1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Nghề in và Đồ họa sách thời Nguyễn potx

15 343 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 244,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là cuốn sách Giao lưu văn hóa và quan hệ hữu nghị của nhân dân hai nước Trung - Việt Bắc Kinh, 1957, tác giả Trần Tu Hòa có viết: “vào thế kỷ 3 sau Công Nguyên, người Việt đã dùng gỗ

Trang 1

Nghề in và Đồ họa sách

thời Nguyễn

Trang 2

1 Tìm hiểu nghề in và đồ họa sách ở Việt Nam thời xưa không thể không nhắc đến Lương Nhữ Hộc và nghề làm giấy của tiền nhân ta

Phần Chư công nghệ tổ trong sách Liệt tiên truyện có chép: Hộc người Hồng Lục

huyện Trường Tân lộ Hải Dương Đỗ Thám khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) Làm quan đến chức Đô ngự sử Từng hai lần sang sứ Tầu và học

được cách chế bản in Sứ về, Hộc dạy cho dân Hồng lục và Liễu Tràng (gọi liền là

Hồng - Liễu) Vì vậy dân Hồng - Liễu mới có nghề này Sau Hộc mất, dân lập đền thờ, tôn làm Tổ Sư Triều đình cũng ban Sắc chỉ phong làm Phúc thần

Điều này cần được coi là một sự kiện quan trọng mang ý nghĩa căn bản với cơ sở

pháp lý chính thống khẳng định rằng: có một vị Tổ nghề và làng nghề khắc in mộc bản trong lịch sử ở nước ta Song vẫn có thể cân nhắc suy xét cho thật kỹ thì không có nghĩa là trước đó ở nước ta không có nghề khắc in mộc bản Dầu sao trên thực tế mà nói, sự hoạch định thành Làng nghề hay Phường hội thì lại rất có thể phải từ sau khi Lương Nhữ Hộc đi sứ về nước và đem nghề khắc in mộc bản

truyền dạy cho dân Hồng - Liễu Hơn nữa cho đến nay chúng ta cũng chưa tìm thêm được tư liệu mang tính chất văn kiện lịch sử của Nhà nước phong kiến Việt Nam nào để có thể chứng minh sâu sắc hơn về vấn đề này

2 Vậy còn vấn đế nghề làm giấy?

Mọi người đều biết rõ, giấy là một trong Văn phòng tứ bảo (bút, giấy, mực và nghiên) Giấy thực sự cần thiết không riêng gì đối với các quốc gia sử dụng Văn tự hình khối vuông

Việt Nam là một nước có nền văn hiến lâu đời Nhu cầu ghi chép, sáng tác và chế

định các văn bản thành văn từ trung ương xuống các địa phương đến người có học,

thậm chí đối với dân thường đã trở thành một tất yếu từ ngàn đời nay Do đó nghề làm giấy ở nước ta ắt phải có truyền thống rất lâu đời, như một lẽ không có gì khó

hiểu

Trang 3

Có một tư liệu của người phương Bắc đã ghi nhận sự kiện quan trọng mà ta đặt

thành vấn đề khảo cứu ở trên Đó là cuốn sách Giao lưu văn hóa và quan hệ hữu nghị của nhân dân hai nước Trung - Việt (Bắc Kinh, 1957), tác giả Trần Tu Hòa

có viết: “vào thế kỷ 3 sau Công Nguyên, người Việt đã dùng gỗ mật hương làm thứ giấy bản rất tốt gọi là giấy Mật Hương Loại giấy này vào năm 284 đã được

các thương nhân La Mã mua đến hàng vạn tờ”

Ngoài ra qua các sách như Thập di ký của Vương Gia (thế kỷ IV), Vân đài loại ngữ (phần Âm Tự Loại), Phủ Biên Tạp Lục (phần Vật phẩm phong tục) của Lê

Quý Đôn, cùng với một số chi tiết ghi trong các bộ sử lớn đều hé mở cho biết về

những địa danh sản xuất của các loại giấy Đó là các làng xung quanh khu vực Bưởi - Cầu Giấy như làng Yên (An) Thái, Tây Dương (tên nôm là Cầu Giấy) là hai làng chuyên làm Giấy Lệnh; làng Yên (An) Hoà, Yên (An) Quyết (tên nôm là làng Cót) là hai làng làm giấy thô; làng Hồ Khẩu (gọi nôm là Hồ) thường làm Giấy Moi; làng Động Xá thì làm Giấy Quỳ; làng Trung Nghĩa và Nghĩa Đô lại tập trung vào làm Giấy Sắc Còn một số làng khác ở gần nhau thành Cụm Làng ở các xứ như Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh và cả Bắc Giang), Nghệ - Tĩnh (gồm Nghệ An và

Hà Tĩnh), Thanh Hoa (nay gọi là Thanh Hóa)… cũng đều có làm các loại giấy

Tìm hiểu về chủng loại giấy thời xưa, ta có thể thấy mấy loại như sau:

1 Giấy Bản, thường dùng để viết sách,

2 Giấy Lệnh, được dùng để viết lệnh chỉ,

3 Giấy Nghè, lại chuyên dùng viết sắc phong,

4 Giấy Quỳ, thường được dát vàng quỳ,

5 Giấy Moi, dân chúng thường dùng gói hàng,

6 Giấy Xuề, thường dai, bèn và dùng phất quạt giấy,

Trang 4

7 Giấy Thô, cũng dai và bền Hai thứ giấy Xuề và Thô được dân các làng làm

quạt như Kim Lũ (Lủ) Thanh Đàm (Thanh Trì nay), Lũ Xá (Lủa) Hà Đông,… mua

về làm quạt giấy

8 Giấy Nhũ Tương, dùng để viết đối liễn (câu đối), nền giấy thường có ngân nhũ

điểm xuyết như hoa Mai trông rất đẹp;

9 Giấy Điệp, thường được các làng in khắc tranh dân gian như Hàng Trống (Trinh

Kỳ, nay là Hà Nội), làng Đông Hồ (Hà Bắc), làng Kim Bảng và làng Hoàng Bảng (gọi liền là Kim – Hoàng, còn gọi theo nghề in tranh là làng Tranh Đỏ) rất ưa chuộng

Đấy là chưa kể đến các loại giấy quý thuộc vào hàng thượng phẩm như:

1 Giấy Mật Hương,

2 Giấy Trắc Lý(1),

3 Giấy Hoa Tiên,

4 Giấy Ngự(2)…

Điểm qua các thuyết nói về vấn đề in khắc, có thể thấy như sau:

Theo Trí Văn trong Tìm hiều Kinh Pháp Hoa (đặc san Vu Lan 2, TC Hoằng Pháp,

Hội Phật giáo Sài Gòn, 1973) thì: Suốt từ thế kỉ I đến TK III, đất Luy Lâu đã là một trung tâm Phật giáo và đã từng cho khắc in kinh Phật

Còn theo Mâu Bác (tài liệu Lý hoặc luận), hay qua chùm thư tranh luận giữa Đạo

Cao, Pháp Minh, Lý Miễu(3) thì sẽ có thể hiểu Phật giáo ở nước ta thời Bắc thuộc như thế nào

Trang 5

Nếu án cứ vào ngôn từ trong lá thư của Đàm Thiên gửi Tùy Văn Đế nói về việc in khắc các bộ kinh ở Giao Châu cơ hồ ít chứng liệu để ta có một ý niệm tự hào về

lịch sử ngành in nước nhà Vì thế muốn đi đến một nhận định khoa học lại là điều

phải hết sức dè dặt Ta biết, Trung Quốc vào đầu thế kỷ II, Thái Luân mới cải tiến phương pháp làm giấy Mãi tới trước sau thế kỷ VIII, họ mới phát minh ra công nghệ in ván khắc Vì thế thuyết nói trên là không đích thực Còn công nghệ khắc

in sách ở ta thì qua các bộ sử lớn ít nhiều đều có đề cập đến, nhất là vào hai thời đại Lý - Trần Khi mà Phật giáo đang được sùng thượng từ chốn triều trung râ đến ngoài thôn dã, thì triều đình đã biết lợi dụng cho san khắc nhiều lần bộ Đại Tạng kinh thỉnh được từ Trung Quốc về, rồi phổ biến cho các tự viện trong nước Nhưng tất cả những gì chúng ta đã có được vào giai đoạn này đều đã bị Minh Thành Tổ ra sắc lệnh hủy diệt tất, nhất là khi Trương Phụ sang nước ta lần thứ hai Suốt một thời kỳ từ lúc Nguyễn Trãi đọc Đaịi cáo Bình Ngô cho đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi vàng với không biết bao nhiêu biến cố thăng trầm, vì nhiều lý do tác hại đã khiến cho sách vở của nước ta mất mát nhiều Theo thống kê ban đầu thì 70% số sách còn lại thuộc di sản Hán Nôm lại là sách chép tay, còn các sách in mà

có niên đại sớm nhất chỉ được tính vào thời Lê trung hưng trở lại đây, trong đó số sách in vào thời Nguyễn chiếm phần nhiều

Bốn mươi năm đầu của vua Gia Long và Minh Mạng là thời kỳ vàng son trong sự trì trệ chung của thế cuộc nhà Nguyễn cho dù cũng có những thành công ghi nhận

về các mặt hành chính, kinh tế, văn hóa… Song do bản chất lạc hậu, nền tàng tư tưởng bảo thú, cổ hủ, nằm trong khuôn sáo Nho giáo, bấy giờ chỉ còn là những công thức ràng buộc chết cứng mà thôi Còn về phương diện Phật giáo nhìn ở

không gian các làng xã và hệ Tam giáo mà lâu nay người ta vẫn gọi là “Tam giáo đồng nguyên”, theo chúng tôi thì có lẽ nên bám chặt vào không gian mà nó thực

hiện cũng như khả thi lại chỉ đóng khung trong những ngôi chùa hẻo lánh ở trong

các làng xã cụ thể, thì thực chất chỉ là Tam giáo đồng đường, chính bản thân nó

cũng đã nhạt nhẽo đi nhiều chứ không còn là chỗ dựa tinh thần thực sự của giới trí

Trang 6

thức và dân lao động Người ta có đến những nơi ấy hành hương thì cũng chỉ đến trước những bệ thờ ba hình tượng: Khổng Tử, Thích Ca và Lão Tử, chứ không được trao cho một chất bổ dưỡng nào được gọi là hệ thống tư tưởng…

Nếu như công nghệ xuất bản sách ở Trung Quốc hưng thịnh nhất vào các đời Tống – Minh, thì ở Việt Nam đỉnh cao đó lại được đúc kết ở triều đại cuối cùng và là vương triều phong kiến Nguyễn Dẫu có coi đó lầ sự cố gắng đi nữa thì vẫn không khỏi tỏ rõ sự cực kỳ chậm trễ so với các nước trong khu vực chứ chưa kể đến các phương trời khác

Về sách vở và cơ sở in thời Nguyễn, thì theo thống kê của Mai Hồng và Nguyễn

Hữu Mùi thì ở nước ta thời này có khoảng 318 “nhà in”(4), đại bộ phận đều mang

niên đại Nguyễn Có một số sách gắn với vài cơ sở in có tiếng và tuổi thọ khá lâu như Phường in Hồng - Liễu 211 tuổi (1683-1904), Đa Bảo Tự 216 tuổi (1665-1881), Vinh Khánh Tự 157 tuổi (1750-1907), Đoan Nghiêm Tự 216 tuổi (1763-1903), Quốc Tử Giám 89 tuổi (1820-1909), Liễu Văn Đường 91 tuổi (1834-1925)…

Việc in sách còn gắn đến một số nhân vật khởi xướng phục hưng công nghệ in khắc trong giai đoạn này như: Hòa Thượng Phúc Điền (chùa Liên Phái), Trần Công Hiến (Hải Học Đường), Kiếu Oánh Mậu (Áng Hiên Hiệu), Trương Đăng Quế, Cao Xuân Dục…

Chưa bao giờ nghề in phát triển nở rộ như ở giai đoạn này Xét về tính chất học thuật cùng nội dung các sách được in thì thấy liên quan đến khá nhiều vấn đề, từ tôn giáo, pháp chế, chính trị, xã hội, giáo dục, y tế, văn học, sử học đến nghệ thuật Sách in ra được chia theo: Tạng (Phật điển) hoặc theo các Bộ: Kinh, Sử, Tử, Tập,

Cử nghệ… và đều có lưu trữ trong các thư viện lớn thời Nguyễn như; Thư viện Tụ Khuê (1802-1840), Thư viện Quốc Sử Quán (1814), Thư viện Nội Các, Thư viện Học viện Viễn Đông Bác Cổ (Ecole francaised’ Extrême – Orient), thậm chí cả

Trang 7

thư viện gia đình như của nhà Lê Nguyên Trung (1846)(5) Ngoài ra phải kể đến các thư viện và những nơi tàng bản thuộc các tổ đình quan trọng như chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang), Bổ Đà (Bắc Ninh), Vĩnh Khánh (Hải Dương), Bích Động (Ninh Bình), Liên Phái, Bà Đá, Hoằng Ân và đền Ngọc Sơn (Hà Nội) (vì Ngọc Sơn trước khi chuyển thành Đền vốn là Chùa) Đấy là chưa nhắc nhở đến một số nơi khác cũng có khắc ván in và tự in sách vở, ví dụ: chùa Đông Bộ Đầu (Vạn Điểm – Hà Tây) chùa Kim Hoàng (Hoài Đức – Hà Tây), chùa Quang Minh (Đồng Lao – Hà Tây)

Phân hoạch các đầu sách được khắc in ta có thể xếp thành 3 khu vực: 1 – Do triều đình phong kiến tổ chức và quản lý 2 - Do Chùa, Đình, Đền, Quán, Miếu tiến hành 3 – Do các Phường Hội, tổ chức Tư nhân đảm nhiệm

Sự ưu viện về tài chính đã giúp cho các cơ sở do Nhà nước phong kiến quản lý

tiến hành in các bộ sách đồ sộ và có giá trị điển hình như các bộ: Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam liệt truyện, Đăng khoa lục v.v… đều do Quốc sử quán đứng ra in khắc Còn các Kinh sách thuộc phạm vi

nhà chùa, đình, đền, quán, miếu, in ấn thì tính chất căn bản thường đi liền với những vấn đề liên quan tới tôn giáo Điều này hoàn toàn không có nghĩa là Đạo giáo, Phật giáo không hề khắc in các đầu sách liên đới đến những vấn đề khác

Hiện tượng điển hình là bộ sách Hải Thượng y tông tâm lĩnh của Lê Hữu Trác

được khắc in ngay tại Chùa Đồng Nhân (Bắc Ninh) Nhiều ván in các bộ kinh lớn hiện vẫn còn được tàng bản ở các Chùa như Vĩnh Khánh, Bổ Đà, Dư Hàng, Bà Đá, Liên Phái, Bích Động… Cũng có nơi chỉ in 1, 2 đầu sách Nhưng cũng có nơi như Đền Ngọc Sơn in hàng loạt sách, cho nên mới có cả một quyển thư mục sách do bản Đền in ra Đủ thấy rõ khối lượng sách Tôn giáo được in ra vào giai đoạn này nhiều thế nào!

Mảng sách thuộc khu vực tư nhân tổ chức, phải nhắc đến 2 Phường in Hồng - Liễu (Hải Dương), sự kỳ cựu về tay nghề của họ khiến cho họ đã lưu tên tuổi ở hầu hết

Trang 8

các bộ sách thuộc mọi khu vực quản lý Sự đóng góp không nhỏ bởi những Hội chủ Hưng công và những Hưng công Tín thí đều là những tư nhân trực tiếp bỏ tiền

lo liệu công việc khắc và in Không ít những bộ sách được thực hiện bởi những Hội chủ Hưng công có tước vị ở chốn triều trung Sự lỏng lẻo về vương quyền cùng với sự biến chuyển dữ dội của xã hội Việt Nam và cuối thế kỷ XVIII đầu thế

kỷ XX đã khiến cho nhu cầu về sách vở và các tri thức khoa học trở nên thiết yếu hơn bao giờ, thúc đẩy hàng loạt những Hiệu, Đường, Trai, Lâu ra đời, báo hiệu

một thời kỳ mới của nghề in nước ta, đồng thời kéo theo sự lụi tàn “dối già” của nền Nho học nước nhà, song song với tình trạng “vứt bút lông đi…”! Dù thế nào

đi nữa thì thời này ở ta cũng đã có nhiều “nhà in” tương đối có tiếng như: Quan

Văn Đường, Liễu Văn Đường, Áng Hiên Hiệu (Hà Nội)…, Hải Học Đường, Hướng Thiện Đường (Hải Dương), Ninh Phúc Đường (Hà Nam Ninh), nhà in Đắc Lập (Huế) v.v… đã đáp ứng đầy đủ những đầu sách theo đơn đặt hàng Bên cạnh những tác phẩm in ra có thể gọi là Thiện bản, Chân bản, không ít những tác phẩm

cạnh tranh mà ở đó thiếu sự khảo đính dẫn đến tình trạng chữ tác đánh thành chữ

tộ, chữ ngộ đánh thành chữ quá…

Diễn trình công việc để ra được một cuốn sách là cả một quá trình rất phức tạp và tốn kém Công việc này chỉ được thực hiện bởi những người có uy tín thế lực, có tiền của và lòng nhiệt thành Nhưng làm thế nào để có được một cuốn sách mà ở

đó có đồ hình đẹp và chữ nghĩa nghiêm cẩn lại do sự quyết định của họa công (thợ vẽ) và kinh sinh nhân (thợ viết chữ)

Đi sâu vào kiểu thức sách ở nước ta thời kỳ này thì thấy có hai loại: 1- Loại Kinh xếp và 2- Loại sách đóng gáy

Sự triệt để trong cách trình bày một trang sách đã được người Trung Quốc chuẩn hóa từ lâu đời thành truyền thống, như: Biên lan (viền trang), Thư nhĩ (tai sách), Bản tâm (lòng sách), Ngư vĩ (đuôi cá)(6)… Ý thức bố cục các loại sách có đồ hình minh họa theo các dạng: Thượng đồ hạ văn, Nhất thư nhất họa, Trừu đồ(7) hay là

Trang 9

dạng Thượng phong đồ mục lưỡng bàng liên cú (trên có đề tên tranh, hai bên câu đối) cũng được chuyển dịch áp dụng triệt để trong các loại sách Hán Nôm ở nước

ta Những Tổ chức, Thư tứ, Thị phường, Hội in khắc sách ở nước ta thì có cả nhưng để xây dựng thành một phong cách riêng cho từng dòng, từng trường phái

in khắc thì lại rất mờ nhạt Thông qua Tự dạng (dạng chữ), cách trình bày, Đồ hình minh họa và nội dung sách cũng nói nên được sách thuộc vào loại bản nào trong các loại sách sau đây: 1- Tân san, 2- Tân tục, 3- Hậu bổ và 4- Trùng thuyên Những công đoạn khắc in sách được phân việc một cách cụ thể từ người viết chữ đến thợ khắc ván, đôi khi cần có cả thợ vẽ, cuối cùng mới đến người in đóng Thợ khắc ván Hồng Liễu trước thời Nguyễn không ít người có khả năng kiêm tất cả các công việc từ viết, vẽ đến khắc in Xét cho cùng thì dù là sách Nho học hay Tôn giáo, sách thuộc phạm vi quản lý nào đi chăng nữa thì cũng do đôi bàn tay vàng của người thợ khắc mà ra cả Bởi lẽ họ chẳng thuộc quyền quản lý của ai cả! Ai trưng dụng! Ai thuê mướn? Ai trả tiền xứng đáng thì bấy giờ họ làm Như vậy đấy!

Nếu như ở cuối thời Lê, triều đình ra sắc lệnh cấm dân chúng dùng gỗ làm ván khắc kinh kệ của Phật giáo, Lão giáo hoặc thơ văn trái với quan điểm chính thống của triều đình, thì sang đến đời Nguyễn, vào năm 1820, việc in ấn lại được tập trung ở kinh đô Huế, các ván in ở ngoài Bắc đều phải chuyển cả về Văn miếu Huế

Ai muốn in gì thì phải làm đơn từ, cùng giấy mực gửi lên cho Sử quán xem xét

mới được Như thế chứng tỏ ở đây ý thức tàng bản đồng nghĩa với việc giữ bản quyền và tập trung quản lý không cho phép khắc in tràn lan Điều này trước đó đã

khá lâu vốn chỉ xuất hiện trong các Tự viện và Đạo quán

Như trên đã nói, đỉnh cao công nghệ khắc in sách ở Trung Hoa phát triển rực rỡ và thời Tống, thời Minh mà một trong những người cực lực cổ suý và đề xướng tính

năng và tác dụng của Đồ và Tịch, tức là tranh và sách hay hình và chữ, là Trịnh Tiều(8) Cổ nhân sở dĩ nói Đồ là chỉ ngoài những bản còn gọi là bức vẽ bằng tay

Trang 10

ra còn lại phiếm chỉ những tranh khắc mộc bản Xét về cương vực thì Trung Hoa

và Việt Nam phân minh Nam, Bắc đôi ngả, nhưng văn tự thì lại đã “một thời”

những hàng nghìn năm chung nhất, dĩ nhiên với hệ thống chữ Nôm được sáng tạo, cũng vẫn không tách hẳn hình thể chữ khối vuông và các bộ Thủ của văn tự Hán, cho nên những ảnh hưởng vốn có từ trước trong quá trình tiếp xúc văn hóa, ngôn ngữ và văn tự vẫn kéo dài cho đến thời Nguyễn cũng là một điều không tránh khỏi

Vấn đề cần phải được phân giải tiếp ở đây là mảng Tranh khắc mộc bản trong các sách chữ Hán

Người xưa thường nói: “Khán đồ thực tự” (xem tranh biết được chữ) Qua đây đủ biết công năng giáo dục của Đồ hình minh họa sách lớn như thế nào đối với người

mới thâm nhập sách vở, đi sâu vào tri thức Lại nói như cách nói của Trịnh Chấn Đạc(9): “Một bức tranh minh họa đẹp, cũng giống như một áng văn trác tuyệt, khiến cho người xem như đang đứng ở trong cảnh” Từ mối tương thông, tương hỗ

giữa Tranh và Chữ, những người thợ khắc ở Thư phường Kiến An – Phúc Kiến (Trung Quốc) đã độc sáng ra cách trình bày theo lối Thượng đồ hạ văn và Nhất thư nhất họa, đã có ảnh hưởng lớn đến bố cục một tay sách ở Việt Nam sau này

Vào nửa cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII với việc Thái tể Tuyên Quận Công là

Trịnh Quán đã cho khắc bộ sách Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, theo

lối bố cục Thượng đồ hạ văn, có thể tạm coi đây là một trong những cuốn sách sơ khai thuộc lối bố cục này còn lưu giữ đên ngày nay (xin xem văn bản photocopy hiện có tại TV Viện NC Hán Nôm, 183 Đặng Tiến Đông, Đống Đa – Hà Nội) Đến năm Minh Mạng II (1821), Tì Khưu Tính Tình ở chùa Thiên Hòa (Huế) đã

cho khắc in 2 bộ sách: Diệm khẩu Du già tập yếu thí thực khoa nghi và Phật thuyết cứu bạt Diệm Khẩu ngạ quỷ đà la ni kinh, đều những sách Phật giáo tiêu

biểu đại diện cho lối trình bày trên ở thời nhà Nguyễn Sang thời Minh Mạng 13

(1832), Sa di Phổ Hòa ở chùa Bảo Quang đã cho khắc in bộ Như Lai ứng hiện đồ theo lối Nhất thư nhất họa có tính liên hoàn hoành tráng thật tinh xảo về cách trình

Ngày đăng: 28/06/2014, 20:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w