có quan hệvới sự phát triển của sản xuất xã hội Sản xuất xã hội cung cấp các phươngtiện vật chất cho con người để phát triển các mặt hoạt động khác Do đó, sựphát triển của các mặt hoạt động của con người tuỳ thuộc rất nhiều vào sựphát triển của sản xuất xã hội

Từ những điều trình bày trên đây có thể rút ra kết luận: sản xuất của

Trang 4

cải vật chất là cơ sở, nền tảng của đời sống xã hội; sự phát triển của sản xuất

xã hội là cơ sở phát triển tất cả các mặt của đời sống kinh tế- xã hội

3 Các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất

Lao động sản xuất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào tự nhiên nhằm biến đổi các dạng vật chất của tự nhiên thành sản phẩm thoả mãn các nhu cầu của mình.

Muốn tiến hành lao động sản xuất trước hết phải có các yếu tố cơ bảnsau đây:

Sức lao động: là toàn bộ thể lực và trí lực của con người có thể sử

dụng để tiến hành quá trình lao động sản xuất Như vậy, sức lao động mới

chỉ là khả năng lao động Sức lao động là yếu tố quan trọng nhất của qúatrình lao động sản xuất, vì sức lao động thuộc về con người - vừa là kháchthể, vừa là chủ thể của qúa trình lao động sản xuất

Khả năng lao động của con người không chỉ tuỳ thuộc vào sức khoẻ,thể lực mà còn tuỳ thuộc vào tri thức, kỹ năng lao động Nền sản xuất cànghiện đại thì tri thức càng trở nên quan trọng tức là đòi hỏi chất lượng sức laođộng càng cao Vì vậy, trong điều kiện hiện đại, giáo dục, đào tạo có vị tríđặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của sản xuất xã hội

Đối tượng lao động là tất cả những vật mà lao động của con người

tác động vào, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với nhu cầu của mình Đóchính là những vật liệu có sẵn trong tự nhiên, hay các nguồn tài nguyênthiên nhiên

Đối tượng lao động có hai loại: thứ nhất là những vật liệu có sẵn

trong tự nhiên như quặng trong lòng đất, cá dưới biển, gỗ trong rừng nguyên

thuỷ ; thứ hai là những vật liệu đã qua chế biến như gang trong lò luyện

thép, sợi trong nhà máy dệt, bột gỗ trong nhà máy giấy Đối tượng laođộng đã qua chế biến gọi là nguyên liệu

Quy mô sản xuất càng to lớn thì nhu cầu về đối tượng lao động haytài nguyên càng tăng Trong khi đó, trữ lượng các nguồn tài nguyên là cóhạn; sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên là khó tránh khỏi Vì vậy, bảo vệ cácnguồn tài nguyên; khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên tiết kiệm, cóhiệu quả trở thành yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Tư liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ

truyền dẫn sự tác động của con người vào đối tượng lao động nhằm biến đổichúng thành sản phẩm để thoả mãn các nhu cầu của con người

Tư liệu lao động bao gồm:

- Công cụ lao động là những tư liệu lao động trực tiếp tác động vào

đối tượng lao động, chẳng hạn như: cái cày, cái cuốc, máy móc, thiết bị

Trang 5

Công cụ lao động giữ vai trò đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự phát triển củalực lượng sản xuất Sở dĩ như vậy là vì, công cụ lao động là sự kết tinh trithức và kinh nghiệm của người lao động, trực tiếp quyết định năng suất laođộng và chất lượng sản phẩm Vì vậy, cải tiến công cụ lao động trở thànhđòi hỏi khách quan và là biểu hiện của sự phát triển của sản xuất xã hội.

- Tư liệu lao động dùng để bảo quản những đối tượng lao động, gọichung là hệ thống bình chứa của sản xuất, như là thùng đựng, bể chứa

- Tư liệu lao động còn bao gồm những phương tiện vật chất trực tiếphoặc gián tiếp phục vụ chung cho qúa trình sản xuất như: kho tàng, bến bãi,đường sá, phương tiện vận chuyển, phương tiện thông tin liên lạc hay còngọi là kết cấu hạ tầng của nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, kết cấu

hạ tầng được coi là điều kiện không thể thiếu để phát triển kinh tế - xã hội

Vì thế, xây dựng và hiện đại hoá kết cấu hạ tầng là một nội dung quan trọngtrong phát triển sản xuất xã hội

4 Hai mặt của sản xuất xã hội

Sản xuất xã hội bao gồm hai mặt: lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất

a) Lực lượng sản xuất

Sản xuất vật chất, như trên đã trình bày, là sự tác động của con ngườivào tự nhiên, biến đổi những vật liệu của tự nhiên để tạo ra các sản phẩmphù hợp với các nhu cầu của con người Như vậy, để sản xuất ra của cải vậtchất, con người phải quan hệ với tự nhiên Quan hệ này được gọi là lựclượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhất định, ở một thời điểm nhất định.

Lực lượng sản xuất trước hết bao gồm người lao động với những khảnăng nhất định về sức khoẻ, thể lực cùng những tri thức, kỹ năng lao động.Với sức lực và trí tuệ của mình, con người sử dụng các tư liệu lao động đểkhai thác và làm biến đổi những vật liệu của tự nhiên thành những sản phẩmphù hợp với nhu cầu của mình Trong lực lượng sản xuất, nhân tố con người

là quan trọng nhất “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại làcông nhân, là người lao động”.1

Đối tượng lao động và tư liệu lao động hợp thành tư liệu sản xuất Đó

là nhân tố thứ hai của lực lượng sản xuất Trong tư liệu sản xuất, công cụ laođộng có vị trí đặc biệt Công cụ lao động, theo Ph.Ăngghen, là “khí quancủa bộ óc con người”, “là sức mạnh của tri thức đã được vật thể hoá” có tácdụng “nối dài bàn tay” và nhân lên sức mạnh trí tuệ của con người Trong

1 V.I Lênin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.38, tr.430

Trang 6

nền kinh tế tự động hoá, tin học hoá các công cụ lao động tạo ra sức mạnhthần kỳ cho con người trong việc chinh phục, chế ngự tự nhiên

Sự phát triển của lực lượng sản xuất thể hiện khả năng của con ngườitrong việc chiếm lĩnh tự nhiên, giải quyết quan hệ của mình với tự nhiên.Lực lượng sản xuất càng phát triển cao bao nhiêu cũng có nghĩa là năng lựcsản xuất ra của cải vật chất to lớn bấy nhiêu

Cùng với sự phát triển của sản xuất, khoa học cũng không ngừng pháttriển và có vai trò ngày càng to lớn với sản xuất Sau thời kỳ phát triển lâudài và sự phát triển nhanh chóng mang tính cách mạng trong những thậpniên gần đây, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Nhữngthành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ là cơ sở cho sựxuất hiện nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức

Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã vạch ra nhữngmục tiêu chung cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và khoa học, côngnghệ ở nước ta trong những năm tới là “ xây dựng nước ta thành một nướccông nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại Từ nay đến năm 2020, rasức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp

Lực lượng sản xuất của đất nước ta đến lúc đó sẽ đạt trình độ tương

đối hiện đại, phần lớn lao động thủ công được thay thế bằng lao động sửdụng máy móc, điện khí hoá cơ bản được thực hiện trong cả nước, năngsuất lao động xã hội và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn nhiều so vớihiện nay

Khoa học tự nhiên và công nghệ có khả năng nắm bắt và vận dụngđược nhiều thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ.Khoa học xã hội và nhân văn có khả năng làm cơ sở cho việc xây dựng hìnhthái ý thức xã hội mới Sự phát triển của khoa học đủ sức cung cấp luận cứcho việc hoạch định các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển”.1

b) Quan hệ sản xuất

Để sản xuất của cải vật chất, con người không chỉ phải quan hệ với tự

nhiên, mà còn phải quan hệ với nhau C.Mác viết: “Trong sản xuất, người ta

không chỉ quan hệ với tự nhiên Người ta không thể sản xuất được nếukhông kết kợp vơí nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để traođổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mốiliên hệ và quan hệ nhất định với nhau và quan hệ của họ với giới tự nhiên,tức là việc sản xuất”.2

1 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Nxb Chính trị quốc gia.Hà Nội 1996, tr.80, 81.

2 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993, tập 6, tr 552

Trang 7

Như vậy, quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất làkhách quan, không phụ thuộc vào ý chí, nguyện vọng của chính con người.

Đó chính là một mặt của quá trình sản xuất

Quan hệ giữa người và người trong qúa trình sản xuất gọi là quan hệ sản xuất.

Quan hệ sản xuất gồm ba mặt cơ bản: quan hệ sở hữu về tư liệu sảnxuất, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm Quan hệ sản xuất làhình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở sâu xa của đời sống tinhthần xã hội Mỗi mặt của quan hệ sản xuất có vai trò vị trí riêng, xác địnhkhi nó tác động tới sản xuất xã hội Nhưng ba mặt đó luôn gắn bó với nhau,tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận độngkhông ngừng của lực lượng sản xuất

Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ

sở hữu đối với tư liệu sản xuất Trong hệ thống các quan hệ sản xuất củamột xã hội nhất định, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất luôn giữ vai tròquyết định đối với tất cả các quan hệ xã hội khác Quan hệ sở hữu tư liệusản xuất chính là quan hệ giữa các giai cấp, các tập đoàn người trong việcchiếm hữu tư liệu sản xuất đã quy định địa vị của từng giai cấp, tập đoànngười trong sản xuất xã hội Đến lượt mình, địa vị của từng tập đoàn người,từng giai cấp lại quy định cách thức mà họ trao đổi hoạt động cho nhau,cách thức mà họ tổ chức quản lý quá trình sản xuất Sau cùng, chính quan hệ

sở hữu quyết định phương thức phân phối kết qủa sản xuất Địa vị của từngtập đoàn người, từng giai cấp đối với tư liệu sản xuất sẽ quyết định phần mà

họ nhận được trong kết qủa của sản xuất xã hội

Trong các phương thức sản xuất, hai chế độ sở hữu cơ bản với tư liệusản xuất đã tồn tại là chế độ sở hữu tư nhân và chế độ sở hữu công cộng.Ngoài hai chế độ sở hữu đó còn có sở hữu hỗn hợp Sở hữu công cộng làchế độ sở hữu mà tư liệu sản xuất thuộc về tất cả các thành viên của cộngđồng Vì tư liệu sản xuất là tài sản chung nên các thành viên của cộng đồngbình đẳng với nhau trong tổ chức quản lý sản xuất và trong phân phối sảnphẩm; quan hệ giữa họ với nhau là hợp tác, tương trợ Trong các chế độ tưhữu, tư liệu sản xuất thuộc về một nhóm ít người Nhóm người này giữ địa

vị thống trị trong sản xuất và trong xã hội Những người không có tư liệusản xuất ở vào địa vị bị trị Bởi vậy, trong xã hội dựa trên chế độ tư hữu, mấtbình đẳng, đối kháng về giai cấp là không tránh khỏi

C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng, chế độ tư hữu với đỉnhcao là chủ nghĩa tư bản sẽ được thay thế bằng chế độ công hữu, xã hội chủnghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Trang 8

Trong hệ thống các quan hệ sản xuất xã hội, quan hệ tổ chức quản lýsản xuất, mặc dù chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất nhưng

có tác động trở lại mạnh mẽ đến quan hệ sở hữu và quan hệ phân phối Sở dĩnhư vậy là vì, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất trực tiếp quyết định hiệu quả

sử dụng các nguồn lực: vốn, lao động, tài nguyên, khoa học - công nghệ;quyết định kết qủa của quá trình sản xuất Hiệu quả sử dụng các nguồn lựccàng cao, kết qủa quá trình sản xuất càng lớn càng khẳng định tính tất yếutồn tại của hình thức sở hữu tương ứng Trong trường hợp ngược lại, quan

hệ tổ chức quản lý sản xuất có thể làm biến dạng, thậm chí phá vỡ quan hệ

sở hữu Bởi vậy, trong bất kỳ hình thức sở hữu nào, các chủ sở hữu cũngphải quan tâm vấn đề tổ chức quản lý, cả ở tầm vi mô và vĩ mô

Bằng tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực và kếtqủa của quá trình sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý trực tiếp tác động đếncác quan hệ phân phối

Quan hệ phân phối, mặc dù bị phụ thuộc vào quan hệ sở hữu và vàotrình độ tổ chức quản lý nhưng cũng có vị trí độc lập tương đối Phân phốikết qủa của sản xuất xã hội trực tiếp quyết định mức độ thực hiện các lợiích kinh tế, tức là quan hệ phân phối trực tiếp ảnh hưởng đến động lực củacác hoạt động kinh tế Như vậy, quan hệ phân phối có thể thúc đẩy hoặc kìmhãm sự phát triển của sản xuất xã hội Do đó, khi xây dựng và củng cố quan

hệ sản xuất, nếu chỉ chú ý tới quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý là không đủ,

mà còn phải rất chú ý tới quan hệ phân phối Bởi vậy, trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay “ phải luôn quan tâm bảo vệ lợi íchcủa người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàuphi pháp, vừa coi trọng xoá đói, giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng

xã hội ”.1

5 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất

Hai mặt của sản xuất xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất không tồn tại biệt lập mà có quan hệ biện chứng với nhau, trong đólực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định

Phát triển là quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy Bởi vậy,

sự phát triển của sản xuất xã hội là quy luật Sự phát triển của sản xuất xãhội trước hết từ công cụ lao động Sở dĩ như vậy là vì, trong quá trình laođộng sản xuất, con người không ngừng tích luỹ tri thức, kinh nghiệm sảnxuất Những tri thức, kinh nghiệm đó là cơ sở cho việc cải tiến công cụ lao

1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia

Hà Nội, 1996, tr.73

Trang 9

động Khi công cụ lao động được cải tiến, phương thức lao động thay đổi,năng suất lao động tăng lên tức là lực lượng sản xuất phát triển Sự pháttriển của lực lượng sản xuất làm cho quan hệ giữa con người với nhau trongviệc chiếm hữu tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý, phân phối sản phẩm cũngthay đổi Như vậy, sự thay đổi của lực lượng sản xuất kéo theo sự thay đổicủa quan hệ sản xuất.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất vừa tiệm tiến, vừa nhảy vọt, theotừng nấc thang hay trình độ khác nhau Trình độ lực lượng sản xuất thể hiệnở: trình độ của công cụ lao động; trình độ tổ chức lao động xã hội; trình độứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất; kinh nghiệm và kỹ năng laođộng của con người; trình độ phân công lao động xã hội

Khi lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp kém, phân công lao độngkhông phát triển; cá nhân có thể tiến hành quá trình sản xuất tương đối độclập tức là lực lượng sản xuất mang tính chất cá nhân Khi lực lượng sảnxuất phát triển ở trình độ cao hơn, phân công lao động trở nên sâu sắc; hoạtđộng sản xuất của mỗi cá nhân phụ thuộc chặt chẽ vào các cá nhân khác tức là lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội Như vậy, tính chất và trình

độ của lực lượng sản xuất có quan hệ chặt chẽ với nhau Tính chất và trình

độ của lực lượng sản xuất thay đổi thì cách thức mà con người quan hệ vớinhau trong sản xuất cũng phải thay đổi Nói cách khác, quan hệ sản xuất phụthuộc vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất

Sự phát triển của lực lượng sản xuất còn là nhân tố quyết định đối với

sự thay đổi của các quan hệ xã hội C.Mác viết: “Những quan hệ xã hội đềugắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do có được những lựclượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và

do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống cuả mình, loài người thayđổi tất cả những quan hệ xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay đưa lại

xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tưbản công nghiệp”.1

Tuy nhiên, quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và có tác độngmạnh mẽ đến sự phát triển cuả lực lượng sản xuất Chỉ khi nào quan hệ sảnxuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thìcác hoạt động sản xuất mới có thể tiến hành một cách bình thường, sản xuất

xã hội mới có thể phát triển Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất

và trình độ lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sảnxuất là “hình thức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất, cả ba mặt củaquan hệ sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng và kết hợp tư liệu

1 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993, tập 4, tr 187

Trang 10

sản xuất với sức lao động Với trạng thái phù hợp như vậy, lực lượng sảnxuất sẽ có điều kiện phát triển tất cả các khả năng của nó Ngược lại, khiquan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất, các yếu tố cấuthành của lực lượng sản xuất sẽ không được sử dụng và phát huy hết các khảnăng Điều đó có nghĩa là sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ bị kìmhãm Vì vậy, đảm bảo sự phù hợp giữa hai mặt của sản xuất xã hội là đòi hỏikhách quan trong mọi giai đoạn phát triển của sản xuất xã hội.

Lực lượng sản xuất không ngừng vận động, phát triển Do đó, quan hệsản xuất từ chỗ phù hợp với lực lượng sản xuất, tạo điều kiện cho lực lượngsản xuất phát triển dần dần trở nên không phù hợp, mâu thuẫn với lực lượngsản xuất, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn đó sẽphát triển và ngày càng trở nên gay gắt và phải được giải quyết bằng việcthay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới, phù hợp với tínhchất và trình độ của lực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuấtphát triển

“Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sảnxuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó các lực lượng sản xuất từ trước đến nay vẫn phát triển Từ chỗ lànhững hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trởthành những xiềng xích của lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu một cuộccách mạng xã hội”.1 Đó là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sảnxuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Quy luật nàytồn tại, hoạt động trong tất cả các giai đoạn phát triển của sản xuất xã hội.Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển củalực lượng sản xuất là quy luật phổ biến, có ý nghĩa quyết định đối với sựphát triển của xã hội loài người, từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ, qua chế độchiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hộicộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội

II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Như trên đã trình bày, sản xuất xã hội có vai trò hết sức to lớn đối với

sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Vì vậy, tiến bộ của sản xuất xãhội trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại và sản xuất xã hội trởthành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Nhưng sản xuất xãhội lại hết sức rộng lớn và phức tạp Do vậy, mỗi ngành khoa học chỉ có thểnghiên cứu sản xuất xã hội trên một góc độ nhất định Nghiên cứu mặt kỹthuật của sản xuất xã hội là nhiệm vụ của các ngành khoa học tự nhiên Kinh

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t.13, tr.15

Trang 11

tế chính trị là khoa học xã hội và vì vậy, đối tượng nghiên cứu của nókhông phải là sự sản xuất nói chung, mà là mặt xã hội của nền sản xuất tức

là quan hệ giữa người và người trong qúa trình sản xuất

Đối tượng nghiên cứu của Kinh tế chính trị là quan hệ sản xuất cónghĩa là Kinh tế chính trị phải nghiên cứu quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất,quan hệ quản lý, quan hệ phân phối sản phẩm và mối liên hệ giữa các mặt

đó với nhau Mục đích của việc nghiên cứu đó là để tìm ra các quy luật kinh

tế hoạt động trên các lĩnh vực đó “Kinh tế chính trị, theo nghĩa rộng nhất, làkhoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất và sự trao đổi những tư liệusinh hoạt vật chất trong xã hội loài người ”1

Quy luật kinh tế là những mối liên hệ bên trong, bản chất, tất yếu, ổnđịnh, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và qúa trình kinh tế Cũng giống nhưcác quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế mang tính khách quan tức là sự tồn tại

và hoạt động của chúng không tuỳ thuộc vào ý chí con người Tuy nhiên,nếu con người hành động phù hợp với quy luật thì mới đạt được hiệu quảmong muốn Do đó, nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế có ý nghĩađặc biệt quan trọng trong các hoạt động kinh tế

Quy luật kinh tế ra đời và hoạt động trên cơ sở quan hệ sản xuất nhấtđịnh Điều đó có nghĩa là mỗi phương thức sản xuất sẽ có những quy luậtkinh tế đặc thù Chẳng hạn, trong chủ nghĩa tư bản có quy luật giá trị thặng

dư, quy luật tích luỹ tư bản, quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảmsút Trên một góc độ nhất định, kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá lànhững kiểu nhất định con người ta quan hệ với nhau trong qúa trình sảnxuất Do đó, kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá có những quy luật kinh tếriêng, đặc thù Trong bất kỳ nền sản xuất nào, quan hệ giữa người và ngườitrong qúa trình sản xuất đều bị chi phối bởi những nhân tố chung, giốngnhau Do đó, bên cạnh các quy luật đặc thù còn có quy luật kinh tế chungcho mọi nền sản xuất (quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất

và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật phân phối tổng sảnphẩm xã hội, quy luật tái sản xuất mở rộng )

Các quy luật kinh tế, bao gồm các quy luật chung và các quy luật đặcthù lại có những biểu hiện không hoàn toàn giống nhau, tuỳ điều kiện cụ thểcủa mỗi nước Theo Ph.Ăngghen thì những điều kiện của sản xuất và traođổi lại thay đổi theo từng nước và trong từng nước lại thay đổi tuỳ từng thờiđại Bởi vậy, “ không thể có cùng một môn kinh tế chính trị duy nhất chotất cả mọi nước và tất cả mọi thời đại lịch sử môn kinh tế chính trị , về thực

1 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1994, tập 20, tr 207.

Trang 12

chất là môn khoa học có tính chất lịch sử ”.2 Do vậy, việc nghiên cứu Kinh

tế chính trị đòi hỏi phải đặc biệt chú ý tính lịch sử, cụ thể của các vấn đề,tránh rập khuôn, giáo điều

Quy luật kinh tế, cũng giống như các quy luật xã hội khác, có đặcđiểm là sự hoạt động và phát huy tác dụng của nó phải thông qua hành độngcủa con người Dù nhận thức được hay không nhận thức được, hoạt độngcủa con người đều bị chi phối bởi các quy luật Việc nghiên cứu quy luậtkinh tế phải được thực hiện trên cơ sở xem xét các hoạt động kinh tế

Quan hệ sản xuất không tồn tại biệt lập mà có quan hệ biện chứng vớilực lượng sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định.Những biến đổi của lực lượng sản xuất tất yếu sẽ làm cho quan hệ sản xuấtphải thay đổi Do đó, Kinh tế chính trị phải nghiên cứu quan hệ sản xuấttrong mối liên hệ với lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất còn có quan hệbiện chứng với kiến trúc thượng tầng Trong mối liên hệ này, mặc dù quan

hệ sản xuất giữ vai trò quyết định nhưng sự tác động trở lại của kiến trúcthượng tầng cũng hết sức mạnh mẽ, có thể làm cho quan hệ sản xuất thayđổi, thậm chí biến dạng Do đó, Kinh tế chính trị còn phải nghiên cứu quan

hệ sản xuất trong sự tác động qua lại với kiến trúc thượng tầng

Là cơ sở của đời sống xã hội, sản xuất vật chất trở thành đối tượngnghiên cứu của nhiều khoa học kinh tế khác Do đó, các khoa học kinh tế cóquan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, do góc độ nghiên cứu khác nhau, cáckhoa học kinh tế độc lập tương đối với nhau

Nếu như Kinh tế chính trị nghiên cứu mặt xã hội của nền sản xuất,nhằm phát hiện ra các quy luật hoạt động trong nền kinh tế thì các khoa họckinh tế như: kinh tế công nghiệp , kinh tế nông nghiệp, kinh tế lao động chỉ nghiên cứu một lĩnh vực của nền sản xuất, nhằm tìm ra những quy luậtvận động trong từng lĩnh vực kinh tế, hay là biểu hiện của quy luật chungtrong từng lĩnh vực kinh tế Cũng vì thế, Kinh tế chính trị là cơ sở của cáckhoa học kinh tế ngành; các khoa học kinh tế ngành cụ thể hoá và làmphong phú hơn những nguyên lý và những quy luật mà Kinh tế chính trị đãphát hiện ra

Chỉ khi nào hoạt động của con người phù hợp với quy luật mới có kếtqủa tốt và ngược lại Do đó, nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế có ýnghĩa hết sức to lớn đối với hoạt động kinh tế của con người, với sự pháttriển của sản xuất xã hội Nhà nước vận dụng các quy luật kinh tế để điềutiết kinh tế vĩ mô thể hiện ở việc vạch ra đường lối, chính sách kinh tế

2 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1994, tập 20, tr 208.

Trang 13

Đối tượng nghiên cứu quy định những nội dung cơ bản của môn học.Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội trên phạm vi toàn thế giới Do đó, Kinh tế chính trị Mác-Lênin trước hếtnghiên cứu những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa tư bản, từ đó tìm ra bản chất

và các quy luật vận động của phương thức sản xuất này Đây là phần thứnhất của giáo trình Phần thứ nhất có tựa đề: “ Phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa” và được bắt đầu bằng việc nghiên cứu tế bào kinh tế của chủnghĩa tư bản là hàng hoá Nghiên cứu hàng hoá và xây dựng lý thuyết vềnền kinh tế hàng hoá có ý nghĩa to lớn đối với việc nhận thức những vấn đềkinh tế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của cả thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội Để làm rõ được bản chất, các quy luật vận động củachủ nghĩa tư bản, phần thứ nhất tập trung nghiên cứu hai phạm trù kinh tế cơbản là tư bản và giá trị thặng dư (quá trình sản xuất, lưu thông và phân phốigiá trị thặng dư) Sau khi nghiên cứu những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa tưbản tự do cạnh tranh, giáo trình trình bày lý thuyết của Lênin về chủ nghĩa

tư bản độc quyền và những biểu hiện mới của nó trong giai đoạn hiện nay.Phần thứ hai của giáo trình: Kinh tế chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam Trong phần này, những nội dung chủ yếu được nghiêncứu là: bản chất, đặc điểm, nội dung kinh tế của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa

tư bản lên chủ nghĩa xã hội nói chung, của Việt Nam nói riêng; những vấn

đề kinh tế chính trị của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như:

cơ cấu các thành phần kinh tế; kinh tế hàng hoá; công nghiệp hoá nền kinh

tế quốc dân; nông nghiệp, nông thôn; quan hệ tài chính; quan hệ phân phối;quan hệ kinh tế quốc tế

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Bầt kỳ ngành khoa học nào cũng phải sử dụng hàng loạt phương phápnghiên cứu, có những phương pháp chung cho nhiều ngành khoa học nhưngcũng có những phương pháp đặc thù cho từng ngành khoa học Để nghiêncứu quan hệ sản xuất, Kinh tế chính trị sử dụng phương pháp biện chứngduy vật Phương pháp này đòi hỏi phải xem xét các hiện tượng và quá trìnhkinh tế một cách khách quan, như nó vốn có; phải đặt các sự vật, hiện tượngtrong mối liên hệ phổ biến, không ngừng vận động và phát triển; cội nguồncủa sự phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật Phương pháp duy vật biện chứng được cụ thể bằng một loạt các phươngpháp nghiên cứu sau đây:

1 Trừu tượng hoá khoa học

Trang 14

Trừu tượng hoá khoa học là phương pháp xem xét sự vật, hiện tượngbằng cách gạt bỏ những những yêú tố ngẫu nhiên, không bản chất, không ổnđịnh Điều đó cho phép tiếp cận nhanh chóng và dễ dàng hơn với bản chất,các quy luật vận động của sự vật, hiện tượng Đây là phương pháp được sửdụng phổ biến trong khoa học xã hội, đặc biệt là Kinh tế chính trị Sở dĩnhư vậy là vì các hiện tượng và qúa trình kinh tế hết sức phong phú và đadạng Nhìn bề ngoài, những hiện tượng và qúa trình đó rất khác nhau, thậmchí trái ngược nhau Do đó, muốn nhận thức được bản chất, quy luật vậnđộng của các sự vật, hiện tượng thì phải gạt bỏ những nhân tố ngẫu nhiên,không ổn định, không bản chất, chỉ giữ lại những nhân tố bên trong, ổnđịnh, bền vững để nghiên cứu.

2 Lô-gích và lịch sử

Lô-gích là phương pháp nghiên cứu sự vật, hiện tượng bằng cách sửdụng hệ thống các khái niệm, phạm trù và sức mạnh của tư duy để tìm rabản chất của các hiện tượng kinh tế, các quy luật kinh tế Đây là phươngpháp được sử dụng khá phổ biến trong các ngành khoa học xã hội Sở dĩ nhưvậy là vì các hiện tượng xã hội hết sức đa dạng và phức tạp Bản chất củacác sự vật có thể bị che lấp, thậm chí xuyên tạc Bằng lô-gích, con người cóthể thấy được mối liên hệ bên trong, bản chất của các sự vật, hiện tượng.Tuy nhiên, phương pháp này phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của ngườinghiên cứu, và do đó rất có thể sai lầm Để khắc phục nhược điểm đó, người

ta thường kết hợp phương pháp này với phương pháp lịch sử

Phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu căn cứ vào những sựkiện, hiện tượng đã xảy ra để tìm các quy luật Các sự kiện, hiện tượng xãhội nói chung và kinh tế nói riêng xảy ra không ngẫu nhiên mà mang tínhquy luật và theo quy luật Lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy bắt đầu từ đó Do

đó, phương pháp lịch sử có ưu điểm nổi bật là khách quan, có thể khắc phụcđược nhược điểm của phương pháp lô-gích Tuy nhiên phương pháp lịch sửlại có nhược điểm riêng Các sự kiện và hiện tượng đã xảy ra hết sức phongphú và hỗn độn Nếu chỉ căn cứ vào các sự kiện và hiện tượng đã xảy ra khó

có thể thấy được bản chất, quy luật vận động Do vậy phải kết hợp haiphương pháp này

3 Phân tích và tổng hợp

Để nhận thức được sự vật, hiện tượng, trước hết cần phải hiểu đượctừng mặt, từng bộ phận, từng thuộc tính của chúng Muốn vậy người taphải sử dụng phương pháp phân tích Phân tích là phương pháp nghiên cứuđược thực hiện bằng cách mổ xẻ các sự vật, hiện tượng để tìm ra cấu trúcbên trong, để làm rõ từng thuộc tính, tính chất của mỗi sự vật, hiện tượng

Trang 15

Tuy nhiên, phương pháp này mới chỉ cho những hiểu biết về sự vật hiệntượng một cách cắt rời, cô lập Do vậy cần phải được bổ xung bằng phươngpháp tổng hợp.

Tổng hợp là phương pháp nghiên cứu để nhận thức sự vật hiện tượngbằng cách đặt các mặt, các bộ phận của chúng trong mối liên hệ tổng thể;đặt các sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác.Phương pháp này cho phép nhận thức sự vật, hiện tượng một cách toàn diện,

cả trong hiện tại và tương lai

4 Các phương pháp khác

Ngoài các phương pháp trên đây, Kinh tế chính trị còn sử dụng mộtloạt các phương pháp khác như: diễn dịch-quy nạp, phương pháp toán học,thống kê Những phương pháp nghiên cứu khoa học đóng góp to lớn trongviệc phát hiện các quy luật kinh tế và trong sự phát triển của Kinh tế chínhtrị Mác-Lênin

IV CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

1 Chức năng nhận thức

Kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu quan hệ sản xuất, tức làquan hệ giữa người và người trong qúa trình sản xuất Những quan hệ đó hếtsức phong phú, đa dạng, liên quan đến các mặt của đời sống con người Vìvậy, Kinh tế chính trị Mác - Lênin sẽ cung cấp những tri thức cần thiết đểhiểu sản xuất xã hội và xu thế phát triển tất yếu của nó; nhận thức được bảnchất kinh tế và chính trị của các chế độ xã hội; nhận thức được cơ sở khoahọc trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; hiểu được các hiệntượng và qúa trình kinh tế xảy ra trong cuộc sống hàng ngày

Với tư cách khoa học cơ bản, Kinh tế chính trị Mác-Lênin còn cungcấp những tri thức cần thiết, phục vụ cho việc học tập những môn kinh tếngành

2 Chức năng tư tưởng

Từ việc cung cấp những tri thức khoa học, Kinh tế chính trị Lênin giúp người học hiểu được xu thế phát triển tất yếu của xã hội loàingưòi, thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùngcủa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên đất nước ta Như thế, Kinh

Mác-tế chính trị Mác-Lênin góp phần xây dựng thế giới quan khoa học và cáchmạng

3 Chức năng thực tiễn

Xuất phát từ thực tiễn và phục vụ cho hoạt động thực tiễn là một tínhchất quan trọng của Kinh tế chính trị Mác-Lênin Việc nghiên cứu Kinh tế

Trang 16

chính trị Mác-Lênin trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế và chính trị,nâng cao hiệu quả của các hoạt động này Đồng thời, bất kỳ lĩnh vực hoạtđộng nào của con người cũng liên quan tới các tới các vấn đề kinh tế vàchính trị Do đó, việc học tập Kinh tế học chính trị Mác-Lênin còn giúpcho người học có được nhãn quan kinh tế và chính trị để giải quyết thànhcông những vấn đề chuyên môn của mình.

4 Chức năng phương pháp luận

Kinh tế chính trị Mác-Lênin không chỉ cung cấp những tri thức cầnthiết để hiểu các hiện tượng và qúa trình kinh tế trong hiện tại, mà còn giúpcho người học có được phương pháp tư duy khoa học, từ đó có thể tự mìnhxem xét, lý giải những vấn đề kinh tế mới nảy sinh Đó là chức năng phươngpháp luận của Kinh tế chính trị Mác-Lênin

V SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Các nhà Trọng thương, với những đại biểu nổi tiếng như: A.Mông-crê-chiên, nhà kinh tế học người Pháp (1575-1629), Côn-be, nhà kinh tế họcngười Pháp (1619-1682), Tô-mat Mun, nhà kinh tế học người Anh (1571-1641), W Satpho, nhà kinh tế học người Anh (1554-1612)

Với sự xuất hiện của trường phái Trọng thương, Kinh tế chính trị đãmanh nha Các nhà kinh tế của trường phái Trọng thương đã đoạn tuyệt vớicác tư tưởng kinh tế thời trung cổ giải thích các hiện tượng kinh tế dựa trênnhững quan niệm về tôn giáo; họ giải thích các hiện tượng kinh tế trên cơ sởhiện thực cuộc sống A.Mông-crê-chiên là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ

“Kinh tế chính trị” Tuy nhiên, Kinh tế chính trị còn rất đơn sơ, ấu trĩ: đốitượng nghiên cứu mới chỉ là quá trình lưu thông; những nội dung nghiêncứu còn ít ỏi; phương pháp nghiên cứu nặng về quan sát những hiện tượngbên ngoài

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho Kinh tế chính trị tiếp tụcphát triển Từ nửa sau của thế kỷ XVII, chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu đã vượtqua thời kỳ tích luỹ ban đầu, bắt đầu phát triển trên cơ sở của chính nó:

Trang 17

phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang dần được khẳng định Mộttrường phái kinh tế mới xuất hiện: trường phái Trọng nông.

Trường phái Trọng nông ra đời ở nước Pháp Những đại biểu ưu túnhất của trường phái Trọng nông là P.Boa-ghin-be (Pierr Boisguillebert:1646-1714); Ph.Kê-nê (Fransois Quesnay: 1694-1774); A.Tuyếc-gô (AnneRobert Jacques Turgot: 1727-1771)

Đến trường phái Trọng nông, Kinh tế chính trị có bước phát triểnmới Đối tượng nghiên cứu của Kinh tế chính trị lúc này là lĩnh vực sảnxuất Trường phái Trọng nông cho rằng, nguồn gốc của của cải, của sự giàu

có không phải ở quá trình lưu thông mà ở quá trình sản xuất Với trườngphái Trọng nông, Kinh tế chính trị có bước tiến quan trọng trong một số vấnđề: phân tích một cách khoa học tư bản cố định và tư bản lưu động; phântích tái sản xuất trong “Biểu kinh tế” của Ph.Kê-nê; khẳng định lưu thôngkhông tạo ra giá trị, hàng hoá có giá trị trước khi trao đổi, trao đổi chỉ làmthay đổi hình thái của giá trị Tuy nhiên, trường phái Trọng nông vẫn cònrất nhiều hạn chế Họ cho rằng chỉ có nông nghiệp mới là ngành sản xuất;chưa có khái niệm đúng đắn về giá trị, còn lầm lẫn giá trị với giá trị sử dụng;chưa có hệ thống khái niệm lý luận làm cơ sở

Từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, cách mạng công nghiệp ở Tây Âu đãhoàn thành, chủ nghĩa tư bản đã phát triển trên cơ sở của chính mình Quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng đã chín muồi, những quy luật kinh tế củachủ nghĩa tư bản hoạt động mạnh hơn, những tác động và biểu hiện của nócũng đầy đủ và rõ ràng hơn Hoàn cảnh lịch sử đó cho phép Kinh tế chính trịthật sự trở thành khoa học

Sự phát triển của Kinh tế chính trị trong giai đoạn này gắn liền với sựxuất hiện của trường phái Cổ điển ở nước Anh Trường phái này được bắtđầu từ Uy-li - am Pét -ty (W.Petty: 1622-1687) và kết thúc ở đỉnh cao với A

- đam Smít (Adam Smith: 1723-1790) và Ri - Các - Đô (David Ricardo:1772-1823)

Đến trường phái Cổ điển, đối tượng nghiên cứu của Kinh tế chính trịđược xác định là nguồn gốc, bản chất của của cải, sự giàu có của các dân tộc

và sự phân phối của cải đó giữa các tầng lớp xã hội Mặc dù không hoàntoàn giống với đối tượng nghiên cứu của Kinh tế chính trị Mác-Lênin nhưngtính đến thời gian đó thì đây là một bước tiến lớn

Trường phái Cổ điển đã xây dựng được một hệ thống các lý thuyếtkinh tế: lý thuyết giá trị, lý thuyết tiền tệ, lý thuyết về tư bản, lý thuyết tiềnlương, lợi nhuận, địa tô trong đó lý thuyết giá trị-lao động là phát hiện hếtsức quan trọng và được sử dụng để xây dựng các lý thuyết kinh tế khác

Trang 18

Với những đóng góp chủ yếu trên đây của trường phái Cổ điển, Kinh

tế chính trị đã thật sự trở thành khoa học

Mặc dù vậy, trường phái Cổ điển còn nhiều hạn chế và khiếm khuyết

Họ đồng nhất sản xuất tư bản chủ nghĩa với quá trình sản xuất nói chung; họkhông thấy được tính lịch sử của chủ nghĩa tư bản và các phạm trù kinh tếgắn liền với chủ nghĩa tư bản Trong một số lý thuyết, một số vấn đề khôngđược giải quyết thoả đáng hoặc không đúng

Sống trong thời đại chủ nghĩa tư bản đã phát triển rất cao, cả lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đều đã chín muồi,C.Mác (Karl Marx: 1818-1883) và Ph.Ăngghen (Friedrich Engels: 1820-1895) có điều kiện nhận thức về chủ nghĩa tư bản đầy đủ, chính xác hơnnhững người tiền bối Bên cạnh đó, dokế thừa được những nhân tố khoa họccủa những người đi trước, mà trực tiếp là của trường phái Kinh tế chính trị

cổ điển Anh, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết kinh tếmới Đây là học thuyết kinh tế thật sự khoa học vì nó đã nghiên cứu mộtcách khách quan những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa tư bản; khắc khụcđược tất cả những mâu thuẫn, hạn chế trong các lý thuyết kinh tế trước đó;giải quyết một cách triệt để những vấn đề kinh tế, chính trị xuất hiện tronghoàn cảnh lịch sử mới

Những kết luận khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen hoàn toàn phùhợp và thống nhất với lợi ích của giai cấp vô sản Vì vậy, học thuyết của cácÔng trở thành thế giới quan và phương pháp luận, là vũ khí sắc bén của giaicấp vô sản trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xãhội mới: xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Những tư tưởng khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen được V.I Lênin(1870-1924) tiếp tục phát triển Sống trong thời đại chủ nghĩa tư bản pháttriển sang giai đoạn mới: giai đoạn độc quyền, V.Lênin đã phát triển những

tư tưởng về độc quyền của C.Mác và Ph.Ăngghen, xây dựng lý thuyết mới:

lý thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền Đây là cơ sở lý luận quan trọng đểnhận thức chủ nghĩa tư bản hiện đại Đồng thời, V.Lênin còn là nhà cáchmạng, trực tiếp lãnh đạo cách mạng vô sản ở nước Nga Từ thực tiễn xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.Lênin đã trực tiếp xây dựng Kinh tếchính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là những đóng góp đặc biệtquan trọng của V.Lênin Những đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực đã làmtên tuổi của Ông gắn liền với tên tuổi của C.Mác: chủ nghĩa Mác trở thànhchủ nghĩa Mác-Lênin

Ngày nay, từ thực tiễn của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản vàxây dựng chủ nghĩa xã hội, các đảng cộng sản và công nhân trên toàn thế

Trang 19

giới tiếp tục bổ xung và hoàn thiện chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có Kinh

tế chính trị Điều này đã làm cho Kinh tế chính trị Mác-Lênin không ngừngphát triển

Như trên đã trình bày, Kinh tế chính trị có lịch sử phát triển lâu dài.Đến trường phái Cổ điển Anh, Kinh tế chính trị đã thật sự trở thành khoahọc Nhưng cũng từ đây, Kinh tế chính trị chia thành hai dòng lớn: Kinh tếchính trị Mác-Lênin và kinh tế học

Khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không còn phù hợp với sự pháttriển của lực lượng sản xuất, giai cấp tư sản không còn là giai cấp tiến bộ,các học giả tư sản tìm cách bảo vệ chủ nghĩa tư bản bằng cách gạt bỏ tínhgiai cấp trong các quan hệ kinh tế, biến Kinh tế chính trị thành khoa họckinh tế thuần tuý và gọi đó là kinh tế học

Kinh tế học tập trung nghiên cứu tâm lý, hành vi ứng xử của ngườitiêu dùng; bằng cách nào doanh nghiệp tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợinhuận; những ưu việt và khuyết tật của cơ chế thị trường; các quan hệ cơbản của nền kinh tế thị trường: quan hệ cung - cầu, quan hệ giữa các thịtrường ; Các chính sách của chính phủ Kinh tế học hết sức coi trọngnghiên cứu mặt lượng của các quan hệ kinh tế Vì thế, các công thức, môhình, đồ thị toán học được sử dụng phổ biến để nghiên cứu các quan hệkinh tế

Mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng theo hướng nghiên cứucủa mình, kinh tế học đạt được không ít thành công Bởi vậy, trong cơ chếthị trường có sự điều tiết của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam hiện nay, việc học tập kinh tế học sẽ cho chúng ta cách tiếp cậnkhác nền kinh tế thị trường và góp phần làm phong phú hơn những hiểu biết

về nền kinh tế này

Trang 20

I ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ

Sản xuất hàng hoá hay nền kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế,trong đó những người sản xuất ra sản phẩm không phải để tiêu dùng cho cá

Trang 21

nhân, mà để bán trên thị trường Sản xuất hàng hoá là giai đoạn phát triểncao, tất yếu của sản xuất xã hội Sản xuất xã hội sẽ chuyển từ giai đoạn kinh

tế tự nhiên, tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hoá khi có hai điều kiện: phâncông lao động xã hội và lao động mang tính chất tư nhân

1 Phân công lao động xã hội

Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động vào các ngành,các lĩnh vực sản xuất khác nhau của xã hội Khi có phân công lao động xãhội, mỗi người chuyên môn hoá sản xuất một hoặc một số loại sản phẩmnhất định và nhờ đó, số lượng sản phẩm mà họ có được vượt xa so với nhucầu của họ Nhưng con người có nhu cầu về nhiều loại sản phẩm khác nhau

Do đó, người lao động phải trao đổi với nhau những sản phẩm mà họ có lấynhững sản phẩm mà họ cần Như vậy, phân công lao động xã hội đã tạo ranhững tiền đề vật chất cho qúa trình trao đổi Ví dụ: người thợ chuyên dệtvải sẽ có nhiều vải hơn so với nhu cầu của bản thân mình nhưng họ lại cầnnhiều loại sản phẩm khác, trong đó có lương thực Do đó, người thợ dệt phảitrao đổi vải lấy gạo và ngược lại, người nông dân cần trao đổi gạo lấy vải đểtiêu dùng

Do chỉ sản xuất một hoặc một số loại sản phẩm nên người lao động

có điều kiện để cải tiến công cụ lao động, tích luỹ kinh nghiệm , nhờ đó,năng suất lao động tăng lên Như vậy, phân công lao động xã hội biểu hiện

sự phát triển của lực lượng sản xuất và chính sự phát triển của lực lượng sảnxuất làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu

Phân công lao động xã hội là cơ sở của sản xuất hàng hoá Nhưngphân công lao động xã hội chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủcho sản xuất hàng hoá ra đời

2 Tính chất tư nhân của sản xuất

Sản phẩm của lao động chỉ trở thành hàng hoá khi chúng thuộc quyền

sở hữu của một chủ thể nhất định và những chủ thể khác muốn có sản phẩm

đó phải trao đổi Nói cách khác, chính sự độc lập tương đối (tính tự chủ) củanhững người sản xuất làm cho sản phẩm lao động trở thành hàng hoá “Nóichung, các vật phẩm tiêu dùng trở thành hàng hoá chỉ vì chúng là sản phẩmcủa những lao động tư nhân được tiến hành một cách độc lập với nhau”1

“Muốn cho việc chuyển nhượng đó mang tính chất có đi có lại, thì người tachỉ cần mặc nhiên coi nhau là những kẻ sở hữu tư nhân đối với các vật cóthể chuyển nhượng ấy, và do đó, là những người độc lập với nhau”.2

1 C.Mác - F Ăng-ghen toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, H 1993, tr 116

2 s.đ d tr 137

Trang 22

Lao động tư nhân có thể dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất; các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất; cũng có thể do tính

tự chủ của mỗi đơn vị sản xuất trong cùng một hình thức sở hữu tư liệu sảnxuất Do đó, tư nhân có thể là hộ cá thể, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã,doanh nghiệp nhà nước

Cần lưu ý thêm, trong điều kiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, tínhchất tư nhân của sản xuất trở nên hết sức sâu sắc và cùng với sự phát triểncủa phân công lao động xã hội, kinh tế hàng hoá có thể phát triển đến đỉnhcao Chính điều này đã làm cho kinh tế hàng hoá đặc biệt phát triển trong

chủ nghĩa tư bản

Khi sản xuất mang tính chất tư nhân, chủ sở hữu tư liệu sản xuất cóquyền quyết định việc sử dụng tư liệu sản xuất và là người sở hữu nhữngsản phẩm do họ sản xuất ra Như vậy, điều kiện này làm cho người sản xuấttách biệt với nhau về mặt kinh tế Trong điều kiện đó, khi muốn tiêu dùngsản phẩm của nhau, những người sản xuất phải mua bán sản phẩm, tức làphải trao đổi dưới hình thái hàng hoá

Nhưng nếu chỉ có tính chất tư nhân của sản xuất mà không có điềukiện phân công lao động xã hội cũng không thể có sản xuất hàng hoá Ví dụ,người nông dân là người sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất và do đó, sản xuấtcủa họ mang tính chất tư nhân nhưng họ tự sản xuất lấy mọi thứ sản phẩm

để tiêu dùng thì không phải là sản xuất hàng hoá Vì vậy, phân công laođộng xã hội là cơ sở của sản xuất hàng hoá và tính chất tư nhân của sảnxuất, tức là mặt xã hội của sản xuất, làm cho việc trao đổi sản phẩm trởthành tất yếu Chỉ khi nào có đồng thời hai điều kiện đó thì mới có sản xuất

và trao đổi hàng hoá

Hai điều kiện nói trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm chonhững người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn tính chất tư nhân của sảnxuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn, mâuthuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi mua bán sản phẩm của nhau.Sản xuất hàng hoá đã ra đời, tồn tại và phát triển từ thấp đến cao trong một

số phương thức sản xuất xã hội

II HÀNG HOÁ

1 Hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá

Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn một nhu cầu nào

đó của con người, được sản xuất nhằm để trao đổi, mua bán

Trang 23

Trong nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc thì chỉ những sản phẩm đem

trao đổi, mua bán mới trở thành hàng hoá Cũng sản phẩm đó, nếu không

đem trao đổi, mua bán thì không phải là hàng hoá Ví dụ: người nông dânsản xuất ra thóc nhưng đem nộp tô cho địa chủ, thì thóc đó không trở thànhhàng hoá.Trong nền kinh tế hàng hoá, ngay từ đầu, sản phẩm được sản xuất

ra nhằm để bán, thì dù còn để trong kho, chưa bán được vẫn là hàng hoá

Định nghĩa trên đây cho thấy: hàng hoá có hai thuộc tính, giá trị sửdụng và giá trị

a) Giá trị sử dụng

Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu

nào đó của con người Nhu cầu đó có thể là các nhu cầu vật chất (các sảnphẩm như gạo, quần áo, dày dép có thể đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cánhân; các sản phẩm như máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu có thểđáp ứng nhu cầu cho sản xuất) hoặc là nhu cầu về tinh thần như sách, báo ,phim ảnh

Như vậy, bất cứ hàng hoá nào cũng phải có một hay một số côngdụng nhất định Số công dụng đó không phải ngay trong một lúc có thể tìm

ra được hết, nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoahọc, kỹ thuật và của lực lượng sản xuất Ví dụ: than đá khi xưa chỉ dùng làmchất đốt, về sau được dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp hoá chất Xãhội càng tiến bộ, khoa học-kỹ thuật, phân công lao động xã hội và lực lượngsản xuất càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng càng nhiều, chủng loạicàng phong phú đa dạng và chất lượng cao

Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoáquyết định, không phụ thuộc vào chế độ xã hội nên là một phạm trù vĩnhviễn và là nội dung vật chất của của cải Nhưng việc phát hiện và sử dụngnhững thuộc tính ấy lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học Vìvậy, C Mác nói: “giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng haytiêu dùng Giá trị sử dụng cấu thành cái nội dung vật chất của của cải, chẳng

kể hình thái xã hội của của cải đó là như thế nào”.1

Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là không phải cho bản thânngười sản xuất hàng hoá sử dụng, mà là cho người khác, tức là giá trị sửdụng cho xã hội Nhưng cũng không phải bất cứ giá trị sử dụng nào đượcngười khác dùng cũng đều là hàng hoá Ví dụ: thóc của nông dân nộp tô chođịa chủ không phải là hàng hoá, vì quan hệ đó giữa nông dân với địa chủ

1 Các Mác:Tư bản, q1, t1, NXB Chính trị quốc gia H n à n ội, 1988, tr 52

Trang 24

không phải là quan hệ trao đổi Mác nói: “ giá trị sử dụng đồng thời cũng lànhững vật mang giá trị trao đổi ”1 Vì thế, giá trị sử dụng đến tay ngườikhác, người tiêu dùng phải thông qua mua bán Trong nền sản xuất hànghoá, giá trị sử dụng đồng thời là vật mang giá trị trao đổi.

b) Giá trị

Hàng hoá không những có giá trị sử dụng, có thể thoả mãn nhu cầunào đó của con người mà còn có thể dùng để trao đổi với hàng hoá khác, tức

là hàng hoá còn có giá trị trao đổi Giá trị trao đổi của hàng hoá là quan hệ

về số lượng, là tỷ lệ trao đổi giữa những hàng hoá có giá trị sử dụng khácnhau

Ví dụ: 1 m vải = 10 kg thóc

Từ hai thuộc tính của hàng hoá, chúng ta có thể định nghĩa hàng hoá

theo cách thứ hai: hàng hoá là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi

Hai vế của phương trình hoàn toàn khác nhau (công dụng của vảikhác với công dụng của thóc; ki lô gam thì khác với mét; 1 thì khác với 10)nhưng chúng vẫn bằng nhau Cái chung, cái bằng nhau, giống nhau giữa hai

vế của phương trình đó là: chúng đều là sản phẩm của lao động, đều là kếtqủa sự hao phí lao động nói chung Để sản xuất ra vải và thóc người thợ dệt

và người nông dân đều phải hao phí lao động để sản xuất ra chúng Laođộng hao phí để làm ra 1m vải ngang bằng với lao động hao phí để làm ra10kg thóc Mác nói: “Nếu không kể đến giá trị sử dụng của vật thể hànghoá, thì vật thể hàng hóa chỉ còn có một thuộc tính mà thôi, cụ thể: chúng làsản phẩm của lao động”2

Nhờ có cơ sở chung đó, tất cả các hàng hóa đều giống nhau và có thểtrao đổi được với nhau Thực chất trao đổi hàng hoá cho nhau là trao đổi laođộng ẩn dấu trong các hàng hoá ấy Ví dụ: người thợ dệt mất hai giờ laođộng để làm ra 1m vải, người nông dân sản xuất được10 kg thóc cũng mấthai giờ Trao đổi 1m vải lấy 10 kg thóc chẳng qua là trao đổi hai giờ laođộng làm ra vải với hai giờ lao động sản xuất thóc Lao động kết tinh tronghàng hoá được gọi là giá trị

Như vậy, sở dĩ hàng hoá có giá trị trao đổi bởi vì hàng hoá có giá trị.

Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; giá trị trao đổi chỉ là hìnhthức biểu hiện của giá trị Giá trị của hàng hoá là lao động của người sảnxuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Giá trị hàng hoá là biểu hiện quan hệ

1 Sách đã dẫn Tr 53

2 C.Mác Tư bản Q1, t1 NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 1988, tr.55.

Trang 25

giữa những người sản xuất hàng hóa Nó là một phạm trù lịch sử, gắn liền

với sản xuất và trao đổi hàng hóa.

Như vậy, hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị Haithuộc tính này cùng tồn tại và thống nhất với nhau ở một hàng hoá, nhưngđây là sự thống nhất của các mặt đối lập Người sản xuất làm ra hàng hóa đểbán, cho nên mục đích của họ là giá trị chứ không phải là giá trị sử dụng;trong tay họ có giá trị sử dụng, nhưng cái mà họ quan tâm là giá trị hànghóa Họ chú ý đến giá trị sử dụng thì cũng chính là để đạt mục đích giá trị.Ngược lại, người mua thì rất cần giá trị sử dụng, nhưng muốn có giá trị sửdụng thì trước hết phải trả giá trị của nó cho người sản xuất ra nó, tức làphải thực hiện được giá trị hàng hoá thì mới chi phối được giá trị sử dụng

Vì vậy, quá trình thực hiện giá trị và quá trình thực hiện giá trị sử dụng làhai quá trình khác nhau về thời gian và không gian Quá trình thực hiện giátrị được tiến hành trước và trên thị trường; quá trình thực hiện giá trị sửdụng diễn ra sau và trong lĩnh vực tiêu dùng

Tóm lại, giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá vừa thống nhất vừamâu thuẫn với nhau Trước khi thực hiện giá trị sử dụng của hàng hoá cầnphải thực hiện giá trị của nó; muốn thực hiện giá trị hàng hoá thì phải có giátrị sử dụng

2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá

Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị vì lao độngcủa người sản xuất hàng hoá có tính hai mặt, đó là lao động cụ thể và laođộng trừu tượng

a) Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của

một nghề nghiệp chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đíchriêng, công cụ lao động, đối tượng lao động, phương pháp lao động và kếtquả lao động riêng Chính những cái riêng đó làm cho các lao động cụ thểkhác nhau Ví dụ: lao động cụ thể của người thợ may khác với lao động củangười thợ nề; lao động cụ thể của người thợ mộc khác với lao động cụ thểcủa người thợ dệt

Mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định Trong xãhội, giá trị sử dụng muôn hình, muôn vẻ do lao động cụ thể muôn hìnhmuôn vẻ tạo ra Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn nên giá trị sửdụng là phạm trù vĩnh viễn

Lao động cụ thể tồn tại vĩnh viễn cùng với sản xuất và tái sản xuất xãhội, không phụ thuộc vào bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào; nhưng hình

Trang 26

thức của lao động cụ thể phụ thuộc vào sự phát triển của kỹ thuật, của lựclượng sản xuất, phân công lao động xã hội và nhu cầu tiêu dùng Khoa học,

kỹ thuật, phân công lao động càng phát triển thì các hình thức lao động cụthể càng phong phú và đa dạng.Tất cả các loại lao động cụ thể hợp thành hệthống phân công lao động xã hội ngày càng chi tiết

b) Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hoá

không kể đến hình thức cụ thể của nó, hay nói cách khác lao động trừutượng là sự hao phí sức lực của con người nói chung không kể hình thức cụthể của nó như thế nào Đó là sự tiêu hao cơ bắp, thần kinh, trí óc của conngười sau một quá trình lao động Nhưng không phải là sự tiêu hao sức lựccủa con người nói chung, mà là sự tiêu phí sức lực của người sản xuất hànghoá Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hoá, là một phạm trù lịch sử,riêng có của sản xuất hàng hoá.Tất nhiên, không phải có hai thứ lao độngkết tinh trong hàng hoá, mà chỉ là lao động của người sản xuất hàng hoá cótính chất hai mặt mà thôi

Như vậy, lao động sản xuất hàng hoá, nếu xem xét dưới góc độ laođộng cụ thể tức là xem xét lao động đó tiến hành như thế nào, sản xuất ra cáigì; còn nếu xem xét dưới góc độ lao động trừu tượng tức là xem xét laođộng đó tốn bao nhiêu sức lực, hao phí bao nhiêu thời gian lao động

Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá phản ánh tính chất

tư nhân và tính chất xã hội của lao động

Tính chất tư nhân của lao động sản xuất hàng hoá biểu hiện: sản xuấtcái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai là công việc cá nhân của chủ sởhữu về tư liệu sản xuất, họ tự quyết định Đồng thời, lao động của người sảnxuất hàng hoá lại mang tính xã hội, nó trở thành là một bộ phận của laođộng xã hội nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội Sự phân cônglao động xã hội làm nảy sinh mối liên hệ giữa những người sản xuất Ngườinày sản xuất ra sản phẩm để cho người khác dùng; và ngược lại, họ cần sảnphẩm của người khác Sự phân công lao động xã hội tạo ra sự phụ thuộc lẫnnhau giữa những người sản xuất hàng hoá thông qua trao đổi hàng hoá Việctrao đổi hàng hoá không thể căn cứ vào lao động cụ thể mà phải quy về laođộng trừu tượng

Lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sự thống nhất giữahai mặt đối lập là tính chất xã hội và tính chất tư nhân của lao động Mâuthuẫn giữa tính chất xã hội và tính chất tư nhân của lao động sản xuất hànghoá là mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hoá giản đơn, mâu thuẫn đóđược biểu hiện thành mâu thuẫn giữa lao động trừu tượng và lao động cụ

Trang 27

thể, giữa giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá Mâu thuẫn trên bộc lộ rõkhi sản xuất thừa, cung vượt quá cầu, lao động tư nhân không dược xã hộithừa nhận, giá trị sử dụng không đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của ngườitiêu dùng.

Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội chứa đựng khảnăng sản xuất “thừa” và là nguồn gốc của mọi mâu thuẫn của kinh tế hànghoá

3 Lượng giá trị hàng hoá

Lượng giá trị hàng hoá là do lượng lao động tiêu hao để làm ra hànghoá quyết định và được đo lường bằng thời gian lao động

Trong đời sống thực tế, nhiều người cùng sản xuất một loại hàng hoánhư nhau, nhưng điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề, năng suất lao độngkhác nhau, do đó thời gian lao động hao phí để sản xuất hàng hoá là khônggiống nhau tức là hao phí lao động cá biệt khác nhau Ví dụ, cùng làm nghềdệt vải, nhưng người thứ nhất dệt một tấm vải phải hao phí 10 giờ lao động,người thứ hai 8 giờ, người thứ ba 6 giờ Sở dĩ có khác nhau về lượng thờigian lao động hao phí như thế là do số lượng và chất lượng tư liệu sản xuấtcủa mỗi người không giống nhau, khả năng và trình độ thành thạo riêng củatừng người cũng không như nhau, điều kiện lao động không giống nhau

Trong trao đổi , người ta không dựa trên hao phí thời gian lao động cá

biệt vì xã hội không thể biết được chính xác hao phí thời gian lao động của

từng người sản xuất hàng hoá Hơn thế nữa, nếu trao đổi theo các giá trị cá

biệt thì người sản xuất càng lười biếng, vụng về, hàng hoá của họ càng cógiá trị Do đó, khi trao đổi, người ta phải căn cứ vào các giá trị chung hay

giá trị xã hội

Vậy lượng giá trị hàng hoá không phải được tính bằng thời gian laođộng cá biệt mà được tính bằng hao phí thời gian lao động có tính chất trung

bình Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động để sản xuất

ra hàng hoá với một cường độ trung bình, trình độ thành thạo trung bình, trong những điều kiện bình thường của sản xuất xã hội để sản xuất ra tuyệt đại bộ phận hàng hoá.

Trong thực tế, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hànghoá thường trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người sảnxuất hàng hoá nào cung cấp đại bộ phận hàng hoá trên thị trường Cần chú ýrằng, trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình, điềukiện lao động bình thường của xã hội ở mỗi nước, mỗi ngành là khác nhau

và thay đổi theo sự phát triển của lực lượng sản xuất

Trang 28

Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá thay đổithì lượng giá trị hàng hoá sẽ thay đổi Lượng giá trị hàng hoá phụ thuộc vàocác yếu tố sau:

- Năng suất lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng giá trị hànghoá Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động được đo bằng sốlượng sản phẩm sản xuất trong một đơn vị thời gian, hoặc số lượng thời gianhao phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động xã hội càngcao, thời gian cần thiết để sản xuất hàng hoá càng ít, lượng lao động kết tinhtrong một đơn vị sản phẩm càng nhỏ thì giá trị của sản phẩm càng bé Nhưvậy, lượng giá trị của một hàng hoá tỷ lệ thuận với số lượng lao động và tỷ

lệ nghịch với năng suất lao động Năng suất lao động phụ thuộc vào trình độlành nghề của người lao động; trình độ công nghệ; phương pháp tổ chức,quản lý lao động; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất; các điều kiện tựnhiên

- Cường độ lao động là mức độ hao phí lao động trong một đơn vịthời gian, nói lên mức độ khẩn trương, căng thẳng của lao động Tăng cường

độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động Cường độ lao độngtăng lên có nghĩa là hao phí sức lao động cũng tăng lên, làm cho số lượngsản phẩm được chế tạo trong một đơn vị thời gian tăng lên nhưng giá trị một

hàng hoá không thay đổi

Tăng năng suất lao động làm cho số lượng sản phẩm được tạo ratrong một đơn vị thời gian tăng lên, tổng giá trị hàng hoá tạo ra trong mộtđơn vị thời gian không thay đổi, do đó giá trị của một đơn vị hàng hoá giảmxuống Tăng cường độ lao động làm cho số lượng sản phẩm được tạo ratrong một đơn vị thời gian nhiều hơn, tổng giá trị hàng hoá tạo ra trong mộtđơn vị thời gian cũng tăng lên, nhưng giá trị của một đơn vị hàng hoá khôngthay đổi Như vậy, tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động cóđiểm chung, giống nhau ở kết quả là tăng số lượng sản phẩm sản xuất ratrong thời gian nhất định

Lao động của người sản xuất hàng hoá có trình độ thành thạo khácnhau, được chia thành hai loại: lao động giản đơn và lao động phức tạp

Lao động giản đơn là lao động mà mọi người bình thường đều có thể

làm được, không phải qua đào tạo, huấn luyện chuyên môn

Lao động phức tạp hay lao động lành nghề là lao động mà muốn thực

hiện được đòi hỏi phải qua đào tạo, huấn luyện về chuyên môn

Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơnlao động giản đơn Các Mác viết: “Lao động phức tạp chỉ là lao động giản

Trang 29

đơn được nâng lên luỹ thừa , hay nói cho đúng hơn, là lao động giản đơnđược nhân lên”.1

Như vậy là, trong quá trình trao đổi hàng hoá, người ta lấy lao động giảnđơn làm đơn vị, mọi lao động phức tạp đều được quy thành lao động giảnđơn Do đó, lượng giá trị của hàng hoá là do thời gian lao động xã hội cầnthiết, giản đơn để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định

Lượng giá trị hàng hoá không chỉ bao gồm hao phí lao động sống, màcòn bao gồm hao phí lao động qua khứ đã vật hoá trong tư liệu sản xuất(như máy móc, nguyên vật liệu, năng lượng ) Do đó, lượng giá trị hànghoá gồm cả giá trị cũ, tức là giá trị của những tư liêụ sản xuất đã hao phí đểsản xuất hàng hoá (ký hiệu là c) và giá trị mới do lao động sống của ngườisản xuất tạo ra (ký hiệu là v+m)

4 Quy luật giá trị

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông

hàng hoá Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động

của quy luật giá trị

a) Nội dung của quy luật giá trị

Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựatrên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết Hai hàng hoá có giá trị sử dụngkhác nhau có thể trao đổi với nhau được, khi lượng giá trị của chúng ngangnhau Do đó, yêu cầu của quy luật giá trị đòi hỏi phải trao đổi theo nguyêntắc ngang giá

Những người sản xuất và trao đổi hàng hoá tuân theo mệnh lệnh củagiá cả thị trường Giá cả phụ thuộc vào giá trị, vì giá trị là cơ sở của giá cả.Hàng hoá nào mà hao phí lao động để sản xuất ra nó nhiều thì có giá trị cao

và do vậy giá cả thị trường sẽ cao, và ngựơc lại Ngoài ra, giá cả còn phụthuộc vào sức mua của đồng tiền, quan hệ cung cầu, quan hệ cạnh tranh Như vậy, giá cả hàng hoá trên thị trường lên, xuống xoay quanh giá trị củahàng hoá và trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị Đối với mỗi hànghoá riêng biệt, giá cả của nó có thể cao, thấp hoặc phù hợp với giá trị của

nó Nhưng xét trong phạm vi xã hội tổng giá cả bằng tổng giá trị hàng hoá

b) Tác dụng của quy luật giá trị

Trong nền kinh tế hàng hoá, quy luật giá trị có những tác dụng sau:

- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.

+ Điều tiết sản xuất

1 C.Mác Tư bản Q1, t1 NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 1988, tr.63.

Trang 30

Trong nền sản xuất hàng hoá, tình trạng người sản xuất bỏ ngành này,

đổ xô vào sản xuất ngành khác, quy mô ngành này thu hẹp, quy mô ngànhkhác mở rộng, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động được phân bố lạigiữa các ngành thường xảy ra Sự điều tiết này được hình thành một cách

tự phát, thông qua sự biến động của giá cả trên thị trường và do tác độngtrực tiếp của quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường Khi cung nhỏ hơncầu, sản phẩm không đủ để thoả mãn nhu cầu xã hội, giá cả cao hơn giá trị,hàng hoá bán chạy với lãi cao Những người sản xuất di chuyển tư liệu sảnxuất và sức lao động vào các ngành này, làm cho sản xuất được mở rộng.Khi cung lớn hơn cầu, sản phẩm làm ra quá nhiều so với nhu cầu xã hội, giá

cả thấp hơn giá trị, hàng hoá bán không chạy, bị lỗ vốn Những người sảnxuất di chuyển bớt tư liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi các ngành này,làm cho sản xuất được thu hẹp Như vậy, quy luật giá trị đã điều tiết sảnxuất

+ Điều tiết lưu thông hàng hoá

Quy luật giá trị không chỉ điều tiết lĩnh vực sản xuất, mà còn điều tiết

cả lĩnh vực lưu thông hàng hoá Hàng hoá được đưa từ nơi có giá cả thấpđến nơi có giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu, đến nơi cung nhỏ hơn cầu.Như vậy, thông qua sự biến động của giá cả trên thị trường mà quy luật giátrị có tác dụng phân phối hay điều tiết các nguồn hàng một cách hợp lý hơngiữa các vùng, các khu vực

- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động phát triển lực lượng sản xuất.

Trong nền sản xuất hàng hoá, những người sản xuất hàng hoá, do khácnhau về tay nghề, công cụ lao động, điều kiện lao động nên hàng hoá mà

họ sản xuất ra có giá trị cá biệt khác nhau Tuy nhiên, trên thị trường cáchàng hoá đều được trao đổi theo giá trị xã hội Người sản xuất nào có giá trị

cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội sẽ có lợi Người sản xuất nào có giá trị cá biệtcao hơn giá trị xã hội sẽ bị thiệt, ở vào thế bất lợi Muốn tồn tại và pháttriển, người sản xuất phải tìm cách cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ taynghề, sử dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật vào sản xuất; cảitiến tổ chức quản lý sản xuất, làm cho năng xuất lao động tăng lên, hạ thấpgiá trị cá biệt Ngoài ra, để thu được nhiều lãi, người sản xuất hàng hoá phảithường xuyên nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã hàng hoá cho thích hợpnhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng để tiêu thụ hàng hoá nhanh hơn.Thông qua tác động này, quy luật giá trị đã thúc đẩy lực lượng sản xuất pháttriển

- Phân hoá những người sản xuất hàng hoá.

Trang 31

Những người sản xuất hàng hoá hao phí thời gian lao động để sảnxuất ra hàng hoá không giống nhau, do đó hàng hoá của họ có giá trị cá biệt

khác nhau Mặc dù vậy, hàng hoá của họ đều trao đổi theo giá trị chung,

giá trị xã hội Do đó, những người có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hộithu được lượng giá trị lớn hơn hao phí lao động sẽ ngày càng giàu lên, muasắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh Những người cógiá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội không thu hồi được toàn bộ lao động đãhao phí sẽ ngày càng nghèo đi, thu hẹp sản xuất, thậm chí bị phá sản, trởthành người làm thuê Ngoài ra, nạn đầu cơ, lừa đảo, khủng hoảng kinh tếcũng làm tăng thêm sự phân hoá này Trong nền kinh tế hàng hoá, sự điềutiết của nhà nước có thể hạn chế sự phân hoá này

III TIỀN TỆ

1 Nguồn gốc, bản chất của tiền tệ

Trong lịch sử Kinh tế chính trị, tiền tệ đã trở thành đối tượng nghiêncứu của nhiều nhà kinh tế Thế nhưng, C Mác là người đầu tiên đã nghiêncứu một cách hệ thống và sâu sắc về nguồn gốc, bản chất của tiền tệ

Tiền tệ xuất hiện là kết quả tất yếu của quá trình phát triển sản xuất vàtrao đổi hàng hoá

Mỗi hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng vàgiá trị Nếu giá trị sử dụng của hàng hoá có thể nhận biết bằng các giácquan, thì giá trị của hàng hoá lại chỉ nhận biết được qua giá trị trao đổi, tức

là ở các hình thái giá trị Trong lịch sử phát triển của trao đổi hàng hoá, hìnhthái giá trị cũng phát triển từ thấp đến cao, từ hình thái giản đơn hay ngẫunhiên, tới hình thái mở rộng, hình thái chung của giá trị và hình thái tiền tệ

a) Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị

Cuối công xã nguyên thuỷ, lực lượng sản xuất có sự phát triển nhấtđịnh làm xuất hiện sản phẩm thặng dư, do đó bắt đầu có trao đổi Nhưng vìlực lượng sản xuất còn ở trình độ rất thấp nên sản phẩm thặng dư còn rất ít

ỏi và do đó, trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên và trực tiếp Một hàng hoáđược trao đổi một cách ngẫu nhiên với một hàng hoá khác, chẳng hạn:

10 kg thóc = 2 m vải Trong hình thái này, hàng hoá ở vế trái của phương trình (10 kg thóc)

ở vào vị trí hình thái tương đối, giá trị của nó được biểu hiện ra bên ngoài.Hàng hoá ở vế phải của phương trình (2 m vải) ở vào vị trí hình thái nganggiá, dùng để biểu hiện giá trị của thóc Trong hình thái giản đơn hay ngẫunhiên của giá trị, giá trị sử dụng của một hàng hoá đã trở thành hình thức

Trang 32

biểu hiện của giá trị Và vì thế, C.Mác cho rằng, ngay trong hình thái giảnđơn hay ngẫu nhiên của giá trị đã có mầm mống của tiền tệ.

b) Hình thái mở rộng của giá trị

Khi lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội phát triển đã đưanăng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư nhiều hơn thì việc trao đổitrở nên thường xuyên hơn Ở đây, giá trị của một hàng hoá được biểu hiện ởgiá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác nhau, chẳng hạn:

2 m vải , hoặc

10 kg thóc = 1 cái bàn, hoặc

1 gr vàng, hoặcv v

Hình thái này bao gồm nhiều phương trình trao đổi và việc phân tích

mỗi phương trình cũng giống như trong hình thái giản đơn hay ngẫu nhiêncủa giá trị Hình thái này khác hình thái trên ở chỗ: hình thức biểu hiện giátrị của một hàng hoá đã được mở rộng, không cố định ở một hàng hoá

c) Hình thái chung của giá trị

Lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội tiếp tục phát triểncao hơn, trao đổi hàng hoá trở nên thường xuyên và ngày càng mở rộng hơnnữa Một hàng hoá có thể trao đổi được với nhiều loại hàng hoá khác nhau.Nhưng cũng vì thế, những người có sản phẩm dư thừa không dễ gì đổi ngay

được những sản phẩm mà họ cần Quá trình trao đổi hàng hoá dần dần làm

xuất hiện hàng hoá trung gian trong trao đổi Những hàng hoá trung gianphải mang tính thông dụng, có ý nghĩa kinh tế đối với một địa phương, một

bộ tộc, bộ lạc Khi đã có hàng hoá trung gian, người ta dễ dàng đổi đượchàng hoá mà họ cần Khi đó, hình thái mở rộng của giá trị phát triển thànhhình thái chung của giá trị

10kg thóchoặc 2 m vảihoặc 1 cái bàn = 1 con cừuhoặc 1 gr vàng

v v

Hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá chung trở thành môi giới, thànhphương tiện để trao đổi các hàng hoá với nhau Lúc đầu, vật ngang giáchung khác nhau ở mỗi địa phương, mỗi bộ tộc, bộ lạc vì ở mỗi nơi sản

Trang 33

phẩm thông dụng, có ý nghĩa kinh tế khác nhau, có nơi dùng thóc, có nơidùng vỏ sò, vỏ ốc v v

d) Hình thái tiền tệ

Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển caohơn nữa, trao đổi hàng hoá đòi hỏi phải có vật ngang giá chung thống nhấtgiữa các vùng, các địa phương

Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một hàng hoá độc tôn vàphổ biến thì hình thái tiền tệ xuất hiện Hàng hoá đóng vai trò tiền tệ phảithoả mãn các yêu cầu: thuần nhất, dễ chia nhỏ; dễ vận chuyển, dễ bảo quản,trọng lượng nhỏ, giá trị cao Thuộc tính tự nhiên của bạc và vàng đáp ứngtốt nhất các yêu cầu đó, nên vàng và bạc đã trở thành tiền tệ Khi tiền tệ xuấthiện, thế giới hàng hoá phân làm hai cực: một cực là những hàng thôngthường đại biểu cho những giá trị sử dụng; cực khác là hàng hoá đóng vaitrò tiền tệ, đại biểu cho giá trị

Như vậy, tiền tệ là hàng hoá đặc biệt, đóng vai trò vật ngang giáchung thống nhất cho tất cả hàng hoá Tiền tệ ra đời là kết qủa tất yếu của sự

phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá Tiền tệ là hình thức thể hiện lao

động xã hội Về bản chất, tiền tệ là quan hệ xã hội, quan hệ giữa những

người sản xuất và trao đổi hàng hoá

Với tư cách là hàng hoá, vàng và bạc cũng có hai thuộc tính giá trị sửdụng và giá trị Giá trị sử dụng của các hàng hoá này thể hiện ở chỗ, nóđược sử dụng trong việc chế tạo một số chi tiết sản phẩm công nghiệp vàlàm đồ trang sức Giá trị của hàng hoá vàng, bạc cũng do hao phí thời gianlao động xã hội cần thiết, giản đơn của người khai thác, sản xuất vàng, bạckết tinh trong nó quyết định

Khi đóng vai trò tiền tệ, vàng, bạc có giá trị sử dụng đặc biệt là vậtngang giá chung, đo lường được giá trị của hàng hoá khác Đó là chức năng

xã hội của vàng và bạc Cũng từ đây nảy sinh tệ sùng bái tiền, vì tiền đượccoi là có quyền lực vạn năng

2 Chức năng của tiền tệ

Trong điều kiện kinh tế hàng hoá phát triển, tiền tệ có năm chức năngsau đây:

a) Thước đo giá trị

Trong chức năng này, tiền được dùng để đo lường và biểu hiện giá trịcủa các hàng hoá Tiền tệ có thể đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hoá

vì bản thân tiền tệ có giá trị Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị thìtiền tệ không cần phải là tiền mặt, mà chỉ cần là tiền tưởng tượng Sở dĩ cóthể làm được như vậy, vì trong thực tế giá trị của vàng và giá trị của hàng

Trang 34

hoá đã có một tỷ lệ nhất định Cơ sở khoa học của tỷ lệ đó là thời gian laođộng xã hội cần thiết phải hao phí để sản xuất ra chúng.

Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá, hayngược lại, giá cả hàng hoá là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hànghoá Giá cả do các nhân tố: giá trị hàng hoá; giá trị tiền tệ; quan hệ cung-cầu hàng hoá quyết định

Giá cả hàng hoá thay đổi tỷ lệ thuận với giá trị của hàng hoá và tỷ lệnghịch với giá trị của tiền tệ

Quan hệ cung - cầu hàng hoá làm giá cả lên xuống xung quanh giá trị.Cung lớn hơn cầu làm giá cả xuống thấp hơn giá trị; còn ngược lại, cungnhỏ hơn cầu sẽ làm cho giá cả lên cao hơn giá trị hàng hoá

Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ phải được đolường Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ Đơn vị tiền tệ và các phầnchia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có têngọi khác nhau Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường các hàng hoá khác; làtiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường số lượng của bản thân kim loại dùng làmtiền tệ Sự thay đổi giá trị của hàng hoá tiền tệ (vàng) không ảnh hưởng đến

“chức năng’’ tiêu chuẩn giá cả của nó

Khi cả vàng và bạc thực hiện chức năng đo lường giá trị của các hànghoá thì luôn phải xác định quan hệ tỷ lệ giữa vàng và bạc Nói cách khác,giá trị hàng hoá phải được đo lường bằng một thước đo thống nhất, khôngthể có hai thước đo Thuộc tính tự nhiên của vàng đáp ứng tốt hơn yêu cầuđối với hàng hoá đóng vai trò tiền tệ nên dần dần chỉ còn vàng là tiền tệ, bạc

bị loại ra khỏi vai trò tiền tệ

b) Phương tiện lưu thông

Làm chức năng phương tiện lưu thông, tiền tệ là môi giới trong lưuthông hàng hoá Công thức lưu thông hàng hoá khi có sự tham gia của tiền

tệ là: H - T - H (hàng - tiền - hàng) Khi hàng chuyển từ tay người bán sangtay người mua thì tiền chuyển từ tay người mua sang tay người bán, do đóđòi hỏi nhất thiết phải có tiền Làm chức năng phương tiện lưu thông, tiền tệphải là tiền thật (không phải tiền tưởng tượng)

Thực hiện chức năng này, lúc đầu người ta dùng vàng thoi, bạc nén.Điều đó gây nên một số khó khăn: phải chia nó thành nhiều mảnh nhỏ, phảixác định số lượng, độ nguyên chất Tiền tệ bằng vàng thoi, bạc nén dần dầnđược thay thế bằng tiền đúc Tiền đúc là khối kim loại đúc có hình thức,trọng lượng và giá trị nhất định, nó được dùng làm phương tiện lưu thông.Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trịcủa nó, do đó xuất hiện tình trạng tiền đúc không còn đủ giá trị ban đầu của

Trang 35

nó Nhưng trong thực tế, những đồng tiền bị mòn, không đủ giá trị đó vẫnđược chấp nhận làm phương tiện lưu thông như tiền đúc đủ giá trị Giá trịthực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó Sở dĩ có tình trạng này là vìtiền làm phương tiện lưu thông chỉ là môi giới trong trao đổi Thông thường,người bán đổi hàng lấy tiền, rồi dùng tiền ấy mua hàng hoá khác.Tiền đúc bịhao mòn và không đủ giá trị nhưng vẫn lưu thông được Làm phương tiệnlưu thông dần dần tiền tệ chỉ còn là ký hiệu giá trị Đó chính là cơ sở ra đờicủa tiền giấy Nhà nước có chức năng phát hành và quản lý lưu thông tiềngiấy Bản thân tiền giấy không có giá trị, mà chỉ là ký hiệu của giá trị vàđược công nhận trong phạm vi quốc gia.

Khi tiền làm chức năng phương tiện lưu thông, việc trao đổi hàng hoátrở nên thuận lợi, hành vi mua bán có thể tách rời nhau cả về không gian lẫnthời gian Có thể bán mà chưa mua, có thể mua ở nơi này bán ở nơi kia Nhưthế, tiền tệ tham gia vào quá trình trao đổi đã tạo ra sự không nhất trí giữamua và bán, gây ra khả năng khủng hoảng kinh tế

c) Phương tiện cất trữ

Tiền là hiện thân của giá trị, đại biểu cho của cải xã hội, nên nó có thểthực hiện được chức năng phương tiện cất trữ Làm phương tiện cất trữ, tiềnđược rút khỏi lưu thông và được cất trữ lại Cất trữ tiền là một hình thức cấttrữ của cải, cất trữ giá trị

Chỉ có tiền đủ giá trị như tiền vàng mới làm chức năng cất trữ Sự cấttrữ tiền làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầutiền cần thiết cho lưu thông hàng hoá Nếu sản xuất hàng hoá giảm sút, hànghoá ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông và được cất trữ Ngược lại,nếu sản xuất hàng hoá tăng lên tức là hàng hoá nhiều thì những đồng tiền đólại quay trở vào lưu thông Do vậy, cất trữ tiền không chỉ là cất trữ của cải

mà còn là dự trữ cho lưu thông tiền tệ

d) Phương tiện thanh toán

Kinh tế hàng hoá phát triển đến một trình độ nào đó, tất yếu sẽ nảysinh việc mua - bán chịu, do đó tiền có chức năng phương tiện thanh toán.Với chức năng này tiền dùng để chi trả sau khi công việc giao dịch, mua bán

đã hoàn thành Ví dụ, trả tiền mua hàng chịu, trả nợ, nộp thuế

Phương tiện thanh toán của tiền tệ gắn liền với chế độ tín dụng, trong

đó có tín dụng thương mại là mua - bán chịu hàng hoá

Trong hình thức mua - bán chịu, trước tiên, tiền làm chức năng thước

đo gía trị Nhưng vì mua bán chịu nên đến kỳ hạn trả tiền mới thực hiệnchức năng phương tiện thanh toán Sự phát triển hình thức mua bán chịu,một mặt, tạo khả năng trang trải nợ nần bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn

Trang 36

nhau không dùng tiền mặt, nên giảm được lượng tiền cần thiết phát hànhtrong lưu thông Mặt khác, trong việc mua bán chịu, người mua biến thànhcon nợ, người bán biến thành chủ nợ, khi hệ thống con nợ và chủ nợ pháttriển rộng rãi, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ ảnh hưởngđến các khâu khác và phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế lạităng lên.

Quá trình thực hiện chức năng phương tiện thanh toán sẽ làm xuấthiện một loại tiền mới - tiền tín dụng, dưới các hình thức như: giấy bạc ngânhàng, tiền ghi sổ, tài khoản có thể phát hành séc, tiền điện tử, thẻ thanhtoán

Tiền tín dụng phát sinh từ chức năng phương tiện thanh toán của tiền.Mặt khác, tiền tín dụng phát triển thì chức năng phương tiện thanh toán củatiền càng mở rộng và các hình thức của tiền cũng phát triển

e) Tiền tệ thế giới

Khi trao đổi hàng hoá mở rộng ra bên ngoài biên giới quốc gia vàhình thành quan hệ buôn bán giữa các nước, thì tiền tệ làm chức năng tiền tệthế giới Thực hiện chức năng tiền tệ thế giới, tiền tệ là phương tiện trao đổi,thanh toán và dự trữ quốc tế, là công cụ di chuyển của cải từ nước này sangnước khác Làm chức năng tiền tệ thế giới thì tiền tệ phải có giá trị thật sự,phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụng được công nhận trên phạm vi quốc tế

Tuy nhiên, sử dụng vàng làm tiền tệ thế giới gặp không ít trở ngạinhư: vận chuyển, bảo quản, đánh giá chất lượng vàng Do vậy, trong thực

tế, những đồng tiền giấy của những quốc gia có nền kinh tế mạnh cũng được

sử dụng làm đồng tiền quốc tế Khi đó, quan hệ giữa các đồng tiền đượcthiết lập Việc đổi tiền nước này ra tiền của nước khác được tiến hành theo

tỷ lệ nhất định, phụ thuộc vào sức mua của các đồng tiền Tỷ lệ trao đổigiữa các đồng tiền gọi là tỷ giá hối đoái, là giá cả đồng tiền của quốc gia nàyđược tính bằng đồng tiền của quốc gia khác

Nhưng tiền giấy chỉ là ký hiệu của giá trị và các quốc gia thực thichính sách tiền tệ trước hết vì lợi ích của mình nên việc sử dụng đồng tiềnquốc gia làm tiền tệ thế giới làm cho người sử dụng phải chịu những rủi ronhất định Sự ra đời của những đồng tiền chung có tác dụng to lớn trongviệc hạn chế những rủi ro đó

Tóm lại, tiền tệ có năm chức năng, những chức năng này ra đời cùngvới sự phát triển của sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá Năm chứcnăng đó có quan hệ mật thiết với nhau, thông thường tiền làm nhiều chứcnăng cùng một lúc

3 Quy luật lưu thông tiền tệ và lạm phát

Trang 37

a) Quy luật lưu thông tiền tệ

Một trong những vấn đề trung tâm thu hút sự chú ý của cả lý thuyết

cổ điển lẫn hiện đại về tiền tệ là quy luật lưu thông tiền tệ

Quy luật lưu thông tiền tệ xác định số lượng tiền cần thiết trong lưuthông, bằng tổng số giá cả của toàn bộ hàng hoá, trừ đi tổng số giá cả hànghoá bán chịu, trừ đi tổng số giá cả hàng hoá khấu trừ cho nhau, cộng vớitổng số giá cả hàng hoá bán chịu đến kỳ thanh toán, chia cho số lần chuchuyển trung bình của tiền tệ

Có thể minh hoạ quy luật lưu thông tiền tệ bằng công thức sau:

Tổng số Tổng số Tổng số giá cả Tổng số giá cả giá cả - giá cả - hàng hoá khấu + hàng hoá bán

Số lượng hàng hoá hàng hoá trừ cho nhau chịu đến kỳ tiền cần bán chịu thanh toán

thiết = trong Số lần chu chuyển trung bình của tiền tệ

-lưu thông

Đây là quy luật lưu thông tiền tệ trong điều kiện giả định tiền là vàng

và giá trị của vàng đã xác định Quy luật này hoạt động trong mọi xã hội cósản xuất hàng hoá Nếu tiền giấy xuất hiện thay thế tiền vàng trong lưuthông, với số lượng tiền giấy đưa vào lưu thông vượt quá mức lượng tiềncần thiết trong lưu thông sẽ dẫn đến lạm phát

b) Lạm phát, nguyên nhân và hậu quả của nó

Lạm phát là do lượng tiền giấy được phát hành quá nhiều, vượt quálượng vàng cần thiết cho lưu thông mà tiền giấy là đại biểu Lạm phát làmcho tiền giấy bị mất giá, giá cả hàng hoá tăng lên Biểu hiện của lạm phát làtình trạng mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế tăng lên trong một thờigian nhất định Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phổ biến ở nhiều nướctrên thế giới

Nguyên nhân của lạm phát:

Thứ nhất, do thâm hụt ngân sách, tức là ngân sách nhà nước chi lớnhơn thu Để có tiền bù đắp thâm hụt ngân sách, nhà nước phải phát hànhthêm một số lượng tiền giấy để trang trải

Thứ hai, do mất cân đối hàng và tiền Chẳng hạn hiện tượng đầu tưquá mức vào những công trình lớn, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời hạn đầu tưdài, tình trạng bỏ tiền trong nước ra mua một lượng lớn ngoại tệ chuyển vàotrong nước, bằng con đường kiều hối hoặc chi tiêu của khách du lịch, nhưngkhông có lượng hàng hoá tăng thêm cân bằng với lượng tiền đưa ra

Trang 38

Thứ ba, do mở rộng tín dụng quá mức, sự phát triển của tín dụng, làmcông cụ cho lưu thông và trao đổi không phải chỉ có tiền giấy, mà còn cócác công cụ tín dụng, các loại tiền tín dụng khác như séc, các thẻ tín dụngdưới nhiều hình thức Tiền tín dụng gắn với khả năng tạo tiền của các ngânhàng thương mại làm tăng lượng tiền trong lưu thông vượt quá lượng tiềncần thiết, làm cho tiền bị mất giá.

Thứ tư, do sản xuất tăng chậm, nên cung nhỏ hơn cầu, làm cho giá cảtăng lên

Ngày nay, lý thuyết kinh tế học hiện đại cho rằng, lạm phát còn docầu kéo và do chi phí đẩy Khi cầu của xã hội tăng mạnh, ban đầu sự tănglên của cầu dẫn tới sự tăng lên của cung, nhưng khi cung đẵ đạt tới giới hạn,tới sản lượng tiềm năng, khi đó sự tăng lên của cầu không dẫn tới sự tăngthêm của sản lượng, mà dẫn tới sự tăng giá, dẫn tới lạm phát Đó là lạm phát

do cầu kéo Còn khi có cú sốc về phía cung, giá cả các yếu tố sản xuất tăngvọt (như cuộc khủng hoảng dầu lửa thế giới năm1973), làm cho chi phí sảnxuất và giá cả hàng hoá tăng vọt Đây được xem là lạm phát do chi phí đẩy Lạm phát gây ra hậu quả kinh tế xã hội phức tạp: giá cả hàng hoá tănglên, nhưng giá cả hàng hoá khác nhau lại không tăng lên theo cùng một tỷ

lệ Điều đó phá hoại các quan hệ kinh tế, phá huỷ các quan hệ hạch toánkinh tế, người sản xuất khó bảo toàn vốn kinh doanh, không muốn bỏ vốnđầu tư Lạm phát dẫn đến phân phối lại thu nhập và tài sản có lợi cho ngườinắm giữ hàng hoá, thiệt hại cho người có thu nhập và nắm giữ tài sản bằngtiền, có lợi cho người đi vay thiệt hại cho người cho vay, khuyến khích đầu

cơ hàng hoá, cản trở sản xuất kinh doanh

Lạm phát là hiện tượng gây nhiều tác động tiêu cực tới kinh tế và xãhội, vì vậy chống lạm phát được xem là một trong những mục tiêu hàng đầucủa các nước trên thế giới Để ổn định kinh tế vĩ mô, để chống lạm phát, cầnphải tìm hiểu đúng nguyên nhân của lạm phát để có những giải pháp thíchhợp Những biện pháp chủ yếu được sử dụng để chống lạm phát như: kiểmsoát giá cả, tiền lương; kiểm soát việc phát hành tiền vào trong lưu thông; ápdụng chính sách thuế thu nhập có hiệu quả để điều tiết phần thu nhập giữanhững người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp; phát triểnsản xuất để tăng cung hàng hoá

IV THỊ TRƯỜNG

1 Khái niệm

Sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nhất định thì thịtrường xuất hiện Thị trường được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau

Trang 39

Dưới góc độ Kinh tế chính trị, Thị trường là tổng hoà các quan hệ

mua bán, do những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội quy định Thị trườngcòn được hiểu là lĩnh vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tếthường xuyên cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hoá, dịch vụ vàsản lượng

Thị trường có nhiều loại, tuỳ theo mục đích và tiêu chuẩn để phânloại:

Theo đối tượng giao dịch, mua bán, thị trường được phân chia theotừng loại hàng hoá và dịch vụ như thị trường lúa gạo, thị trường dầu mỏ, thịtrường ngoại tệ, thị trường chứng khoán

Theo ý nghĩa và vai trò của các đối tượng mua - bán, giao dịch, có thịtrường các yếu tố sản xuất bao gồm thị trường tư liệu sản xuất, thị trườngsức lao động, thị trường vốn, thị trường công nghệ và thị trường tư liệu tiêudùng

Theo tính chất và cơ chế vận hành, có thị trường tự do, thị trườngcạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, thị trường độcquyền cạnh tranh, thị trường cạnh tranh độc quyền, thị trường tự do có điềutiết của chính phủ

Theo quy mô và phạm vi các quan hệ kinh tế, có thị trường địaphương, thị trường khu vực, thị trường trong nước và nước ngoài, thị trườngquốc gia và quốc tế

Lịch sử cho thấy, thị trường phát triển cùng với sự phát triển của sảnxuất và trao đổi hàng hoá Sản xuất hàng hoá càng phát triển, sản xuất racàng nhiều loại hàng hoá và dịch vụ thì càng mở rộng thị trường cho cáchàng hoá và dịch vụ ấy, thị trường đã phát triển từ thị trường sản phẩm, thịtrường các tư liệu tiêu dùng tới thị trường tư liệu sản xuất, thị trường sức laođộng, thị trường vốn, thị trường chứng khoán Quy mô các quan hệ kinh tế

mở rộng thì thị trường cũng phát triển: từ thị trường địa phương, khu vực tớithị trường quốc gia, thị trường liên quốc gia và thị trường thế giới

2 Các chức năng chủ yếu của thị trường

- Thực hiện giá trị hàng hoá Trong chức năng này, thị trường là nơi

giá trị hàng hoá có thể được thực hiện hoặc không được thực hiện; có thểthực hiện cao hơn hoặc bằng và thấp hơn giá trị hàng hoá trong sản xuất.Chức năng này gắn với mục đích của sản xuất và khách hàng giữ vai tròquyết định đối với người sản xuất Sản xuất hàng hoá là việc riêng của từngngười có tính độc lập tương đối với người sản xuất khác Nhưng vấn đề mấuchốt là ở chỗ hàng hoá của họ có đáp ứng nhu cầu xã hội, thị hiếu người tiêudùng về chất lượng, hình thức, quy cách hay không? Chi phí để sản xuất

Trang 40

hàng hoá có được xã hội chấp nhận hay không, nghĩa là giá trị của hàng hoá

có được thừa nhận hay không? Chỉ có trên thị trường và thông qua thịtrường các vấn đề trên mới được xác định

Khi sản phẩm tiêu thụ được (bán được) nghĩa là công dụng của nóđược xã hội thừa nhận Điều đó cũng có nghĩa là hao phí lao động để sảnxuất ra hàng hoá được xã hội thừa nhận Ngược lại, nếu hàng hoá không bánđược nghĩa là hoặc do công dụng của hàng hoá không được thừa nhận (chấtlượng kém, quy cách, mẫu mã không thích hợp, mốt lạc hậu, cung lớn hơncầu ) hoặc hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá lớn hơn mức trungbình của xã hội (giá quá đắt) không được xã hội thừa nhận

Trên thị trường, người sản xuất biết được các đối thủ cạnh tranh của

họ và để giành ưu thế trong cạnh tranh, họ phải cải tiến chất lượng, giảm chiphí sản xuất, đảm bảo chữ “tín” với khách hàng

- Cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng Thị trường

chỉ rõ những biến động về nhu cầu xã hội, số lượng, giá cả, cơ cấu và xuhướng thay đổi của nhu cầu các loại hàng hoá, dịch vụ Đó là những thôngtin cực kỳ quan trọng đối với người sản xuất hàng hoá, giúp họ điều chỉnhsản xuất cho phù hợp nhu cầu, thị hiếu, sản xuất hàng hoá theo “mốt” màngười tiêu dùng đòi hỏi

- Kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng Trên thị trường, mọi

hàng hoá đều được bán và mua theo giá cả thị trường Cạnh tranh và cungcầu làm cho giá cả thị trường biến đổi Thông qua sự biến đổi đó, thị trường

có tác dụng kích thích hoặc hạn chế sản xuất đối với người sản xuất; kíchthích hoặc hạn chế tiêu dùng đối với người tiêu dùng

Thông qua các chức năng nói trên, thị trường có vai trò quan trọngđiều tiết hoạt động của các doanh nghiệp và người tiêu dùng; thông qua thịtrường mà Nhà nước có thể điều tiết vĩ mô hoạt động của toàn bộ nền kinh

tế.

3 Quy luật cạnh tranh

Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinhdoanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinhdoanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thực hiện tốt nhất lợi ích của mình

Nền kinh tế hàng hoá có nhiều chủ thể kinh tế khác nhau Mỗi chủ thểkinh tế phải tự trả lời các câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? choai? Mỗi chủ thể kinh tế có lợi ích riêng và họ hành động trước hết vì lợi íchcủa mình Do sự khác biệt về lợi ích, cạnh tranh trên thị trường là tất yếu và

mang tính phổ biến Cạnh tranh là quy luật của sản xuất và trao đổi hàng

hoá

Ngày đăng: 29/06/2014, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w