Đặc biệt trong bốicảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng của Việt Nam kể từkhi sau thời kỳ đổi mới năm 1986, khi mà các khu công nghiệp, chế xuất,khu kinh tế được phát tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA DU LỊCH
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: Tiềm năng hiện trạng định hướng phát triển khu du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà – thành phố Hải Phòng
Giang viên hướng dẫn: Ths: Trần Dũng Hải
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Liên
Lớp : DL17A
Khoa : Văn hóa Du lịch
Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2012
Trang 2Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU
A NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Lí do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
1.3 Khu bảo tồn tự nhiên
1.4 Vườn quốc gia
1.5 Khu dự trữ sinh quyển
2 Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái
Chương 2 Thực trạng, tiềm năng khu du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà
1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, lịch sủ văn hóa Cát Bà1.1 Điều kiện tự nhiên
1.6 Phương tiện giao thông
2 Những tiềm năng du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà
2.1 Vị trí địa lí
2.2 Hệ động thực vật ở Vườn quốc gia
2.3 Cảnh quan thiên nhiên
2.4 Dịch vụ giải trí nghỉ dưỡng
2.5 Văn hóa lịch sử, lễ hội truyền thống
2.6 Âm thực
2.7 Các loại hình du lịch trên đảo
3 Thực trạng tổ chức hoạt động du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà
Trang 33.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Vườn quốc gia Cát Bà
3.2 Các phân khu chức năng của Vườn quốc gia Cát Bà
3.3 Thực trạng về du lịch sinh thái Vườn quốc gia Cát Bà
3.4 Những thuận lợi và khó khăn khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia Cát Bà3.5 Cơ hội và thách thức
3.6 Dự báo sức chịu tải của vườn quốc gia
Chương 3 Định hướng phát triển du lịch sinh thái Cát Bà
1 Đối với khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia Cát Bà
2 Đối với chính quyền các cấp
3 Đối với cư dân địa phương
Trang 4Lời mở đầu
Du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng ngày nay đã và đang pháttriển nhanh chóng như một trào lưu tại nhiều quốc gia trên thế giới nóichung và Việt Nam nói riêng Du lịch sinh thái ngày càng thu hút được sựquan tâm rộng rãi của các tầng lớp dân cư trong xã hội Đặc biệt trong bốicảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng của Việt Nam kể từkhi sau thời kỳ đổi mới năm 1986, khi mà các khu công nghiệp, chế xuất,khu kinh tế được phát triển ồ ạt, dân số không ngừng gia tăng, đô thị hóa vàtập trung dân cư với mật độ dân cư cao, tình trạng ô nhiễm môi trường diễn
ra ngày càng nghiêm trọng thì việc tìm về với tự nhiên, thăm quan tại nhữngkhu du lịch đã trở thành nhu cầu tất yếu của con người
Du lịch sinh thái đang có chiều hướng phát triển và trở thành một bộphận có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất về tỷ trọng trong ngành du lịch củaViệt Nam Thực tế là, những địa phương nào còn giữ nhiều khu thiên nhiên,khu bảo tồn, ít bị xâm hại bởi quá trình phát triển các dự án công nghiệp vàcòn có được sự cân bằng sinh thái thì nơi đó sẽ có tiềm năng phát triển tốt về
du lịch sinh thái và thu hút được nguồn du khách lớn, lâu dài và ổn định, từ
đó có thể mang lại những lợi ích kinh tế to lớn góp phần làm tăng thu nhậpquốc dân
Tuy vậy, từ sự phát triển mạnh mẽ và nhu cầu tăng cao đối với du lịchsinh thái ở Việt Nam trong những năm gần đây thì các khu du lịch sinh thái,khu bảo tồn ở Việt Nam đang đối mặt với nhiều nguy cơ tiềm ẩn từ sự thiếu
ý thức tham gia của khách tham quan trong việc bảo tồn những giá trị vốn cócủa nó và phát triển, và sự yếu kém trong công tác bảo tồn, bảo vệ tàinguyên thiên… Chính sự phát triển ấy, du lịch sinh thái đang tiềm ẩn nhiềunguy cơ và những thách thức về vấn đề môi trường – xã hội Rõ ràng, việcxây dựng và phát triển du lịch sinh thái ở nước ta hiện nay đang có nhiều tồntại và bất cập cần giải quyết để hướng tới sự phát triển bền vững ngành dulịch của Việt Nam Nếu trong những năm tới, ngành du lịch không có nhữngbiện pháp hiệu quả trong công tác bảo tồn, xây dựng các khu du lịch thìnhững giá trị của chúng có thể sẽ biến mất vĩnh viễn, gây thiệt hại lớn đốivới không chỉ riêng Việt Nam mà cả thể giới
Trang 5VQG Cát Bà là nơi có giàu tiềm năng về biển và rừng có thể phát triểnthành trung tâm du lịch của cả nước Tuy nhiên, tiềm năng này chưa đượckhai thác đúng mức, nguồn nhân lực và tài chính còn hạn chế, cơ sở vật chấtchưa đáp ứng được nhu cầu của khách tham quan Đây chính là nhữngnguyên nhân chính khiến VQG Cát Bà chưa phát huy được tiềm năng vốn
có
Để góp phần phát triển du lịch sinh thái của các Vườn quốc gia đem lại hiệuquả cho kinh tế - xã hội địa phương và thực hiện tốt công tác tuyên truyền,
bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực, vấn đề: “Tiềm năng hiện trạng định
hướng phát triển khu du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà – thành phố Hải Phòng” đang trở thành vấn đề bức thiết mà xã hội đặt ra trong bối
cảnh hiện nay
Trang 6A Những vấn đề chung
1 Lí do chọn đề tài
Trong cuộc sống đầy sôi động hiện nay, với sự phát triển như vũ bão củacác ngành kinh tế, đời sống vật chất được nâng lên mạnh mẽ thì nhu cầu đi
du lich, đặc biệt là du lịch về với thiên nhiên lại càng cần thiết và người ta sẽ
đi tìm những điểm du lịch có thể làm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ
Đảo Cát Bà-đảo lớn nhất nằm trong quần thể các đảo trong vịnh Hạ Long, từ lâu được xác định là một trong những điểm du lịch quan trọng nhất của vùng du lich Bắc Bộ Cát Bà được tận hưởng sự ưu đãi của thiên nhiên với nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng Hải đảo Cát Bà bao gồm một hòn đảo chính khá lớn và 366 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau trải ra trên một vùng biển khá rộng đề hình thành nhiều vịnh biển phẳng lặng như Vịnh Cát Bà, Vịnh Lan Hạ, Vịnh Việt Hải và vô vàn những tùng, áng nhỏ hơn Đảo Cát Bà nằm giáp giới của vùng biển Vịnh Hạ Long, nổi tiếng ở phía Bắc và Đông Bắc, ba phía Đông, Nam và Tây Nam đều hướng ra biển Đảo Cát Bà là hòn đảo lớn nhất của cả vùng hải đảo, nằm chếch theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, chiều dài khoảng 25km , chiều ngang trên dưới 10 km với diện tích trên 200km2 Kể từ năm 1994 cho đến nay, hoạt động du lịch ở đảo ngày càng nhộn nhịp lên cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng và cơ
sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch Ngành du lịch ở đây đang chứng tỏ là một ngành kinh tế mũi nhọn Tuy nhiên du lịch đảo Cát Bà vẫn chưa thực sựđem lại hiệu quả kinh tế cao tương xứng với tiềm năng của nó Hơn nữa sự phát triển lộn xộn này đã bắt đầu cho thấy những nguy cơ có tác hại đến môi
trường tự nhiên và xã hội Trước thực tế đó tôi đã chọn đề tài: “Tiềm năng hiện trạng định hướng phát triển khu du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà – thành phố Hải Phòng” làm đề tài tiểu luận cho mình.
2 Mục đích nghiên cứu
* Mục tiêu tổng thể
Xây dựng những giải pháp thích hợp cho phát triển du lịch sinh thái,nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng hợp lý tàinguyên thiên nhiên và phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng địaphương tại khu vực VQG Cát Bà
* Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà
Trang 7- Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát
Bà
- Xây dựng và đề xuất các kế hoạch, chương trình hành động, giải phápphát triển du lịch sinh thái bền vững ở Vườn quốc gia Cát Bà
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu các tiềm năng thế mạnh cho phát triển du lịch sinh thái tạiVườn quốc gia Cát Bà
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch sinh thái đang diễn ra tại khu vựcVQG Cát Bà những xu hướng tham gia du lịch sinh thái của khách du lịchhiện nay
- Tìm hiểu khả năng tham gia hoạt động du lịch sinh thái của người dânđịa phương: làm dịch vụ, cung cấp sản phẩm truyền thống, hướng dẫn dulịch…
- Tìm các giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốcgia Cát Bà
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại Vườn quốc gia Cát Bà - HuyệnCát Hải - Thành phố Hải Phòng
4 Phương pháp nghiên cứu
- Tham vấn chuyên gia: tham vấn những người có chuyên môn sâu và
hiểu biết rộng đã và đang làm trong lĩnh vực du lịch;
- Thu thập số liệu: Thu thập tài liệu thứ cấp, số liệu thống kê, các báo cáonghiên cứu và kết quả nghiên cứu của các dự án bảo tồn, phát triển kinh tế
xã hội, du lịch từ các viện nghiên cứu, trường đại học, VQG Cát Bà, Khu
dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, UBND huyện Cát Hải về: điều kiện tựnhiên và kinh tế xã hội của địa điểm nghiên cứu; Quản lý tài nguyên thiênnhiên và bảo tồn đa dạng sinh học; Các hoạt động liên quan đến du lịch trênđịa bàn nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu một số đối tượng quan trọng baogồm các cán bộ cấp xã, huyện; kết hợp với tham vấn các cán bộ của VQG
Trang 8Cát Bà và những người dân địa phương làm du lịch và tham gia các hoạtđộng du lịch sẽ là kênh thông tin hữu ích;
- Những số liệu, thông tin thu thập được phân tích, tổng hợp nhằm tìmhiểu những đặc trưng cơ bản về giá trị đa dạng sinh học, cảnh quan thiênnhiên, văn hoá, ẩm thực, giải trí và hiện trạng tổ chức, quản lý hoạt động dulịch của Vườn quốc gia Cát Bà
1.2 Du lịch sinh thái
Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịchsinh thái(DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Dulịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bịxáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởngngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng như những biểu thịvăn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này"
Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiếnlược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa nhưsau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dụccao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môitrường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồngđịa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinhthái “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiênlàm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, dungoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đócũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch vớigiới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền
và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bềnvững”
Trang 91.3 Khu bảo tồn thiên nhiên
Khu bảo tồn thiên nhiên là vùng đất hay vùng biển đặc biệt được dành
để bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên,kết hợp với việc bảo vệ các tài nguyên văn hoá và được quản lí bằng phápluật hoặc các phương thức hữu hiệu khác
1.4 Vườn quốc gia
Vườn quốc gia là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quyđịnh pháp luật của chính quyền sở tại
1.5 Khu dự trữ sinh quyển
Khu dự trữ sinh quyển thế giới là những khu vực hệ sinh thái bờ biểnhoặc trên cạn giúp thúc đẩy các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự đa dạngsinh học với việc phát triển bền vững khu vực đó có giá trị nổi bật, đượcquốc tế công nhận
2 Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái
+ Nâng cao hiểu biết cho du khách về môi trường tự nhiên; du khách
có các hoạt động góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường, bản sắc vănhoá
+ Khách DLST chấp nhận điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh tự nhiên vớinhững hạn chế của nó
+ Tạo thêm việc làm và lợi ích cho cộng đồng địa phương
+ Lượng du khách luôn kiểm soát điều hoà
+ Phải đảm bảo lợi ích lâu dài, hài hòa cho tất cả các bên liên quan+ Người hướng dẫn viên và các thành viên tham gia DLST phải cónhận thức cao về môi trường sinh thái, am hiểu về điều kiện tự nhiên, vănhóa, xã hội
Chương 2 Thực trạng khu du lịch sinh thái vườn quốc gia Cát Bà
1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, lịch sử văn hóa Cát Bà
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí Quần đảo Cát Bà
Quần đảo Cát Bà là quần thể gồm 367 đảo trong đó có đảo Cát Bà ở phíaNam Vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh,cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30km, cách thành phố Hạ Longkhoảng 25km
Trang 10Quần đảo có tọa độ 106o 52’ – 107o 07’ kinh độ đông, 20o 42’ – 20o 54’ vĩ
độ bắc Diện tích gần 300km2 Dân số 8.400 người(1996) các đảo nhỏ khác:hòn Các Ông, hòn Các Đuối, hòn Mái, hòn Quai Xanh, hòn Tai Kéo…Cát
Bà còn được gọi là đảo Ngọc là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1969 đảo trênvịnh Hạ Long
Phía Bắc giáp với Vịnh Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh
Phía Tây giáp đảo Cát Hải của thành phố Hải Phòng
Phía Đông và phía Nam là biển Đông
Ở đây có vườn quốc gia Cát Bà được thành lập vào năm 1986 với tổngdiện tích đất tự nhiên của khu dự trữ sinh quyển đảo Cát Bà là 26240hatrong đó diện tích mặt đất đảo là 17040 ha và 9200 ha diện tích mặt nướcbiển
1.1.2 Địa hình
Địa hình đảo Cát Bà là những dạng địa hình karst rất đặc trưng như địa hìnhcare, các dãy núi đá vôi bị chia cắt mạnh mẽ, các khối núi tiến ra biển, ở đâyxảy ra nhiều vụ đổ lở nên bãi biển có nhiều đá tảng lớn nằm đè nên nhau tạo
ra các bãi đá sát biển lớn
Địa hình Cát Bà có hứơng chủ yếu là Tây Bắc – Đông Nam, cao nhất làđỉnh Cao Vọng cao 301m thấp dần xuống phía Đông Nam là các đảo có độcao từ 20 – 30m
Xen giữa các dãy núi cao là các thung lũng kiến tạo Đây là địa hình chắngió đông nam nên ở đây có lượng mưa khá lớn 1800m m /năm
Bề mặt thành tạo chủ yếu ở đây là đá vôi hệ tầng Phố Hàn, có lớp mỏnglớp dày xen kẽ nhau ở giữa là các lớp Silic màu đen Đá vôi hệ tầng Phố Hànkhi bị hòa tan sẽ cho ra nhiều sản phẩm phụ, địa hình karst không điển hình.Nhưng có một số nơi tìm thấy đá vôi thuộc hệ tầng Bắc Sơn là loại đá vôitinh khiết hơn vì vậy mà ở đó dạng địa hình karst rõ nét
Do được thành tạo trên núi đá vôi nhiều tạp chất nên tầng thổ nhưỡng ở đâydày nhưng có lẫn nhiều mảnh đá sắc cạnh, là các sản phẩm phụ không hòatan được của đá vôi Đất ở đây vẫn chủ yếu là đất Feralit Nhưng được pháttriển trên núi đá vôi nên đất màu mỡ hơn ở Đồ Sơn, đất ở đây có thành phần
cơ giới là đất thịt nặng Ở những nơi có đá vôi thuộc hệ tầng Bắc Sơn thìxuất hiện đất terarosa Ở CB5 còn có cả đất phù sa aluvi do một con sôngnhỏ ở gần đó bồi tụ
Ở bãi Cái Bèo một bờ biển hiện đại, ta có thể quan sát thấy khá nhiều vậtliệu hỗn tạp và các bậc thềm biển rất rõ ràng Thành phần vật liệu có rấtnhiều loại khác nhau: các loại sỏi đá vôi, silic, các loại vỏ sò san hô Bờ biểnnày có nhiều vật liệu hỗn tạp như vậy là do nhiều yếu tố tạo nên Sườn núi ởsát bờ biển là sườn đổ lở nên khi mưa xuống sẽ cuốn các vật liệu vụn như
Trang 11sỏi đá vôi và sỏi silic ra bờ biển Bãi Cái Bèo là bãi biển đang bị xói lở nên
đã tạo ra những bern (bậc bãi) Sóng khi đánh vào những bern này lại vứt lênnhững vật liệu thô như vỏ sò, xác san hô và lấy đi những vật liệu vun nhỏhơn Điều đó giải thích tại sao bãi Cái Bèo có khá nhiều vật liệu thô hỗn tạpnhư vậy
Đất ở đảo do được phát triển trên núi đá vôi nên lượng ion ca được tíchlũy tạo nên loại đất có tính bazo hay trung tính tốt cho các thực vật phát triểnphong phú vì vậy thực vật trên đảo phát triển phong phú
Trên đảo còn có vườn quốc gia Cát Bà vườn rộng 15200 ha bao gồm
9800 ha rừng núi và 5400 ha mặt nước biển chiếm trên 50% đảo cát bà.Vùng bảo vệ nghiêm ngặt chiếm 800 ha bao gồm nhiều khu rừng nguyênsinh, phần còn lại là 14400 ha là vùng phục hồi sinh thái Trong vườn còn cónhiều hang động đẹp, trong thời chiến là nơi ẩn náu lí tưởng vùng ven biển
có nhiều vách đá dựng đứng với nhiều dải cát trắng rặng san hô và nhữngáng nước mặn hoặc nước lợ vùng biển trong gianh giới của vườn có độ sâutrung bình 15 – 20 m
Địa hình của vườn quốc gia Cát Bà đa dạng chủ yếu là núi đá vôi tiếpgiáp với biển có dộ cao trung bình 15m bị chia cắt bởi nhiều hang động.Trong vườn có nhiều đảo nhỏ như: Đá Lat, Eo Bùa, Khuản Cao
1.1.3 Khí hậu
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên cácchỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, cũng tương đương như cáckhu vực xung quanh Tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn vàmùa hè thì ít nóng hơn đất liền
Tổng số ngày nắng trong năm giao động từ 150 đến 160 ngày, tháng caonhất có 188 giờ nắng, tháng 5, tháng7
Lượng mưa trung bình 1700 – 1800m m / năm, mùa mưa chủ yếu là rơivào tháng 7 và tháng 8 một năm có 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10): lượng mưa trong mùa này chiếm gần80- 90 % tổng lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 7,8,9
- Mùa khô (từ tháng11-tháng 4 năm sau): đầu mùa khô thường hanh, cuốimùa ẩm ướt và có mưa phùn (từ tháng 2 đến tháng 4)
Nhiệt độ trung bình là 25oc – 28oc dao động theo mùa, vào mùa hè có thêlên trên 30oc, vào mùa đông có thể giảm xuống 15oc – 20oc Nhưng có thời
Trang 12điểm cớ thể giảm xuống 10oc khi có gió mùa đông bắc Mùa nóng bắt đầu từtháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Giữa haimùa chênh lệch từ 11-120C.
Độ ẩm trung bình : 85% thấp nhất vào tháng1 là 73%, cao nhất tháng 4đạt 91% Lượng bốc hơi nước hàng năm khoảng 700mm, trong các thángkhô hanh thường xảy ra khô hạn thiếu nước
Sương mù thường xuất hiện vào mùa Đông và mùa xuân từ tháng 12 đếntháng 4 năm sau Thời gian này còn có mưa phùn (20 - 40 ngày/năm) đã làmgiảm đáng kể chế độ khô hạn trong vùng
Dao động thủy triều 3,3 – 3,9m
Độ mặn nước biển từ 0,930% vào mùa mưa – 3,11% vào mùa khô
Gió bão trong vùng, có hai loại gió chính: về mùa khô là gió Đông- Đôngbắc, về mùa mưa là gió Đông, Đông Nam Ngoài ra, bão thường xuất hiện từtháng 6 đến tháng 10, bình quân có 2,5 trận bão/năm Bão thường kéo theomưa lớn gây lụt lội, nhất là trong cá thung, áng Bão kèm theo mưa lớn gâyảnh hưởng nặng đến các hệ thống đê, các khu vực canh tác nuôi trồng thuỷsản
1.2 Tên gọi
Theo truyền thuyết địa phương thì tên gọi “cát bà” còn được gọi là “CácBà” Vì có một thời các bà, các chị ở đây đứng ra lo liệu việc hậu cần chocác ông đánh giặc Ân trên một hòn đảo lân cận – đảo Các Ông Như vậy têngọi “Cát Bà” được đọc chệch từ tên “Các Bà”
1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
1.3.1 Dân cư
Huyện đảo Cát Hải hiện có 10 xã và 2 thị trấn Ngoài cư dân bản địa, dânCát Hải là người cộng đồng muôn phương, thạo nghề sông nước như TháiBinh, Nam Đinh, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hưng Yên,
Hà Tây, Quảng Ninh… Bên cạnh cư dân gốc Việt là cơ bản, trước đây còn
có khá đông người Hoa sinh sống Họ từ mọi miền và các tỉnh ven biển củaTrung Quốc đến định cư tại Cát Bà Sau “sự kiện người Hoa” năm 1978, hầuhết người Hoa rời đảo ra đi Để phân bố lại lực lượng trên địa bàn, đáp ứngkịp thời nhu cầu sản xuất và bảo vệ đảo, một bộ phận cư dân Đồ Sơn, TiênLãng, An Lão được bổ sung cho huyện đảo Cát Hải, nhân dân xã Cao Minh
Trang 13bên Cát Hải được bố trí chuyển cư hẳn sang Cát Bà, do đặc điểm địa hình,nên việc phân bố dân cư của huyện không đồng đều, có nơi dân sống tậptrung như thị trấn Cát Bà, thị trấn Cát Hải, xã Nghĩa Lộ; có nơi dân cư sốngthưa thớt, biệt lập như Gia Luận, Việt Hải.
Dân cư đông là nguồn nhân lực chính để phát triển du lịch, tuy nhiên nócũng kéo theo nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường
1.3.2 Kinh tế
Theo báo cáo của UBND huyện Cát Hải, 10 tháng qua, tốc độ tăngtrưởng kinh tế đạt 16,5%; tổng thu ngân sách 39,882 tỷ đồng, vượt 58% sovới kế hoạch thành phố giao; số lượng khách du lịch đến Cát Bà đạt 1,056triệu lượt người, trong đó khách nước ngoài 300 nghìn lượt người Một sốnhà đầu tư lớn tuy được thành phố chấp thuận đầu tư hoặc giao đất để thựchiện dự án tại đảo Cát Bà, nhưng tiến độ thực hiện của nhiều dự án rất chậm,ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, dịch vụ của ngành du lịch và pháttriển kinh tế - xã hội của huyện, cản trở nhu cầu đầu tư vào địa bàn Về quyhoạch phát triển nuôi trồng thủy sản, huyện lập tổ công tác triển khai quyhoạch, sắp xếp, phát triển nuôi trồng thủy, hải sản trên các vụng, vịnh; điềutra khảo sát chi tiết thực trạng các ô lồng nuôi, nghề nuôi, số lao động đang
sử dụng; tổ chức vẽ sơ đồ 2 vị trí neo đậu bè nuôi trồng thủy sản để thí điểmsắp xếp Theo đó, từng bước giảm dần số ô lồng nuôi để đến năm 2012 giảm50% số ô lồng so với năm 2010
1.4 Lịch sử đảo Cát Bà
Tương truyền xưa kia tên đảo là Các Bà Đây được coi là hậu phươngcho các ông theo Thánh Giong chống giặc Ân ở thị trấn Cát Bà hiện naycòn có đền Các Bà Trên các bản đồ hành chính thời pháp thuộc vẫn còn ghitên là Các Bà
Cát Bà là huyện cũ của thành phó Hải Phòng nằm trên đảo Cát Bà thànhlập ngày 22/7/1957 gồm thị trấn cát bà và nhiều xã Gia Luân, Hiền Hào,Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đàm Trước năm 1945 là tổng Hà Sen thuộchuyện Cát Hải tỉnh Quảng Yên Khi đó thị trấn Cát Bà từng là phố Cát Bàrồi đại lí Cát Bà( thuộc tổng Hà Sen sau là thị xã thuộc tỉnh Quảng Yên Saunữa thuộc khu Hồng Quảng đén 5/6/1956 sát nhập vào thành phố Hải Phòngtheo nghị định số 318 – TTg của thủ tướng chính phủ ngày 22/7/1957 thì thị
xã Cát Bà đổi thành thị trấn Cát Bà
Ngày 11/3/1977 huyện cát bà nhập với huyện Cát Hải thành huyện CátHải Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng nằm ở độ cao trung bình 70m
so với mực nước biển, cư dân sống trên đảo chủ yếu là người Kinh Nơi đây
đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới
Trang 141.5 Cơ sở vật chất kĩ thuật
Trên đảo đã xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật: hệ thống nhàhàng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí…phục vụ và đáp ứng tốt nhu cầu
du lịch của du khách
1 6 Phương tiện giao thông
Ngày nay, việc phát triển đa dạng các dịch vụ du lịch nên khách dulịch có thể đến với Cát Bà bằng nhiều cách khác nhau Thuận tiện cho dukhách ra thăm đảo, góp phần phát triển du lịch của huyện Đảo và thành phố.Hiện du khách có thể lựa chọn cho mình 1 trong 3 cách : Cách thứ nhất đibằng đường bộ thông qua tuyến đường xuyên đảo Đình Vũ – Cát Hải – Cát
Bà qua 2 phà Đình Vũ, phà Gót
Cách này quý khách có thể chủ động phương tiện của mình hoặc hành trìnhvới tuyến liên vận ôtô - tàu cao tốc – ôtô ôtô đón khách tại bến Bính dichuyển tới Đình vũ, đi tàu tới thẳng Cái Viềng rồi lại tiếp tục hành trìnhbằng ôtô tới thị trấn Cát Bà
Gần đây nhu cầu đi lại ngày càng cao của người dân cũng như để phục vụcho nhu cầu của du khách trong mùa du lịch, khách sạn Các Hoàng Tử đãđầu tư và khai thác tuyến liên vận mới tàu cao tốc – ôtô, tàu cao tốc đưa quýkhách từ bến Bính đến thẳng Đình Vũ và về TT Cát Bà bằng ôtô Hiện tại nhiều cty vận tải du lịch đã và đang khai thác có hiệu quả trên tuyến đườngxuyên đảo này
2 Những tiềm năng du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà
Chính vì vậy, khách thăm quan du lịch từ nơi khác đến, đặc biệt là nhữngthành phố khu vực phía Bắc sẽ không tốn quá nhiều thời gian để có thể cónhững chuyến du lịch thưởng ngoạn thiên nhiên tại VQG Cát Bà, đến VQGCát Bà với hai sự lựa chọn Đi bằng đường thủy với tàu cao tốc từ Bến Bính(Hải Phòng) mất khoảng 45 phút Đi qua vịnh Hạ Long với cảnh quan thiên
Trang 15nhiên hùng vĩ, tuyệt đẹp, đây di sản thiên nhiên thế giới được tổ chứcUNESCO công nhận, đến vịnh Lan Hạ tuy nhỏ hơn nhưng có nhiều đảo đávôi, xếp đan xen gần nhau trông rất hùng vĩ Nếu đi bằng đường bộ, xe ô tô
từ Hải Phòng đến bến cảng Ðình Vũ, theo tầu cao tốc sang bến Cát Hải rồixuyên qua VQG Cát Bà bằng ô tô trên đường dài 31 km (đường nhựa)
2.2 Hệ thống sinh vật
Vườn quốc gia Cát Bà là nơi hội tụ nhiều hệ sinh thái (HST) khác nhaugồm: HST rừng ngập mặn, HST rừng trên núi đá vôi, HST biển với các rặngsan hô,… Có một hệ động, thực vật đa dạng, gồm 2.320 loài, trong đó có
282 loài động vật sống trong rừng, 538 loài động vật sống ở đáy biển, 196loài cá biển, 771 loài thực vật trên cạn, 23 loài thực vật ngập mặn, 75 loàirong biển, 177 loài san hô
Hệ động vật có 20 loài thú, 69 loài chim, 20 loài bò sát và lưỡng cư Đặcbiệt có loài thú mà không có nơi nào có được là voọc đầu trắng (Vọoc CátBà) và một số loài khác được ghi trong Sách đỏ như: Khỉ lông vàng, sơndương và nhiều loài chim đẹp như cao cát, bói cá, hút mật, đầu rìu Ở Cát Bàcũng có chim yến và rùa biển được chăm sóc bảo tồn Hệ thực vật có 1561loài thuộc 495 chi, 149 họ, trong đó có 250 loài cây thuốc Nhiều loài câyquý hiếm cần bảo tồn như chò chỉ, trai lý, lát hoa, kim giao và cọ Bắc Sơn.Đặc biệt là, đảo có hệ sinh thái rừng ngập nước, trên núi đá vôi có cả ao, hồ,suối ngầm, nước ngọt cùng suối nước khoáng có cả khả năng chữa trị bệnh,nhất là thấp khớp
Với sự phong phú về hệ sinh thái, đa dạng về loài đã tạo cho VQG Cát Bà cómột tiềm năng thu hút cho việc phát triển DLST
2.3 Cảnh quan thiên nhiên
Cát Bà là một VQG đặc biệt, với sự kết hợp của nhiều hệ sinh thái (HST)khác nhau: HST rừng thường xanh trên núi đá vôi, HST rừng ngập nước trênnúi cao (Ao Ếch), HST rừng ngập mặn vùng duyên hải, HST vùng biển vớicác rạn san hô gần bờ, hệ thống hang động với đặc trưng riêng biệt là nơi cưtrú của họ nhà Dơi và hệ canh tác nằm giữa các thung lũng như ở Khe Sâuhoặc các khu dân cư
Trong đó, lớn nhất là hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi (khoảng 9800 ha)với thảm thực vật thuộc kiểu rừng nhiệt đới thường xanh và các loại rừng
Trang 16như rừng núi thấp và ven thung lũng, rừng trên núi đá dốc, rừng trên đỉnhnúi cao, rừng ngập nước nội địa (Ao Ếch)
Ngoài đảo chính, quần đảo Cát Bà còn có 366 đảo nhỏ như đảo Đầu Bê,đảo Cát Dứa, đảo Bù Lâu, hòn Ghềnh Hang, hòn Đá Lẻ, hòn Xả Lan, hònGuốc Tiên Nhiều đảo có hình dạng kỳ dị, bờ dảo có nhiều mũi nhô, cunglõm và nhiều bờ vách dốc đứng, chân có ngấn ăn mòn tạo cảm giác kỳ bí,thích thú Đa số các đảo có thềm san hô viền quanh và trên đảo có hồ nướcmặn, đây là một tiềm năng còn nhiều tiềm ẩn chưa được khám phá
Cát Bà có nhiều bãi tắm đặc trưng là sự kín đáo, yên bình và nhiều hangđộng Mỗi hang đều có vẻ đẹp khác nhau, với những nhũ đá rực rỡ sắc màulàm say lòng du khách, như lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh Hoàng hôn trênquần đảo Cát Bà là một cảnh sắc muôn màu Phía chân trời mầu vàng rực,mặt biển có mầu xanh tím sẫm Về phía cảng cá hàng nghìn con tàu neo đậu
đã lên đèn tạo một vùng sao đêm huyền ảo! Thật lý thú du khách sẽ đượcmời vào các quán ăn bồng bềnh trên sóng nước, giăng đèn thâu đêm đónkhách
VQG Cát Bà có hệ thống suối nổi tiếng như: Suối Thuồng Luồng (xãTrân Châu), suối Trung Trang, suối Treo Cơm (khu Đồng Cỏ) Ngoài ra,VQG Cát bà có nguồn nước ao ếch phong phú, các ao ếch là hồ nước thiênnhiên trên núi đá vôi, diện tích khoảng trên 3,6 ha, nước có quanh năm, đạttrên dưới 30cm, nằm giữa khu vực rừng nguyên sinh, Ngoài ra một số ángcũng có nước quanh năm như áng Bèo, áng Bợ, áng Thẳm, áng Vẹm…
2.4 Dịch vụ giải trí nghỉ dưỡng
Ðến Cát Bà, du khách có thể thuê một chiếc xe gắn máy để đi đến bất cứnơi nào, chỗ nghỉ nay đã phát triển khá nhiều Ðẹp nhất là các khách sạn dựalưng vào núi, mặt hướng ra biển Cát Bà có hơn 60 khách sạn, nhà nghỉ vớikhoảng 1.000 phòng tập trung ở phố biển ven mép vịnh Trên hết, sự hấpdẫn của VQG Cát Bà là biển cả Sau một ngày leo núi hay thám hiểm cáchang động, du khách sẽ thấy vô cùng sảng khoái đắm mình trong làn nướctrong xanh, nằm phơi trên bãi cát trắng mịn Cát Bà có nhiều bãi tắm, đặctrưng là sự kín đáo, yên bình
Ðêm đến không gian Cát Bà thật bao la, hùng vĩ, đẹp đến sững sờ Ngủđêm ở đây là một thích thú tuyệt vời, không khí mát dịu, những làn gió nhẹ
Trang 17mang hơi mặn của biển lùa vào rừng cây trên núi đá tạo một âm thanh rì rào,như ru khách vào trong giấc ngủ êm đềm.
2.5 Văn hóa – lịch sử lễ hội truyền thống
Trước đây, vùng đảo núi đá (Cát Bà) từng là hậu cứ của các bà trồng tỉa,hái lượm, cung cấp lương thực thực phẩm cho các ông ở phía trước chốnglại giặc giã, khi chúng tới đánh chiếm đảo Cũng từ trận chiến đấu này đãxuất hiện nhiều nữ tướng dũng cảm nên người đời xưa đã đặt tên cho đảonày là đảo Các Bà rồi sau này gọi lệch đi là đảo Cát Bà Trên mảnh đất củalàng Nghĩa Lộ ngày nay còn tồn tại một ngôi miếu thờ người phụ nữ đã sinh
ra người trai làng dũng cảm Hùng Sơn Hùng Sơn là người đã có công thamgia đánh giặc Ân đời vua Hùng thứ sáu Truyền thuyết về người trai làngdũng cảm Hùng Sơn như một nét nhạc hùng, âm vang tinh thần yêu nướccủa một người dân trên mảnh đất này Ngày nay người ta lấy tên của chàngtrai này đặt tên cho một thôn của Xã Trân Châu Theo người dân kể lại thìtại làng Gia Lộc nay thuộc thị trấn Cát Hải có lệ tế thần biển vào ngày 21tháng giêng Cùng với các trò chơi, với lễ rước nước về đình làng, người tađua thuyền dưới biển Tế lễ như thế, Long Hải Đại Vương, ông thần củanhững người đi biển sẽ phù hộ cho trời yên biển lặng, một năm bội thu tôm
cá Ngày nay Hội được mở ngày 1/4 dương lịch, ngày mà năm 1959, Bác Hồ
về thăm làng cá Cát Bà
Hàng năm, người dân tổ chức hội đua thuyền rồng trên biển, đó là mộtchiếc thuyền thoi dài 11m, rộng 1,5m, đóng bằng thứ gỗ khô, nhẹ và bềnchắc Lòng thuyền có chỗ ngồi cho các tay đua và phía mũi có cái đầu rồngchạm bằng gỗ, sơn son thếp vàng rực rỡ Mỗi thuyền có từ 22 đến 26 người.Khách du lịch cũng có thể tham gia lễ hội này để thương thức cảm giác khác
lạ từ lễ hội này
2.6 Âm thực
Ở Cát Bà có những món ăn đặc sản như: gỏi cá thác, canh chua cá hồng,đặc biệt có tu hài nướng trên bếp than mùi thơm tỏa ngào ngạt Trước đây ởViệt Nam chỉ Cát Bà mới có Tu hài và thường xuất hiện vào tháng 12 là mùasinh sản của chúng Ngày nay con Tu hài được viện nghiên cứu thuỷ sản Bắc
Bộ nhân giống rộng rãi cho ngư dân nuôi bán tự nhiên và có thể cung cấpquanh năm cho các nhà hàng ở khắp Hải Phòng và Cát Bà
Trang 18Ngoài ra Cát Bà còn hấp dẫn bởi các món ăn từ biển với vô số các loài cógiá trị cao như Cá Song, Cá chim, Mực lá hoặc các loài vừa lạ, vừa dân dãlại ngon như, Bàn Mai, Sam, Bề Bề (Hay còn gọi là Bọ ngừa biển) Các đặcsản khác cũng khá thú vị như Cam Gia Luận, gà Liên Minh, khoai Mụt ốcViệt Hải là những sản phẩm của địa phương nổi tiếng khiến cho nhiều dukhách khó quên khi đã được một lần thưởng thức Dê núi cũng được đánhgiá cao, nhiều người nói dê ở Cát Bà ngon hơn các nơi khác.
2.7 Các loại hình du lịch
2.7.1 Du lịch leo núi
Thực tế, các tuyến leo núi tại Cát Bà đã xuất hiện từ hàng chục năm trước bởi các khách du lịch nước ngoài ưa thám hiểm Cách đây hơn 6 năm, một đoàn du lịch thể thao mạo hiểm quốc tế có tên Raid Gouloises gồm 250 vận động viên thuộc 17 nước trên thế giới trong đó có Pháp, Tây Ban Nha, Phần Lan, Mỹ, Đan Mạch đã đến Cát Bà tổ chức các hoạt động leo núi, bơi xuồng khá rầm rộ Nhưng chỉ bắt đầu từ năm 2006, khi công ty du lịch mạo hiểm Slo Pony Việt Nam mở trụ sở tại đây thì hoạt động này mới đi vào chuyên nghiệp